Tiểu luận
Thưc trạng và giải pháp nhằm
thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài vào Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 3
PHẦN I: LÍ LUẬN CHUNG 4
1. Khái niệm về đầu tư 4
a. Đầu tư. 4
b. Đầu tư nước ngoài 4
2. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài 5
3. Tính tất yếu khách quan của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài 5
a. Tính tất yếu của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài. 5
b. Tính tất yếu khách quan phải thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
tại Việt Nam. 7
4. Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với các nước đang
phát triển 8
a. Tác động tích cực 8
b. Tác động tiêu cực 8
5. Các nhân tố ảnh hưởn đến khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp 9
nước ngoài
5.1. Luật đầu tư 9
5.2. Ổn định chính trị. 9
5.3. Cơ sở hạ tầng . 9
5.4. Đặc điểm thị trường của nước nhận vốn 9
5.5. Khả năng hồi hương của vốn 10
5.6. Chính sách tiền tệ. 10
5.7. Các chính sách kinh tế vĩ mô. 10
PHẦN II: TÌNH HÌNH THU HÚT VÀ SỬ DỤNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI TẠI VIỆT NAM TỪ 1988 ĐẾN ĐẦU 2000 11
2.2.4. Xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng 27
2.2.5. Giữ vững ổn định chính trị 28
3
2.2.6. Xây dựng bộ máy nhà nước các cấp quản lí đầu tư nước ngoài mạnh về
mọi mặt 29
KẾT LUẬN 30
4
LỜI MỞ ĐẦU
Vốn nước ngoài là một nhân tố cực kỳ quan trọng và cần thiết cho quá
trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở bất kỳ một nước hay một nền kinh tế
đang phát triển nào. Đặc biệt là trong giai đoạn hiên nay khi mà xu hướng mở
cữa hội nhập quốc tế đã trở thành phổ biến.
Hơn nữa nước ta là một nước nông nghiệp lạc hẩu trình độ kỷ thuật thấp
kém, năng suất lao động thấp, tích luỹ nội bộ thấp, lại chịu hậu quả nặng nề
của chiến tranh. Do dó vấn đề về vốn hiện nay đang là vấn đề nan giải và khó
giai quyết nhất. Trước tình hình đó Việt Nam đã thực thi nhiều giải pháp để
tạo nguồn vốn đặc biệt là các giải pháp nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư nứơc
ngoài. Tháng 12 năm 1987nước ta đã ban hành luật đầu tư nước ngoài, từ đó
đến nay đã có trên 60 quốc gia, vùng lãnh thổ đã đầu tư vào Việt nam, trong
đó có những tập đoàn lớn như SONY, DEAWOO, FORD, HONDA …. Đầu
tư nước ngoài đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của nền kinh tế nước
ta trong hơn mười năm qua, như giải quyết vấn đè về vốn, công nghệ,nâng
cao trình độ quản lý ….
Do nhận thức được tầm quan trọng của nguồn vốn đầu tư nước ngoài
cũng như sự đóng góp của nó vào sự phát triển kinh tế xã hội của nước ta
trong những năm qua, cho nên em đã chọn đề tài “Thưc trạng và giải pháp
nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay”.
Với trình độ hiểu biết cũng như thời gian nghiên cứu còn hạn chế cho
nên bài viết không tránh khỏi những thiếu só và sai lầm. Em rất mong được
6
tại các nước sở tại là điều kiện để các nhà đầu tư nước ngoài xuất khẩu máy
móc, vật tư, nguyên liệu và khai thác tài nguyên thiên nhiên của nước đó.
Hoạt động đầu tư nước ngoài diễn ra dưới hai hình thức:
Đầu tư trực tiếp ( Foreign- Direct- Investment: FDI ).
Đầu tư gián tiếp (Portgalio - Investment : PI ).
Trong đó đầu tư trực tiếp là hình thức chủ yếu còn đầu tư gián tiếp là
“bước đệm”, tiền đề để tiến hành đầu tư trực tiếp.
Đầu tư trực tiếp là một hình thức đầu tư nước ngoài trong đó chủ đầu tư
đầu tư toàn bộ hay một phần đủ lớn vốn đầu tư vào các dự án nhằm dành
quyền điều hành hoặc tham gia điều hành các doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh, dịch vụ hoặc thương mại.
b.3 Đặc điểm của hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Thứ nhất, đây là hình thức đầu tư mà các chủ đầu tư được tự mình ra
quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về
lỗ, lãi. Hình thức đầu tư này mang tính khả thi và có hiệu quả cao, không có
những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế.
Thứ hai, chủ đầu tư nứơc ngoài điều hành toàn bộ hoặc một phần công
việc của dự án.
Thứ ba, chủ nhà tiếp nhận được công nghệ kỹ thuật tiên tiến, học hỏi
kinh nghiệm quản lý hiện đại của nước ngoài.
Thứ tư, nguồn vốn đầu tư không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu mà còn
có thể được bổ sung, mở rộng từ nguồn lợi nhuận thu được từ chủ đầu tư nư-
ớc ngoài.
2. CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI.
Theo xu hướng thế giới hiện nay, hoạt động đầu tư nước ngoài diễn ra
chủ yếu dưới các hình thức:
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh.
- Doanh nghiệp liên doanh.
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
8
cao, nhu cầu về vốn ở trạng thái bão hoà, dư thừa, cơ hội đầu tư ít, chi phí cao
thì khi đó các quốc gia có nhu cầu đầu tư vào các quốc gia khác trên thế giới
nhằm tậm dụng những lợi thế về lao động, tài nguyên thiên nhiên, thị trờng
của những nước đó. Mặt khác, các quốc gia có những lợi thế đó thì nhu cầu
về vốn cho phát triển kinh tế rất bức xúc. Vì vậy, họ đã có nhiều chính sách
để thu hút những nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào. Có nhu cầu vốn, có
nguốn cung cấp từ đó làm xuất hiện những dòng vốn qua lại giữa các quốc
gia. Các dòng vốn di chuyển tuân theo đúng qui luật từ nơi nhiều đến nơi ít
một cách khách quan, do vậy hoạt động đấu tư ra nước ngoài mang tính tất
yếu khách quan.
Ngày nay, hoạt động đầu tư nước ngoài diễn ra một cách sôi nổi và rộng
khắp trên toàn cầu. Các luồng vốn đầu tư không chỉ di chuyển từ các nước
phát triển, nơi nhiều vốn sang các nước đang phát triển, nơi ít vốn, mà còn có
sự giao lưu giữa các quốc gia phát triển vơi nhau. Hiện tượng này xuất phát từ
những nguyên nhân sau:
Thứ nhất, quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế đang diễn ra nhanh
chóng với qui mô và tốc độ ngày càng lớn tạo nên một nền kinh tế thị trờng
toàn cầu trong đó tính phụ thuộc lãn nhau của các nền kinh tế mỗi quốc gia
ngày càng tăng. Quá trìng này diễn ra nhanh chóng sau thời kỳ chiến tranh đã
chi phối thế giới trong nửa thế kỷ, làm cho các nền kinh tế của từng quốc gia
đều theo xu hướng mở cửa và theo quĩ đạo của kinh tế thị trường, bằng chứng
là phần lớn các quốc gia đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO),
chấp nhận xu hớng tự do hoá thương mại và đầu tư. Trong điều kiện trình độ
phát triển sản xuất, khả năng về vốn và công nghệ, nguồn tài nguyên thiên
nhiên, mức độ chi phí sản xuất ở các nước khác nhau thì nguồn vốn đầu tư
nước ngoài sẽ tuân theo những qui luật của thị trường vốn là chảy từ nơi thiều
đến nơi thiếu vốn với mục tiêu lợi nhuận.
Mặt khác, cuộc cách mạng khoa học- công nghệ đã tạo nên sự biến đổi
nhanh chóng và kì diệu của sản xuất. Thời gian từ khâu nghiên cứu đến ứng
10
nước đang phát triển cũng đang trông chờ và mong muốn thu hút được vốn
đầu tư, công nghệ của các nước phát triển để thực hiện công nghiệp hoá, khắc
phục nguy cơ tụt hậu ngày càng xa.
b. Tính tất yếu khách quan phải thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
tại Việt Nam.
Ngày nay xu hướng quốc tế hoá toàn cầu hoá đang diễn ra một cách
mạnh mẽ trên thế giới. Các nền kinh tế tác động, bổ sung và phụ thuộc lẫn
nhau. Các quốc gia bị cuốn vào vòng xoáy của quá trình hội nhập kinh tế,
chuyên môn hoá, hợp tác hoá nhằm tận dụng vốn, công nghệ và trình độ quản
lý của nhau.
Xuất phát điểm của nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu. Hơn 70%
dân số hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp: năng suất lao động thấp, trình
độ kỹ thuật thấp, tích luỹ nội bộ thấp, sử dụng viện trợ nước ngoài không có
hiệu quả. Ngoài ra, nước ta vừa ra khỏi cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc nên
những tàn dư mà ta chưa khắc phục được còn nhiều: cơ sở hạ tầng thấp kém,
đời sống nhân dân còn khó khăn, chính sách chưa đồng bộ Vì vậy, nhiệm
vụ cấp bách của chúng ta hiện nay là phải phát triển kinh tế, nâng cao mức
sống của nhân dân, xây dựng cơ sở hạ tầng. Để thực hiện điều đó thì chúng ta
cần một lượng vốn rất lớn. Trong điều kiện khả năng đáp ứng của nền kinh tế
là có hạn thì chúng ta không còn con đuờng nào khác là thu hút sự hợp tác
đầu tư của nước ngoài. Để thực hiện điều đó, tại đại hội VI (12/1986), Đảng
và Nhà nước đã chủ trương mở cửa nền kinh tế, đẩy mạnh hoạt động kinh tế
đối ngoại nhằm tận dụng “những khả năng to lớn của nền kinh tế thế giới về
di chuyển vốn, mở rộng thị trường, chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm để
bổ sung và phát triển có hiệu quả các lợi thế và nguồn lực trong nớc”. Đảng
chủ trương “Đa phương hoá và đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại” với
quan điểm “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới”. Tại
đại hội VIII, Đảng chủ trơng “Vốn trong nước là chính, vốn nớc ngoài cũng
quan trọng”. Tất cả những tư tưởng đổi mới của Đảng và Nhà nước đã tạo
do đó sự gia tăng các dự án đầu tư nước ngoài đã đặt ở các nước sở tại trước
yêu cầu khách quan là phải nâng cao chất lượng, trình độ chuyên môn kỹ
thuật , trình độ ngoại ngữ cho người lao động.
Thứ tư, hoạt động của các dự án đầu tư nước ngoài đã góp phần tăng tỷ
trọng xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước .
Thứ năm, đầu tư trực tiêp nước ngoài thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế ở
các quốc gia này. Tận dụng, tranh thủ vốn và kỹ thuật của nước ngoài, các nư-
ớc đang phát triển đã sử dụng để thực hiện các mục tiêu trong chiến lược phát
triển kinh tế nhằm đẩy mạnh tốc độ tăng trởng kinh tế, thoát khỏi vòng luẩn
quẩn của sự nghèo đói.
b. Tác động tiêu cực.
Bên cạnh những ưu điểm trên, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài còn
bộc lộ nhiều mặt hạn chế.
Một là, đầu tư nươc ngoài đã tạo ra một cơ cấu bất hợp lí. Mục đích của
các nhà đầu tư nước ngoài là tìm kiếm lợi nhuận ngày càng nhiều do đó họ
chủ yếu đâù tư vào các ngành công nghiệp, dịch vụ nơi có mức tỷ suất lợi
nhuận cao.
Hai là, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại hiện tượng “chảy
máu chất xám”. Các nhà đầu tư nước ngoài đã tạo điều kiện thuận lợi về thu
nhập, việc làm do đó đã lôi kéo một bộ phận không nhỏ cán bộ khoa học, nhà
nghiên cứu, công nhân lành nghề của nước ta về làm việc cho họ.
Ba là, chuyển giao công nghệ lạc hậu. Dưới sự tác động của cuộc cách
mạng khoa học - kỹ thuật, quá trình nghiên cứu- ứng dụng ngày càng được rút
ngắn, máy móc thiết bị nhanh chóng trở nên lạc hậu. Để loại bỏ chúng, nhiều
nhà đầu tư đã cho chuyển giao sang các nớc nhận đầu tư như một phần vốn
góp . Việc làm đó đã làm cho trình độ công nghệ của các nước nhận đầu tư
ngày càng lạc hậu.
13
Bốn là, chi phí để tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn. Các nư-
ớc nhận đầu tư đã phải áp dụng nhiều ưu đãi cho các nhà đầu tư nước ngoài
đặc biệt là sự hoạt động của thị trường nhân lực. Mặt khác, với giá nhân công
rẻ sẽ là mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư nước ngoài, nhất là với
những dự án đầu tư vào lĩnh vực sử dụng nhiều lao động. Ngoài ra trình độ
chuyên môn kỹ thuật, trình độ học vấn, khả năng quản lý cũng có ý nghĩa
nhất định. Bởi vậy, lợi thế về thị trường sẽ có sức hút rất lớn đối với vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài.
5.5. Khả năng hồi hương của vốn
Mặt khác, khả năng hồi của vốn cũng sẽ ảnh hưởng không nhỏ tơi khả
năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài nếu vốn và lợi nhuận đợc tự do qua
lại biên giới.
5.6. Chính sách tiền tệ.
Mức độ ổn định của chính sách tiền tệ và mức độ rủi ro của tiền tệ ở nư-
ớc nhận vốn đầu tư là một nhân tố góp phần mở rộng hoạt động xuất khẩu của
các nhà đầu tư. Tỷ giá hối đoái cao hay thấp đều ảnh hưởng tới hoạt động
xuất nhập khẩu. Mức độ lạm phát của nền kinh tế sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến
chi phí sản xuất, lợi nhuận thu được của các dự án có tỷ lệ nội địa hoá trong
sản phẩm cao.
5.7. Các chính sách kinh tế vĩ mô.
Các chính sách này mà ổn định sẽ góp phần thuận lợi cho hoạt động của
các nhà đầu tư nớc ngoài. Không có những biện pháp tích cực chống lạm phát
có thể làm các nhà đầu tư nản lòng khi đầu tư vào các nước này. Một chính
sách thương mại hợp lý với mức thuế quan, hạn ngạch và các hàng rào thương
mại sẽ kích thích hoặc hạn chế đến việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoaì.
15
Ngoài ra, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài còn chịu ảnh hưởng của
nhiều nhân tố khác nhau: hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế, bảo vệ quyền
sở hữu
Vì vậy, để hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài diễn ra một
cách thuận lợi thì chúng ta cần xem xét, đánh giá sự ảnh hưởng của các nhân
Tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam sau
khủng hoảng kinh tế châu Á: Vấn đề và giải pháp _ Phạm thi Tuý _kinh tế
châu Á -Thái Bình Dương số 2 tháng 6/1999 trang 9.
Qúa trình thu hút vốn đầu tư và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoái
vào Việt Nam được chia làm ba thời kì:
a. Thời kì 1988-1990.
Đây được coi là thời kì khơi động cho qúa trình thu hút vốn đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam.
Ngày 19/12/1987, nước ta đã chính thức ban hành luật đầu tư nước ngoài
vàp Việt Nam, khủng hoảng pháp lý quản lý và điều chỉnh hoạt động đầu tư
trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Năm 1988, năm đầu tiên thực hiện luật
đầu tư nước ngoài, chúng ta đã cấp giấi phép đầu tư cho 37 dự án với tổng
vốn đăng ký là 336 tr. USD. Kết quả đó tuy nhỏ nhưng có ý nghĩa rất quan
trọng đối với nước ta. Nó đánh dấu sự thành công ban đầu của công cuộc đổi
18
mới, mở cữa nền kinh tế, thực hiện đường lối mở rộng và phát triển quan hệ
kinh tế đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.
Sau ba năm tiến hành thu hút vốn đâu tư trực tiếp nước ngoài, chúng ta
đã cấp giấy phép cho 218 dự án với tổng vốn đăng ký 1417 tr. USD. Tốc độ
tăng trưởng hàng năm đạt 255/năm. Quy mô mổi dự án đạt khoảng
7tr.USD/dự án. lĩnh vực đầu tư chủ yếu trong thời kì này là thăm dò dầu khí
32,2%, khách sạn 20,6% và bưu chính viễn thông, còn các lĩnh vực khác thì
rất íthầu như chưa được triển khai. Tổng số vốn thực hiện của cả thời kì đạt
40tr.USD băng 27%tổng vốn đăng kí.
Nguyên nhân của việc gia tăng vốn đầu tư chậm do đây là một lĩnh vực
còn rất mới đối với nước ta, chúng ta "vữa học, vừa làm", kinh nghiệm chưa
có nhiều. Mặt khác, đối với các nhà đầu tư nước ngoài, nước ta là một thị
trường mới mẻ vừa xa lạ, vừa hấp dẩn do đó họ thận trọng không dám mạo
hiểm, vừa làm vừa thăm dò.
Tuy thế những kết quả đạt được trên đây đã chứng minh triển vọng lạc
công ty bưu chính viễn thông với tập đoàn Telstra (úc) với tổng vốn đầu tư
287tr.USD,dự án đèn hình ORION-HANEL liên doanh giữa tập đoàn
DEAWOO (Hàn Quốc) với công ty điện tử Hanel có tổng vốn đầu tư
178tr.USD. Đặc biệt, năm 1996, nước ta đã cấp giấy phép cho hai dự án có
tổng vốn đầu tư lớn nhất từ trước đến nay. Đó là dự án xây dựng khu đô thị
nam Thăng Long-Hà Nội có tổng vốn đầu tư 2,1 tỷ USDvà dự án xây dựng
khu đô thị An Phú-Thành Phố Hồ Chi Minh có tổng vốn đầu tư 996tr.USD.
Năm 1991 1992 1993 1994 1995 1996
Quy mô bình quân dự án 8,86 10,33 9,57 11,09 16,21 22,5
20
Đây là một nguyên nhân đưa năm 1996 trở thành năm có mức thu hút vốn đầu
tư lớn nhất từ trước đến nay.
Nhiều khu công nghiệp, chế xuất, khu công nghệ chế tạo đã được xây
dựng như: khu công nghiệp Sài Đồng ở Hà Nội, khu công nghiệp Việt Nam
-SINGAPORE ở Sông Bé
Nhiều dự án quan trọng đã được triển khai như: Dự án BOT xây dựng
cảng Sao Mai-Bến Đình ở Vũng Tàu, Dự án khôi phục cải tạo quốc lộ 1, quốc
lộ 5và nâng cấp một số tuyến đường quan trọng khác.
Sự hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo ra
nhiều sản phẩm mới có chất lượng cao, giá thành hạ đáp ứng nhu cầu trong
nước và xuất khẩu.
Ngoài ra, các kết quả khả quan của các dự án thăm dò dầu khí đã tạo cơ
sơ để phát triển ngành công nghiệp lọc dầu, hoá dầu thành ngành công nghiệp
mủi nhọn ở nước ta.
c. Thời kì 1997-1999.
Thời kì này, tốc độ thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có dấu hiệu
chững lại và giảm dần. Trong cả năm 1999, chúng ta đã cấp giấy phép cho
274 dự án với tổng vốn đăng kí 1477tr.USD, đưa tổng số dự án cả thời kì
được cấp giấy phép là 867 dự án 9982tr.USD. Quy mô bình quân mổi dự án
có sự giảm sút nghiêm trọng. Nếu đầu thời kì năm 1997, quy mô bình quân
nguồn quan trọng cung cấp vốn cho sự nghiệp đổi mới ở nước ta.
Biểu 3: Tổng vốn đầu tư và FDI giai đoạn 1990-1995
Đơn vị tính: tỷ đồng (tính theo gí năm 1994).
Năm 1990 1991 1992 1993 1994 1995 Tổng
Tổng vốn đầu tư 14917 16707 21248 34176 43100 57000 187148
Tổng vốn FDI 2226 2860 2885 12210 19492 22000 61673
Tỷ trong FDI (%) 14,9 17,1 13,5 35,7 45,2 38,5 32,29
Nguồn: đầu tư nước ngoài tính hai mặt của một vấn đề _Đỗ thị Thuý _tạp chí
nghiên cứu kinh tế số1/1998 trang 7.
22
Tính chung trong sáu năm từ 1990 đến 1995, vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài đã đóng góp khoảng 30% tổng vốn đầu tư cho phá triển kinh tế của
nước ta. Từ đó đến nay giao động quanh mức 30%.
Thứ hai, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu là ngoại tệ mạnh
và máy móc thiết bị, công nghệ hiện đại nên đã tạo ra cơ sở vật chất mới bổ
sung và hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng, tăng năng lực sản xuất của nền
kinh tế quốc dân nhất là công nghiệp. Chúng ta đã tiếp nhận một số kỉ thuật
-công nghệ tiên tiến trong nhiều ngành kinh tế như: công nghệ thông tin, bưu
chính viễn thông, thăm dò dầu khí, công nghiệp điện tử , sản xuất lắp ráp ôtô,
xe máy, hoá chất
Phần lớn công nghệ -kỉ thuật du nhập vào nước ta thuộc loại trung bình
của thế giới nhưng vẩn tiên tiến hơn những công nghệ hiện có.
Ngoài ra, chúng ta còn tiếp thu học hỏi được nhiều kinh nghiệm quant lí
tiên tiến của nước ngoài nên đã góp phần nâng cao chất lượng, đa dạng hoá
mẩu mả sản phẩm do Việt Nam sản xuất ra. Ba là, hạot động của các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo ra một khối lượng hàng hoá và sản
phẩm lớn cho xuâts khẩu từ đó góp phần tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu cho
nước ta.
Biểu 4: Doanh thu và xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài (1988 -
1996).
có 54 khu công nghiệp, khu chế xuất trong đó có 48 khu đi vào hoạt độnh trải
dài từ Bắc vào Nam.
Sáu là, về mặt xã hội, hoạt động đầu tư nước ngoài đã tạo ra nhiều chổ
làm góp phần giải quyết khó khăn về việc làm trong nền kinh tế nước ta, tiết
kiệm ngoại tệ cho nước ta do chủ trương thay thế hàng nhập khẩu, nâng cao
mức sống của người lao động nói chung, người dân địa phương nơi doanh
nghiệp hoạt động nói riêng. đến hết tháng 3/200, các doanh nghiệp có vốn đầu
24
tư nước ngoài đã tạo việc làm trực tiếp cho 299720 lao động và hàng chục
vạn lao động gián tiếp. Nhiều cán bộ, kỉ sư của chúng ta khi vào làm việc
trong các doanh nghiệp này đã có điều kiện để phát huy năng lực của mình
vươn lên đảm nhận những công việc quan trọng, có uy tín với các đối tác
nước ngoài, tăng thêm lòng tin của họ vào nước ta.
Cuối cùng, hoạt động đầu tư nước ngoài đã góp phần đưa những tiềm
năng về đất đai, rừng, biển của nước ta trở thành hiện thực thông qua các dự
án thăm dò và khai thác dầu khí, dự án sản xuất linh kiện điện tử, dệt may
đánh giá một cách tổng quát, trong hơn mười năm qua, hoạt động đầu tư
nước ngoài đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt
Nam, đặc biệt là giai đoạn hiện nay khi nước ta tiến hành công nghiệp hoá -
hiện đại hoá đất nước.
3. NHỮNG TỒN TẠI CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI.
Bên cạnh những vai trò to lớn trên, hoạt động đầu tư nước ngoài còn bộc
lộ nhiều hạn chế không nhỏ.
3.1 Chính xách pháp luật chưa hoàn thiện
Nnhiều đối tác nước ngoài đã lợi dụng quan hệ hợp tác đầu tư hay sự sơ
hở trong chính sách và pháp luật của Việt Nam để buôn lậu và ttrốn thuế, gây
thiệt hại không nhỏ cho nước ta. Điển hình như vụ buôn lậu 1,2 tr gói
"caraven"của công ty trách nhiệm hửu hạn hàng hải Lizera năm1993 hoặc vụ
nhà máy thuốc lá Lotabavà nhà máy thuốc lá khánh hoà hợp tác sản xuất
Malbro giả để xuất khẩu sang Hà Lan năm 1995.