CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ CHẤN THƯƠNG THẬN KÍN pot - Pdf 20

CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ CHẤN THƯƠNG THẬN KÍN

TÓM TẮT
Mục đích: Trong 43 trường hợp chấn thương thận kín được điều trị từ 01/01/2006
- 01/06/2009, chúng tôi đánh giá lại vấn đề chẩn đoán, xử trí và khả năng điều trị
bảo tồn trong chấn thương thận kín.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồ sơ 43 bệnh nhân bị chấn
thương thận kín được điều trị tại phân khoa Ngoại Tiết Niệu - Bệnh Viện Nhân
Dân Gia Định trong thời gian 01/01/2006 - 01/06/2009. Dựa vào dấu hiệu lâm
sàng và chẩn đoán hình ảnh, phân độ chấn thương thận theo bảng phân độ chấn
thương thận kín của hội chấn thương ngoại khoa Hoa Kỳ.
Kết quả: Trong 43 trường hợp chấn thương thận có 26 trường hợp chấn thương
thận nhẹ, 08 trường hợp chấn thương thận nặng; 19 trường hợp chấn thương thận
bên phải; 26 trường hợp chấn thương thận bên trái; 01 chấn thương thận bệnh lý;
36 trường hợp điều trị nội khoa bảo tồn; 08 trường hợp phải can thiệp ngoại khoa,
với 2 trường hợp điều ngoại bảo tồn và 06 trường hợp cắt thận.
Kết luận: Việc phân độ chấn thương thận kín giúp ta có hướng điều trị đúng đắn.
Chụp cắt lớp điện toán là cần thiết khi muốn đánh giá và phân độ chấn thương
thận kín chính xác hơn. Khuynh hướng điều trị bảo tồn bệnh nhân là do tính hiệu
quả, an toàn cho chức năng thận và đời sống bệnh nhân.
Từ khóa: Chấn thương thận, chẩn đoán, điều trị.
ABSTRACT
Purpose: Diagnosis and treatment of blunt renal trauma. We assessed the
diagnosis, the treatment and possibility of conservative treament of blunt renal
trauma.
Materials and methods: We have researched on those patients who were treated at
Department of Urology-Nhan Dan Gia Đinh hospital from 01/01/2006 -
01/06/2009. We use the classification of the renal injuries of AAST (American
Association for the surgery of trauma), base on the clinical signs and imaging
diagnosis.
Result: 43 patients including of 26 cases are minor and 08 cases are major renal

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chúng tôi đã tổng kết được 43 hồ sơ bệnh án bệnh nhân bị chấn thương thận kín
được điều trị tại phân khoa Ngoại Tiết Niệu - Bệnh Viện Nhân Dân Gia Định
trong giai đoạn Từ 01/01/2006 - 01/06/2009. Chúng tôi loại bỏ những trường hợp
vết thương thận do đả thương hoặc do tai nạn vì không nằm trong định nghĩa chấn
thương thận kín.
Thông qua hồ sơ chúng tôi khảo sát lại diễn tiến bệnh cảnh lâm sàng của bệnh
nhân với những triệu chứng như đau, tiểu máu, bụng đề kháng, shock chấn thương
kèm theo những xét nghiệm cận lâm sàng được thực hiện để đánh giá tình trạng
chung bệnh nhân, khối máu tụ, phân độ chấn thương, các sang thương tạng kết
hợp đặc biệt là trong trường hợp chấn thương trên thận bệnh lý, thận độc nhất.
Để phân loại chấn thương thận theo mức độ nặng nhẹ chúng tôi dựa trên bệnh
cảnh lâm sàng bệnh nhân kết hợp với siêu âm và chụp cắt lớp điện toán (CT-scan)
nếu có. Phân độ chính xác chấn thương thận chúng tôi dựa vào bảng phân độ chấn
thương thận của hội chấn thương ngoại khoa Hoa Kỳ (Moore và cs.1989).
Grade[†]

Loại

Description
I

Dập thận

Tiểu máu đại thể or vi thể, xn niệu học bình thường
Tụ máu

Dưới bao, chưa vỡ không rách chủ mô
II


quanh thận, hình dạng thận đối bên(2) và các sang thương kết hợp. Trường hợp để
đánh giá chính xác hơn mức độ chấn thương và xếp phân độ chấn thương chỉ định
CT-scan rất cần thiết và quan trọng. Chúng tôi không có trường hợp nào được
chụp động mạch thận.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1: Phân loại bệnh nhân theo tuổi
Tuổi

Số bệnh nhân

Tỉ lệ
<20t

8

18,6%
20-40t

28

65,1%
40-60t

5

11,6%
>60t

2


Tổng kết có 4/8 trường hợp (50%) tai nạn sinh hoạt là do đả thương trong khi xô
xát
Bảng 3: Các sang thương kết hợp Số bệnh nhân
Hệ xương

5
Các tạng

6
Lồng ngực

4
Sọ não

2
Tổng kết có 16/43 trường hợp (37,2%) có sang thương kết hợp kết hợp, trong đó
có 4 trường hợp tổn thương trên 2 cơ quan khác ngoài thận. Có trường hợp vỡ
bàng quang sau đã thương.
Tổng kết hồ sơ 43 bệnh nhân chúng tôi ghi nhận:
- Chấn thương thận (T): 24 trường hợp
- Chấn thương thận (P): 18 trường hợp
- Chấn thương cả 2 thận: 1 trường hợp
- Trường hợp chấn thương thận bệnh lý: 1 trường hợp có sạn khúc nối bể thận, 1
trường hợp thận ứ nước độ 2.
- Thời gian nằm viện 8,8 ngày; ngắn nhất là 1 ngày, dài nhất là 23 ngày
- 7 trường hợp phải truyền máu; truyền ít nhất là 1 đơn vị và nhiều nhất là 7 đơn vị
Bảng 4: Bệnh cảnh lâm sàng khi nhập viện

kèm - 2 trường hợp vỡ lách - 1 trường hợp dập nát đại tràng, chấn thương cột
sống. Không có trường hợp tử vong.
Số bệnh nhân vào viện không có triệu chứng đái máu chiếm tỉ lệ 25%. Tỉ lệ tiểu
máu sau chấn thương thận là 75% có thể xuất hiện tiểu máu sau chấn thương vài
giờ hoặc trong thời gian nằm điều trị. Có 2 trường hợp chấn thương thận độ V,
bệnh nhân nhập viện trong bệnh cảnh sốc chấn thương phải cắt thận nhưng không
biểu hiện tình trạng đái máu. Như vậy với chấn thương được đánh giá là nặng của
thận mà không kèm triệu chứng đái máu cần phải làm tiếp các chẩn đoán hình ảnh
để xác minh toàn vẹn của hệ niệu.
Bảng 5: Số trường hợp thực hiện siêu âm, UIV, CT- scans Số bệnh nhân

Tỉ lệ
Siêu âm

43

100,0%
UIV

0

0,0%
CT-scans

30

69,8%

11,8%
Độ V

4

11,8%
Tổng

34

100,0%
Chúng tôi chỉ thực hiện phân độ 34/43 trường hợp chấn thương thận kín (79,1%)
dựa vào 2 yếu tố 1- mổ thám sát; 2- kết quả CT-scans (30 trường hợp). Những
trường hợp bệnh nhân không được chụp CT-scan chỉ thực hiện siêu âm và không
mổ thám sát thì khó phân độ rõ ràng mức độ chấn thương
Bảng 7: phương pháp điều trị Số bệnh nhân

Tỉ lệ
Nội khoa

36

83,7%
Mổ bảo tồn

2


Thương Hoa Kỳ (AAST), thành 5 độ tiện cho việc sắp xếp bệnh nhân.
Siêu âm là phương tiện chẩn đoán ban đầu tương đối sớm về tình trạng chấn
thương thận kín cũng như theo dõi bệnh nhân sau này. Siêu âm giúp đánh giá mức
độ, vùng tổn thương trên nhu mô thận, độ to của khối máu tụ quanh thận, có tổn
thương tạng bụng kết hợp hay không, đặc biệt là hình dáng của thận còn lại đối
bên.
Thực hiện CT-scan giúp cho việc chẩn đoán chính xác và rõ ràng hơn tình trạng
thận tổn thương và thận đối bên dễ dàng phân độ chấn thương thận, giúp cho vấn
đề điều trị được đầy đủ và chính xác hơn, đồng thời giúp ta đánh giá được những
thương tổn kết hợp của các cơ quan lận cận; nhược điểm lớn nhất của CT-scan
hiện nay là giá thành cao.
Trong những năm gần đây, xu hướng điều trị bảo tồn chấn thương thận
kín(2,4,5,7) được đề cao nhờ có nhiều tiến bộ trong việc vận chuyển cấp cứu bệnh
nhân, trong chẩn đoán và sự hỗ trợ của chụp cắt lớp điện toán. Trong nghiên cứu
cho thấy, trong 34 trường hợp chấn thương thận kín, nếu tính chung cả việc điều
trị phẫu thuật bảo tồn thì đã có 31 bệnh nhân (91.2%) được điều trị theo hướng
này. Nếu tính riêng các trường hợp phải can thiệp phẫu thuật thì có 4/7 (57%)
bệnh nhân được mổ bảo tồn.
Trong những trường hợp đa chấn thương kèm sốc, một chấn thương thận độ IV, V
kèm theo có nguy cơ thúc đẩy đến tử vong thì chỉ định cắt thận được đặt ra. Tuy
nhiên, cũng không nên chỉ định cắt thận quá rộng rãi mà không cố gắng giải quyết
việc điều trị bảo tồn thận cho bệnh nhân.
Mổ cấp cứu trong chấn thương thận kín được chỉ định khi có thương tổn trong ổ
bụng kèm theo đòi hỏi phải can thiệp, trong chấn thương thận độ V, bệnh nhân có
khối máu tụ quanh thận lớn, máu cục trong bàng quang kèm theo tình trạng huyết
động không ổn định.
Việc mở phúc mạc sau để kiểm tra tình trạng chấn thương của thận tại thời điểm
mổ bụng cấp cứu cần cân nhắc. Đây là vấn đề khá tế nhị, vì nếu mở ngay ổ thận,
lấy hết máu cục để kiểm tra thận thì máu sẽ chảy chan hòa từ vết rách ở chủ mô
thận. Lý do là áp lực của khối máu tụ quanh thận không còn nữa, vì chính áp lực

trong chấn thương thận kín, chúng tôi nhận thấy rằng:
Việc phân độ trong chấn thương thận kín là cần thiết, giúp chúng ta có thái độ điều
trị đúng đắn và kịp thời.
Khi siêu âm và niệu ký nội tĩnh mạch không cung cấp đủ thông tin để đánh giá và
phân độ chấn thương thận kín một cách chính xác , chụp cắt lớp điện toán sẽ là cần
thiết.
Khuynh hướng điều trị nội khoa bảo tồn trong chấn thương thận kín hiện nay là
chính và đa số đều có kết quả tốt nếu được chỉ định đúng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status