ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC VÀ CÁC DẠNG ĐỘT QUỴ TÓM TẮT
Đặt vấn đề: đột quỵ là vấn đề sức khoẻ quan trọng trên toàn thế giới. Hiện
nay, tại Việt Nam đây là bệnh nằm trong 4 nguyên nhân hàng đầu gây tử
vong. Các dữ liệu về đột quỵ, đặc biệt các dạng đột quỵ còn rải rác.
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm dịch tễ học và các dạng đột quỵ.
Phương pháp: nghiên cứu này gồm 1.297 bệnh nhân điều trị tại bệnh viện
Đa Khoa Đồng Tháp trong vòng tháng 08 năm 2005 đến tháng 01 năm 2007.
Kết quả: có tất cả 18,12% bệnh nhân tử vong khi ra viện (tính cả những
trường hợp chuyển viện tử vong). Tần suất các yếu tố nguy cơ: 40,56% hút
thuốc lá, 36,31% uống rượu, và 10,94 % đái tháo đường trong các bệnh nhân
này. Điểm APACH II trung bình 10,11. Thể tích xuất huyết não > 5, 5 cm
3
có tiên lượng xấu là 65,78%. Phần lớn các bệnh nhân quá giai đoạn cửa sổ
điều trị.
Kết luận: điều cần thiết phải làm là giáo dục bệnh nhân về dự phòng, đặc
biệt yếu tố nguy cơ và thành lập đơn vị điều trị đột quỵ.
Từ khoá: ĐQ: đột quỵ; TBMMN: tai biến mạch máu não; NMN: nhồi máu
não; XHN: xuất huyết não; XHN-MN: xuất huyết não- màng não; BV: bệnh
viện; BN: bệnh nhân.
ABSTRACT
Background: stroke is a major health problem in the world. It is now among
the top four leading cause of death in the VietNam. Data on risk factor
profiles, especcially stroke subtypes are sparse.
Objective: To study the epidemiological characteristics and forms of stroke
at Dong Thap hospital
Method: this research includes 1297 stroke patients in the Dong Thap
General hospital between August 2005 and January 2007.
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Thiết kế nghiên cứu
Tiền cứu, cắt ngang mô tả thực hiện trong 18 tháng từ tháng 08 năm 2005
đến tháng 01 năm 2007 tại BV Đa Khoa Đồng Tháp.
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả những BN được chẩn đoán NMN và XHN (kể cả XHN-MN) theo tiêu
chuẩn của WHO và CTscanner sọ não thực hiện từ lúc nhập viện đến 72 giờ sau.
Một số trường hợp đặc biệt, chúng tôi sẽ cho kiểm tra lại CT lần hai để theo dõi
tiến triển của bệnh hoặc xác định chẩn đoán.
- Tiêu chuẩn loại trừ: xuất huyết màng nhện đơn thuần và huyết khối tĩnh
mạch nội sọ.
Phương pháp nghiên cứu
Thu thập các dữ liệu
Tất cả BN ngay khi nhập viện được chỉ định chụp CTscanner sọ não, xét
nghiệm: công thức máu, sinh hóa, đo điện tim. Riêng khí máu thực hiện ở
BN có suy hô hấp hay hôn mê, siêu âm doppler mạch cảnh hai bên ở BN
NMN sau 7 ngày điều trị.
Thu thập dữ liệu nghiên cứu theo biểu mẫu, đối với BN có rối loạn ngôn ngữ
hay hôn mê thì thu thập thông tin qua người ở cùng. Tuy nhiên có một số
trường hợp chúng tôi không thể thu thập được thông tin thì cho vào số liệu
trống.
Phân tích thống kê
Nhập số liệu và phân tích bằng phần mềm Stata 8.0. Mô tả dân số nghiên
cứu với các biến số định lượng bằng các số trung bình và độ lệch chuẩn đối
với các đại lượng có phân phối chuẩn, bằng trung vị nếu đó là phân phối
không chuẩn; các biến số định tính bằng các tần số và tần suất.
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Có tất cả 1297 BN, nhỏ nhất 18 tuổi và lớn nhất là 103 tuổi, với 980 cas
NMN, 321 cas XHN. Trong đó 2 cas khởi đầu là NMN về sau có XHN (1
cas XH cùng bên mà không do chuyển dạng XH và 1 cas XH đối bên) và 2
phố
Cao Lãnh
Huyện
Tỉnh khác
Kampuchia
355
813
123
6
27,37
62,68
9,48
0,46
Lao
động
nhẹ
nặng
426
176
32,85
13,57
Đặc điểm BN Tỷ
lệ(%)
trí óc 29 2,24
Dân
tộc:
Kinh
Hoa
Khơ-me
1.276
bình nhập viện của NMN là 10,05 giờ trễ hơn so với XHN và tỷ lệ nhập viện
trong 3 giờ đầu khởi phát chỉ có 22,11%. Chúng ta cũng biết thời gian cửa sổ
rất là quan trọng đối với NMN để có thể sử dụng tiêu sợi huyết trong điều
trị. Lý do thời gian nhập viện của NMN trong giai đoạn cửa sổ thấp vì ĐQ
NMN ít nặng nề hơn XHN. Tâm lý người dân chỉ nhập viện khi bệnh nặng
nên chúng ta mất cơ hội điều trị sớm. Ngoài ra có 29 cas (2,66%) ĐQ trong
khi đang điều trị tại BV; 46 cas (3,55%) BN không nhớ ĐQ xảy ra lúc nào
và 148 cas (11,41%) BN không biết ĐQ xảy ra khi nào. Những BN này
thường ĐQ xảy ra khi ở một mình, lúc nhập viện trong tình trạng hôn mê
hoặc rối loạn ngôn ngữ hay mất trí nhớ. BN nhập viện vào giờ trực là 504
BN (38,86%). Thời điểm xảy ra ĐQ nhiều nhất với 156 cas (14,05%) là 7
giờ sáng, tiếp theo lần lượt là 8 giờ với 150 cas (13,51%), 6 giờ là 100 cas
(9,01%), 10 giờ là 67 cas (6,04%) và 17 giờ có 59 cas (5,32%). Có tổng
cộng 50,72% ĐQ xảy ra từ 0 đến 10 giờ.
Bảng 2: Các yếu tố nguy cơ của BN ĐQ:
Yếu tố nguy cơ BN (tỷ lệ%)
Bản thân từng ĐQ
NMN 142(40,23)
XHN 19(5,38)
Không rõ 192(54,39)
353(27,22)
Cha m
ẹ, con bị
ĐQ
66 (5,09)
Yếu tố nguy cơ BN (tỷ lệ%)
Anh, ch
ị, em bị
142 (10,94)
Yếu tố nguy cơ BN (tỷ lệ%)
(Mới:57 (4,39)
Uống rượu: Suy tim
Rung nhĩ
Nh
ồi máu cơ tim c
ũ/
ECG
Đều 14(1,08)
Nghi
ện 46(3,55)
Th
ỉnh thoảng:
411(31,69)
50(3,86)
35(2,7)
65(5,01)
Chúng tôi thử so sánh với một số nghiên cứu trong và ngoài nước gần đây
(BVCR: Chợ Rẫy; VTMTW: Viện Tim Mạch Trung ương; UHSR:
University Hospital Stroke Registry và AHSR: Austin Hospital Stroke
Registry) về các yếu tố nguy cơ
(2,10,11,16)
trong bảng 03 và nhận thấy có sự
tương đồng.
Trong đó, điểm Glasgow ngày đầu nhập viện là 3 có 70 BN ( 5,4% ) và 850
BN có điểm Glasgow 15 (65,54%). Nếu chia BN có điểm Glasgow vào ba
16,7:XHN
3,2 30,3 13,3
Hút
thuốc
40,56
40,31:NMN
2,15: NMN66,7:NMN
47 33,6
41,46: XHN 4,55:XHN 51,9 XHN
Uống
rượu
36,31
3,1:NMN
nghiện
5,49:XHN
4,3:NMN
4,55: XHN35,9: NMN
59,3: XHN
dục
8,47 34,4: NMN
16,7:XHN Bảng 4: Biểu hiện lâm sàng của BN ĐQ.
Lâm BN
Tỷ Lâm sàng BN
T
ỷ lệ
sàng lệ(%)
(%)
Khởi
phát:
Ngh
ỉ
Làm
việc
Ngủ
Thức
giấc
Cảm
xúc
Khác
743
BT: N
1
N
2
N
3
669
377
277
88
63
44
51,58
31,31
23,79
6,78
5,23
3,78
Nh
ịp
tim
N
3
:
157
254
216
12,1
21,1
18,56
Bảng 5: Điểm Glasgow của BN trong 3 ngày đầu điều trị:
Điểm
Glasgow
Nhập
viện
Sau 24
giờ
Sau 72
giờ
3 –
5
điểm
99
(7,63%)
52
(4,32%)
K
+
máu 3,68 ± 0,61 (1,81-
7,53)
Créatinemia 89,57 ± 40,32 (9-597)
Hct 38,45 ± 5,44 (11-60)
Neutrophine
9.96 ± 6,63 (24-94,7)
Xét nghiệm Kết quả Xét nghiệm Kết quả
ECG BT 778 (59,98%) TMCT/NMCTC 384 (29,61%)/15(1,16%)
Dầy thất T 316 (24,36%) Rung nhĩ 81 (6,25%)
NTT
51 (3,93%) Block nhánh 85 (6,55%)
NIHSS: N
1
N
2
N
3
12,38 ± 9,65
10,08 ± 7,67
5,83 ± 5,38
NMN
XHN
NMN
56 (5,7%); T: 58,93%
Phẫu thuật
Lệch đư
ờng
giữa
24 (1,85%)
133 (41,3%)
Chuyển dạng XH
Tổn thương củ
34 (3,47%)
126 (9,71%)
Xét nghiệm Kết quả Xét nghiệm Kết quả
Vào não thất
V tb ổ XH
Không thấy TT
10 cm
3
355 (36,26%)
Bán cầu T
Bán cầu P
Hố sau
59 (46,82%)
63 (50%)
4 (3,17%)
T: bên trái. P: bên phải. NTT: ngọai tâm thu. Vtb: thể tích trung bình
TT: tổn thương. BT: bất thường. TMCT: thiếu máu cơ tim
Về kết quả khí máu chúng tôi nhận thấy có sự phù hợp với nghiên cứu của
tác giả Nguyễn Trường Sơn khi theo dõi khí máu của BN ĐQ có thông khí
nhân tạo xâm nhập
BV
115
(5)
TACS
PACS
LACS
POCS
KPL
14,3
42,16
36,33
7,1
0,1
22
29
32,9
16,2
2
50,3
24,4
10,6
12,7
PL TOAST BVĐT
(%)
UHSR
AHSR
NMNĐML
chết. Thời điểm TV thường là 18 giờ (5,91%), kế đến là 10 giờ sáng (5,49%)
và 8 giờ và 20 giờ với tỷ lệ là 4,22%. Chúng tôi thử so sánh kết quả điều trị
với một số nơi trong bảng 8. Điều này cho thấy việc thành lập mô hình đơn
vị ĐQ là cần thiết tất yếu cho việc giảm tỷ lệ TV cũng như những di chứng
nặng của BN về sau. Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh là tỷ lệ BN nặng
(TACS) của chúng tôi cao hơn so với BV 115 (14,3% so với 2%) và phân
loại ĐQ theo Bamford của chúng tôi phù hợp với số liệu của các nước phát
triển. Điều này phản ánh là những BN nặng được nhập viện và điều trị ban
đầu tại BV tỉnh.
Bảng 8: Đánh giá kết quả điều trị:
K
ết quả
điều trị
BVĐKĐT
(%)
BV
115
Viện
TMTW
Hồi phục tốt
31,77 66,8
Di chứng
N
ặng xin
về/TV
50,11
18,22
(t
ại BV