xây dựng hệ thống các biện pháp áp dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực phục vụ chiến lược cải cách tư pháp - Pdf 20


BỘ TƯ PHÁP
VIỆN KHOA HỌC PHÁP LÝ
ĐỀ ÁN KHOA HỌC CẤP BỘ

XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÁC BIỆN PHÁP
ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN NHẰM NÂNG
CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC
PHỤC VỤ CHIẾN LƯỢC CẢI CÁCH TƯ PHÁP

Chủ nhiệm đề án: PGS.TS. Phan Hữu Thư
Thư ký đề án: ThS. Trương Thế Côn
ThS. Trần Minh Tiến
Hoàng Thế Đức
Nguyễn Tuấn Long 8218
Hà Nội - 2010

BÁO CÁO TỔNG THUẬT ĐỀ ÁN
“XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÁC BIỆN PHÁP ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGUỒN
NHÂN LỰC PHỤC VỤ CHIẾN LƯỢC CẢI CÁCH TƯ PHÁP”


3.3.2. Xây dựng kho cơ sở dữ
liệu về đào tạo các chức danh tư
pháp 51
3.3.3. Xây dựng thư viện điện tử và lien kết với các thư viện của
các cơ sở đào tạo pháp luật khác 52
2
3.3.4. Nâng cấp website phục vụ cung cấp thông tin và dịch vụ
hành chính công 54
3.4. Nhóm giải pháp hỗ trợ khai thác sử dụng CNTT 55
3.4.1. Xây dựng hệ thống mạng ổn định, hiệu quả 55
3.4.2. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giảng viên trong việc ứng dụng
CNTT 57
3.4.3. Xây dựng các quy định, chính sách 58
IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 59
4.1. Quản lý Đề án 59
4.2. Triển khai thực hiện 59
4.3. Lộ trình và kinh phí thực hiện Đề án 60
3
MỞ ĐẦU
Công nghệ thông tin (CNTT ) và ứng dụng CNTT được coi là
là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và
phát triển bền vững đất nước. Đảng và Nhà nước ta đã sớm xác định
vai trò then chốt của cách mạng khoa học và kỹ thuật. Trong thời
gian qua, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, nhiều Văn bản quan trọng
về định hướng chiến lược và c
ơ chế, chính sách phát triển CNTT đã
được ban hành: Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 Bộ Chính trị

đức trong sạch, vững mạnh, dũng cảm đấu tranh vì công lý, bảo vệ
pháp chế xã hội chủ nghĩa và Xây dựng Học viện Tư pháp thành
Trung tâm lớn về đào tạo cán bộ tư pháp. Triển khai thực hiện Nghị
quyết số 49-NQ/TW Bộ Tư pháp đã xây dựng nhiều giải pháp tưng
cường năng lực cho Học viện Tư pháp. Một trong những giải pháp đó
là tă
ng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động đào tạo
các chức danh tư pháp.
Mục tiêu của Chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT đến
năm 2020 là tạo lập được môi trường mạng rộng khắp phục vụ đa số
các hoạt động của các cơ quan Chính phủ; Cán bộ công chức có thói
quen làm việc mọi lúc mọi nơi dựa trên nhiều phương tiện khác
nhau; Các dịch vụ hành chính công
đưcợ cung cấp trực tuyến hướng
tới nhu cầu của người dân và phục vụ người dân mọi lúc, mọi nơi.
Như vậy, để đạt được mục tiên trên (trên bình diện công tác đào tạo
các chức danh tư pháp) cần phải nghiên cứu có hệ thống và ứng dụng
mạnh mẽ CNTT, tạo bước chuyển biến căn bản trong việc nâng cao
chất lượng đào tạo các chức danh t
ư pháp đáp ứng yêu cầu về nguồn
nhân lực phục vụ Chiến lược cải cách tư pháp.
5
I. SỰ CẦN THIẾT TRIỂN KHAI ĐỀ ÁN
1.1. Vai trò của CNTT
Với sự ra đời của máy tính cùng nhiều thành tựu đột phá khác
trong công nghệ sinh học, khoa học vật liệu vào những thập kỷ cuối
thế kỷ 20 đã diễn ra cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại,
mà đặc trưng nổi bật của nó là cách mạng tri thức và cách mạng
thông tin. Tác động của nó đến mọi mặt đời s
ống xã hội loài người

CNTT gắn liền với truyền thông và do đó người ta thường dùng cụm
từ CNTT và truyền thông (ICT) để nói đầy đủ các nội dung của
chúng.
Trong lịch sử nhân loại chưa có công nghệ nào có tốc độ phát
triển nhanh và xâm nhập vào mọi mặt đời sống xã hội loài người
nhanh chóng như CNTT. Hiện nay CNTT đang ở đỉnh cao của giai
đoạn tự động hoá và đang bước vào giai đoạn thông minh hoá. Nhờ

tự động hoá, thông tin cho ra tri thức. Khối lượng lớn thông tin được
phân tích, xử lý nhanh chóng. Chính nhờ những đặc điểm ấy mà
CNTT đi vào cuộc sống rất nhanh chóng, được sử dụng rất rộng rãi
trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của xã hội loài người, đến từng
người dân, từ người quản lý, nhà khoa học đến người nông dân, bà
nội trợ, em bé học sinh tiểu học. Không có lĩnh v
ực nào, không có
nơi nào không có mặt của CNTT. CNTT xoá dần đi khoảng cách địa
lý, rút ngắn thời gian của các quá trình làm việc.
Trong những năm gần đây, CNTT và truyền thông Việt Nam
đã đạt được những tiến bộ đáng kể, nhất là trong lĩnh vực phát triển
hạ tầng viễn thông và Internet. Hạ tầng viễn thông và Internet đã bắt
đầu thể hiện vai trò là huyết mạch của nền kinh tế, phục vụ tươ
ng đối
tốt cho sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội, nhìn chung
đáp ứng được nhu cầu giao lưu trong nước và quốc tế. Công cuộc tin
học hoá cải cách hành chính ở Việt Nam đã được thực hiện trong gần
10 năm qua đã thu được những kết quả đáng kể. CNTT và viễn thông
đã được ứng dụng rộng rãi và ngày càng sâu trong mọi lĩnh vực đời
sống kinh tế - xã hội. H
ầu hết các hoạt động kinh tế và xã hội đều
dựa trên cơ sở CNTT và thông qua mạng thông tin điện tử, đều được

thể chế và chính sách, hỗ trợ thúc đẩy phát triển, tăng cường mở rộng
hợp tác quốc tế, đẩy mạnh công tác giảm sát, kiểm soát, đánh giá tác
động và hiệu quả các hoạt động phát triển và ứng dụng CNTT&TT.
Nhiều Văn bản cụ thể hoá Chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá
VIII) đã được ban hành (như: Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày
10/4/2007 về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà
nước, Chỉ thị số 34/2008/CT-TTg về việc tăng cường sử dụng hệ
thống thư điện tử trong hoạt động của cơ quan nhà nước, Quyết định
số 48/2009/QĐ-TTg ngày 31/3/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt Kế hoạch ứng dụ
ng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà
nước giai đoạn 2009-2010 ) tạo điều kiện và môi trường thúc đẩy
phát triển CNTT&TT ngày càng mạnh mẽ. Ứng dụng CNTT&TT
đang thâm nhập vào các hoạt động sản xuất, cung cấp dịch vụ, điều
hành, quản lý, và trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng trong
dây chuyền một số ngành kinh tế trọng yếu của đất nước. Mạng
8
thông tin diện rộng của các cơ quan Đảng, Chính phủ, Quốc hội, các
dự án Tin học hoá và ứng dụng CNTT&TT gắn chặt chẽ với các quá
trình cải cách hành chính, đổi mới phương thức hoạt động đang được
triển khai mạnh mẽ. Các cơ quan Thông tin điện tử ngày càng phát
triển và có tác dụng ngày càng sâu rộng trong xã hội đang hoạt động
ngày càng có hiệu quả, góp phần đáng kể vào công tác quản lý, điều
hành.
Trong những năm qua, Bộ Tư pháp cũng đã rất quan tâm trong
việc đưa ứng dụng CNTT vào phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều
hành của Lãnh đạo Bộ thông qua các việc sau: Cổng thông tin điện tử
Bộ Tư pháp với nhiều Trang thông tin thành phần về các mặt công
tác lớn của Bộ được vận hành tại Trung tâm tích hợp và hoạt động
trên Internet tại địa chỉ (từ tháng 3/2005),

việc, đồng thời cũng cung cấp các công cụ hỗ trợ cho việc theo dõi,
quản lý, tra cứu và xử lý các Văn bản, Hồ sơ công việc của Bộ Tư
pháp một cách chính xác, hiệu quả và đảm bảo tính bảo mật. Trang
thông tin phục vụ điều hành, tác nghiệp được tích hợp với Cổng
thông tin điện tử của Bộ để cung cấp các ý kiến chỉ đạo, lịch làm vi
ệc
của Lãnh đạo Bộ; cung cấp các Quy chế, Chương trình, Kế hoạch
công tác và các thông tin nội bộ khác. Cơ sở dữ liệu về Văn bản
quy phạm pháp luật cho phép lưu trữ, tra cứu các Văn bản quy phạm
pháp luật do cơ quan ở Trung ương ban hành từ năm 1945 đến nay và
các Văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Uỷ ban
nhân dân một số tỉnh thành phố ban hành từ năm 1976 đế
n nay (hoặc
từ khi chia tách hoặc sáp nhập tỉnh. Về cơ bản đã đáp ứng nhu cầu về
việc tra cứu các Văn bản QPPL, lưu trữ có hệ thống CSDL về pháp
luật; Tập trung tương đối đầy đủ các Văn bản QPPL; Công cụ tra cứu
và các tiện ích hoạt động hiệu quả, cho phép tra cứu nhanh chóng,
chính xác, cho phép người sử dụng tìm kiếm với nhiều tiêu chí; hàng
ngày có khoảng hơn 3.000 lượt ng
ười truy cập. Triển khai thực hiện
Quyết định 43/2008/QĐ-TTg, cùng với việc nâng cấp Cổng thông tin
điện tử, Cơ sở dữ liệu cũng sẽ được thay đổi về mặt công nghệ và bổ
sung thêm tính năng mới để đáp ứng nhu cầu cao hơn nữa. Cơ sở dữ
liệu hướng dẫn nghiệp vụ giúp cán bộ, công chức, viên chức chuyên
sâu hơn nữa công tác chuyên môn c
ủa mình, tiếp cận nhanh các
chính sách, cơ chế, quy định của các Văn bản quy phạm pháp luật,
trao đổi, thảo luận các thông tin nghiệp vụ, từ đó phục vụ công tác
chuyên môn được tốt hơn.
10

tử Website cũng được thiết kế các diễn đàn (forum) để mọi ngườ
i
cùng trao đổi, thảo luận về các vấn đề liên quan; có webmail để các
thành viên sử dụng email trao đổi thông tin; có bản tin nội bộ được
dành riêng cho nội bộ cán bộ giảng viên của Học viện Tư pháp; có
lịch làm việc cho từng thành viên Có thể nói, về cơ bản website
này đã đáp ứng được một phần yêu cầu cơ bản, là hạ tầng cần thiết
11
trong việc sử dụng và ứng dụng mạnh mẽ học liệu mở phục vụ cho
hoạt động đào tạo các chức danh tư pháp.
Cùng với trang thông tin điện tử trên mạng internet, Học viện
Tư pháp cũng đã trang bị phần mềm quản lý thư viện, cũng đã xây
dựng,thiết kế được phần mềm quản lý học viên, thống nhất hoá mã số
sinh viên trong quả
n lý và thư viện. Bên cạnh đó các trang thiết bị
phục vụ cho nhu cầu ứng dụng tại Học viện Tư pháp cũng được trang
bị khá đầy đủ. Hệ thống máy tính, máy chiếu (projector), máy quay,
video conference được trang bị khá đầy đủ cho đến từng cán bộ giảng
viên, chúng ta cũng đang sử dụng được truyền 8Mb/s đủ để thực hiện
các cuộc hội đàm, hội thảo trực tuyế
n.
Đội ngũ giảng viên về cơ bản cũng có trình độ tin học khá cơ
bản, có thể sử dụng các chương trình ứng dụng nêu trên và dành cho
tin học văn học. Hàng năm, Học viện Tư pháp lại có các chương
trình bồi dưỡng nâng cao trình độ tin học cho các cán bộ, giảng viên.
Nhìn lại quá trình lịch sử và cho đến hiện nay, chúng ta hiện
đang áp dụng những biện pháp, giải pháp ứng dụng CNTT sau đây:
- Ứng d
ụng CNTT vào hoạt động giảng dạy thông qua việc sử
dụng phần mềm trình chiếu Power Point, các đoạn video clips

liên quan đến quá trình đào tạo được cung cấp cho mọi đối
tượng. Chương trình, lịch học, kết quả đánh giá, giáo trình, hồ
sơ tình huống, tài liệu tham khảo, Văn bản pháp luật liên quan,
các thông báo trong quá trình đào tạo cần được số hoá để ở
bất cứ đâu, bất cứ lúc nào, các đối tượng liên quan như giảng
viên, học viên, những người quan tâm đến Học viện Tư
pháp
đều có truy cập để nghiên cứu.
- Chưa có hệ thống thư viện điện tử,vì thế giải pháp duy nhất mà
các giảng viên, học viên muốn nghiên cứu tìm đọc tài liệu vẫn
là truyền thống, đến thư viện và tra cứu trên cơ sở Văn bản
giấy.
- Chưa triển khai thực hiện được việc ứng dụng video
conference vào trong hoạt động họp tổ b
ổ môn giữa Hà Nội và
cơ sở Thành phố Hồ Chí Minh, cũng chưa tiến hành các buổi
giảng trực tuyến mặc dù đã từng thí điểm.
- Chưa có hệ thống intranet để có thể thuận tiện trao đổi thông
tin, cung cấp thông tin trong nội bộ cơ sở đào tạo.
13
Đây là những vấn đề lớn mà bất cứ cơ sở đào tạo nào nếu
muốn phát triển vì chất lượng đều cần chú ý, quan tâm đến các vấn
đề trên. Hệ thống học liệu mở, thư viện điện tử, đào tạo trực tuyến và
chia sẻ thông tin là tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo của một cơ
sở đào tạo trong kỷ nguyên số.
Hai là: Chất lượng của các giải pháp ứng dụng CNTT hiện tại
tại Học viện Tư pháp chưa cao.
Mặc dù chúng ta đã có một số giải pháp, biện pháp ứng dụng
CNTT song chất lượng và hiệu quả ứng dụng của các giải pháp này
không cao. Phần mềm thư viện của chúng ta đã quá cũ và lạc hậu. Vì

tạo nên tình trạng bờ vùng bờ thửa trong từng hoạt động đào tạo;
đồng thời nếu muốn tạo nên hệ thống cơ sở dữ liệu chung của các
lĩnh vự
c lại đòi hỏi nguồn nhân lực rất lớn và chi phí thời gian rất
nhiều.
1.3. Đào tạo đội ngũ cán bộ tư pháp và yêu cầu ứng dụng
CNTT nâng cao chất lượng đào tạo độ ngũ cán bộ tư pháp phục
vụ chiến lược cải cách tư pháp
1.3.1. Đào tạo đội ngũ cán bộ tư pháp
Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa là
mộ
t mục tiêu lớn của Đảng và Nhà nước ta. Cải cách tư pháp đã trở
thành một nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình xây dựng Nhà nước
pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong đó xây dựng đội ngũ
cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh và đổi mới công tác đào tạo
cán bộ tư pháp là những nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa chiến lược
quyết định sự thành công của sự nghiệ
p cải cách tư pháp.
Mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch vững
mạnh, đủ về số lượng, giỏi về kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, kỹ
năng nghề nghiệp, có phẩm chất đạo đức trong sáng đã được đề cập
trong nhiều Văn bản của Đảng và Nhà nước thời gian qua. Nghị
quyết hội nghị lần thứ 07 Ban chấp hành Trung ươ
ng Đảng Khoá
VIII khẳng định "Củng cố, kiện toàn bộ máy các cơ quan tư pháp
xây dựng một đội ngũ thẩm phán, thư ký Toà án, chấp hành viên,
công chứng viên, giám định viên, luật sư có phẩm chất chính trị và
đạo đức, chí công vô tư, có nghiệp vụ vững vàng, bảo đảm cho bộ
máy trong sạch, vững mạnh". Nghị quyết số 08-NQ/TW chỉ đạo cụ
thể việc ˝Rà soát lại đội ngũ

Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (giai đoạn 2007 -
2012) số 900/UBTVQH11 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày
21/3/2007 cũng khẳng định sự cần thiết phải: “Đẩy mạnh giáo dục
đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên và học viên dưới nhiều hình thức
khác nhau, bảo đảm để khi trở thành thẩm phán, kiểm sát viên, luật
sư, các chức danh tư pháp khác, họ là ngườ
i có đạo đức, bản lĩnh
nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa”.
Trên cơ sở mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp và bổ trợ
tư pháp trong sạch vững mạnh, Nghị quyết 49-NQ/TW đã chỉ ra các
nhiệm vụ cụ thể "Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo cử
nhân luật, đào tạo cán bộ nguồn của các chức danh tư pháp, bổ trợ
tư pháp; bồi dưỡng cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp theo hướng cập
16
nhật các kiến thức mới về chính trị, pháp luật, kinh tế, xã hội, có kỹ
năng nghề nghiệp và kiến thức thực tiễn, có phẩm chất đạo đức trong
sạch, vững mạnh, dũng cảm đấu tranh vì công lý, bảo vệ pháp chế xã
hội chủ nghĩa”. Kế hoạch 900/UBTVQH11 tiếp tục nhấn mạnh: “Đổi
mới mục tiêu, nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo cán bộ

pháp luật, đặc biệt là cán bộ tư pháp và cán bộ pháp chế các bộ,
ngành”. Và một trong các giải pháp thực hiện được mục tiêu trên,
Nghị quyết 49-NQ/TW đã đặt ra nhiệm vụ: Xây dựng Học viện Tư
pháp thành Trung tâm lớn về đào tạo cán bộ tư pháp.
Học viện Tư pháp thuộc Bộ Tư pháp được Thủ tướng Chính
phủ đã ra Quyết định thành lập ngày 25/02/2004 trên cơ sở Trườ
ng
Đào tạo các chức danh tư pháp. Theo Quyết định số 23/2004/QĐ-
TTg, Học viện Tư pháp là cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học trực

nghề lu
ật. Để là đòn bẩy cho các phương pháp trên, Học viện Tư
pháp đã sử dụng song giảng (một giảng viên lý thuyết và một giảng
viên thực hành cùng giảng); giảng bằng phiếu kỹ thuật, giảng dạy
thông qua hồ sơ và giải quyết tình huống và sử dụng CNTT nhằm
nâng cao chất lượng giảng dạy.
1.3.2. Ứng dụng CNTT trong đào tạo các chức danh tư pháp
Chủ trương của Đả
ng, Nhà nước ta phấn đấu đưa CNTT đạt
trình độ tiên tiến trong khu vực với các yêu cầu: CNTT được ứng
dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực nhằm tạo một bước chuyển biến
mạnh mẽ về năng suất, chất lượng, hiệu quả trên các lĩnh vực hoạt
động, thúc đẩy nhanh phát triển kinh tế; CNTT trở thành ngành kinh
tế mũi nhọn có đóng góp quan trọng cho tăng trưởng GDP của c

nước.
Sớm nhận thức được vai trò to lớn của CNTT và đứng trước sự
phát triển như vũ bão của CNTT, ngày 17/10/2000 Bộ Chính trị đã
ban hành Chỉ thị số: 58-CT/TW về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển
CNTT trong đó có đoạn viết “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công
tác Giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học. Phát triển
các hình thức đào t
ạo từ xa phục vụ nhu cầu học tập của toàn xã hội.
Đặc biệt tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ cho giáo dục và
đào tạo, kết nối Internet tới tất cả các cơ sở giáo dục và đào tạo”. Các
cơ quan Nhà nước trong phạm vi điều chỉnh cũng đa ban hành nhiều
Văn bản về tăng cường ứng dụng CNTT như: Nghị định
64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 c
ủa Chính phủ về ứng dụng CNTT
trong hoạt động của cơ quan nhà nước; Nghị định số 102/2009/NĐ-

ều hành và hàng
loạt các phần mềm hỗ trợ hoạt động quản lý điều hành.
Với chức năng, nhiệm vụ đào tạo các chức danh tư pháp, Học
viện Tư pháp cần triển khai đồng bộ các dự án ứng dụng CNTT nhằm
nâng cao chất lượng đào tạo và hỗ trợ công tác quản lý, điều hành
một cách có hiệu quả, nhằm tin học hoá các hoạt động quản lý,
điều
hành trong hoạt động đào tạo của Học viện Tư pháp đáp ứng yêu cầu
đào tạo nguồn nhân lực phục vụ chiến lược cải cách tư pháp.
19
II. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, NGUYÊN TẮC ỨNG DỤNG
CNTT TRONG ĐÀO TẠO CÁC CHỨC DANH TƯ PHÁP
2.1. Quan điểm chỉ đạo
Nâng cao năng lực quản lý, điều hành trong hoạt động đào tạo
các chức danh tư pháp. Đảm bảo các thông tin chỉ đạo, điều hành
trong hoạt động đào tạo các chức danh tư pháp được thực hiện thông
qua môi trường mạng; cán bộ, công chức phải sử dụng thành th
ạo
phần mềm ứng dụng quản lý Văn bản và điều hành trên môi trường
mạng và sử dụng thư điện tử trong hoạt động chuyên môn, giảm
thiểu việc sử dụng giấy tờ, in ấn tài liệu; sử dụng các hình thức
truyền thông cơ bản như thư điện tử, điện thoại, fax, hội nghị và họp
trên môi trường mạng,
đưa thông tin lên trang thông tin điện tử để
trao đổi thông tin ở khoảng cách xa.
Nâng cao chất lượng giảng dạy bằng các phương tiện truyền
thông đa phương tiện, như: thiết kế giáo trình, giáo án điện tử; giảng
dạy bằng hình ảnh, video-clip, video bài học mẫu; giảng dạy trực
tuyến…; sử dụng máy chiếu, máy tính bảng, các phần mềm hỗ trợ
trong giảng dạy.

2.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống mạng LAN/WAN của Học
viện Tư pháp với hệ thống sever và các phần mềm ứng dụng,
bảo đảm thực hiện được các dịch vụ quan trọng trong mô hình
làm việc trên mạng máy tính, phân chia quyền truy cập thông
tin, đảm bảo tính bảo mật trong môi trường chia sẻ trên mạng
sẽ được thực hiệ
n tối ưu nhất;
- Xây dựng các phần mềm ứng dụng vào các hoạt động quản lý,
điều hành áp dụng có hiệu quả vào các hoạt động của Học viện
Tư pháp; Thống nhất và tin học hoá các quy trình hoạt động tác
nghiệp, các hình thức tiếp nhận, lưu trữ, phổ cập, trao đổi, tìm
kiếm, xử lý thông tin, giải quyết công việc trong Học viện Tư
pháp để nâng cao chất lượ
ng và hiệu quả của công tác điều
hành của lãnh đạo, các hoạt động tác nghiệp của cán bộ, công
chức;
- Tạo môi trường cung cấp và trao đổi thông tin trên mạng
Internet, giúp cán bộ, giảng viên quản lý các hoạt động đào tạo
một cách khoa học; trợ giúp Lãnh đạo Học viện Tư pháp nhanh
21
chóng nắm được thông tin về kế hoạch thực hiện, thông tin về
cán bộ, nghiên cứu khoa học, tài chính, sinh viên; giúp giảng
viên xem lịch giảng dạy, giúp học viên đăng ký lớp học tín chỉ,
xem kết quả học tập; tạo môi trường để giảng viên, học viên có
thể cung cấp giáo trình, tài liệu học tập; trao đổi thông tin và
các dịch vụ công trực tuyến phục vụ cho công tác đào tạo;
- Thiết lập kho cơ s
ở dữ liệu về đào tạo chức danh tư pháp đáp
ứng yêu cầu lưu trữ và tìm kiếm thông tin về đào tạo chức danh

- Phát triển hợp lý cả chiều rộng và chiều sâu, số lượng và chất
lượng trên cơ sở phát huy nội lực, sử dụng hiệu quả nguồn vốn
đầu tư từ ngân sách nhà nước, tận dụng tri thức và các nguồn
lực quốc tế.
- Bảo đảm tương thích về công nghệ trong hệ thống thông tin
của các cơ quan nhà nước, tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn
kỹ thuật quy định bảo đảm sự tương thích, thông suốt và an
toàn giữa cơ quan quản lý, các cơ sở đào tạo pháp luật, trung
cấp luật và đào tạo các chức danh tư pháp trong quá trình chia
sẻ, trao đổi thông tin.
- Có kế hoạch với mục đ
ích sử dụng rõ ràng, nội dung phù hợp,
chính xác, kịp thời, hiệu quả; hạn chế tối đa việc thu thập lại
cùng một nguồn dữ liệu; tận dụng nguồn dữ liệu sẵn có; ưu tiên
mục tiêu sử dụng dài hạn; ưu tiên dữ liệu có thể dùng cho
nhiều mục đích sử dụng khác nhau.
- Quy định rõ các điều kiện truy nhập, cập nhật dữ
liệu và bảo
đảm việc quản lý, truy nhập, cập nhật và tìm kiếm dữ liệu dễ
dàng; áp dụng các mức bảo vệ phù hợp theo đúng phân loại
thông tin; quy định rõ các điều kiện duy trì dữ liệu bao gồm cả
việc thay đổi, huỷ bỏ dữ liệu. Thường xuyên đánh giá các điều
kiện bảo đảm an toàn cho dữ liệu.
- Bảo đảm truy nhập thông tin và khai thác dịch vụ
hành chính
công tạo các điều kiện thuận lợi để tổ chức, cá nhân dễ dàng
truy nhập thông tin và dịch vụ hành chính công trên môi trường
mạng.
23


gián tiếp đều liên quan đến quá trình giảng dạy và học tập của học
24
viên. Với quan niệm như vậy,
việc ứng dụng CNTT vào
hoạt động đào tạo có thể triển
khai trên mọi mặt hoạt động
của cơ sở đào tạo như: Quản
lý chương trình đào tạo; lập
kế hoạch giảng dạy, học tập,
đánh giá kết quả học tập (thời
khoá biểu); quản lý tài
nguyên như thư viện; hỗ tr

hoạt động quản lý điều hành;
quản lý văn thư lưu trữ; quản
lý tài chính; quản lý hành chính và nhân sự; quản lý cơ sở vật chất:
Quản lý phòng học, trang thiết bị phục vụ đào tạo.
Các phân hệ này có thể được chuẩn hoá theo qui trình riêng và
các ứng dụng có thể chạy trên các CSDL cục bộ (ví dụ như chương
trình quản lý tài chính có thể có CSDL riêng về quá trình nộp học phí
của họ
c viên và chạy trên máy của phòng tài vụ). Tuy nhiên, điều
quan trọng nhất là các ứng dụng này phải được tích hợp trong một hệ
thống nhất có thể trao đổi thông tin với nhau (ví dụ như CSDL về
việc nộp học phí của học viên phải được chia sẻ cho ứng dụng của
phân hệ đào tạo để biết lên lịch học hay thi) để cùng cung cấp thông
tin cho lãnh đạo quản lý. Phân hệ điểm danh sẽ
phải được liên kết,
kết nối với phân hệ quản lý hành chính để lãnh đạo có thể nắm bắt
được tình hình, kết nối với giảng dạy để có thể xác định những ai đủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status