Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển hà thành - Pdf 20

LỜI MỞ ĐÂU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiện nền kinh tế mở, tự do hoá thương mại và tự do hoá tài chính
ngày càng sâu rộng, nhu cầu về dịch vụ tài chính ngân hàng có thể phát triển
rất nhanh và vượt xa khả năng đáp ứng của các định chế trung gian tài chính
hiện có trong nước. Đây chính là điểm thu hút các tổ chức tài chính nước
ngoài chiếm lĩnh thị trường nội địa, đặc biệt khi các rào cản thị trường tài
chính ở Việt nam bị dỡ bỏ và từ 1/4/2007 Nhà nước Việt nam cho phép các
loại Định chế tài chính 100% vốn sở hữu nước ngoài được thành lập tại Việt
nam theo những cam kết hội nhập WTO. Thực tế cũng chỉ ra rằng, nhu cầu sử
dụng các dịch vụ tài chính ngân hàng của công chúng đang ngày một tăng,
đặc biệt là ở thành thị. Nhu cầu đó gắn liền với quá trình ra đời với tốc độ
nhanh chóng của các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế, cũng như quá
trình chuyển đổi các DNNN sang Công ty cổ phần. Đó là nhu cầu về giao
dịch cổ phiếu, tư vấn đầu tư, thuê mua tài chính, quản lý nợ v.v Đồng thời,
sự xuất hiện các doanh nghiệp nước ngoài trong nền kinh tế đóng vai trò như
chất xúc tác, thúc đẩy sự ra đời và phát triển nhanh chóng nhu cầu thị trường
về các dịch vụ tài chính ngân hàng. Đó là những dịch vụ liên quan đến thanh
toán không dùng tiền mặt, rút tiền tự động, dịch vụ kiều hối và kinh doanh các
công cụ phái sinh như Option, Future, Forwaed v.v Rõ ràng, nhu cầu về các
loại hình dịch vụ tài chính ngân hàng mang tính tiên phong, đột phá, có vai
trò tạo động lực kích thích sự ra đời và phát triển các nguồn cung ứng dịch vụ
trong nước. Như vậy, thị trường dịch vụ mới, hiện đại của các ngân hàng ở
Việt Nam hiện nay là thị trường đầy tiềm năng, sẵn sàng đón nhận những
công cụ tài chính và nguồn cung ứng mới trên thị trường.
Dù lộ trình thực hiện cam kết WTO vẫn bảo hộ cho các ngân hàng Việt Nam
đến năm 2010, song các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam không hề giấu kế
hoạch chiếm lĩnh thị phần trong lĩnh vực dịch vụ bán lẻ.
Cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng gay gắt, nhất là tại các đô thị
loại 1 và loại 2, nơi tập trung khách hàng có tiềm năng tài chính lớn và mật độ

4. Phương pháp nghiên cứu:
Khóa luận sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp suy luận,
phương pháp phân tích,phương pháp so sánh, phán đoán và tổng hợp để
nghiên cứu khóa luận.
5. Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo…
nội dung của Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về dịch vụ NHBL.
Chương 2: Thực trạng hoạt động NHBL tại chi nhánh BIDV Hà Thành.
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển dịch vụ
NHBL tại chi nhánh BIDV Hà Thành.DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHBL : Ngân hàng bán lẻ
BIDV : Bank for Investment and Development of Việt Nam
DNVVN : Doanh nghiệp vừa và nhỏ
NHĐT&PT : Ngân hàng đầu tư và phát triển
WTO : World Trade Organization
Tổ chức thương mại thế giới
ATM : Atomatic teller machine
NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần
POS : Point of sale terminal, Veriphone
Máy cấp phép tự động
CBCNV : Cán bộ công nhân viên DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1:Một số chỉ tiêu chính

đến một đời sống đầy đủ và sung túc hơn cho người dân không chỉ trên
phương diện thu nhập mà còn cả về trình độ dân trí cao hơn, khả năng tiếp
cận mở rộng hơn tới các dịch vụ tiêu dùng của nền kinh tế, thói quen tiêu
dùng tăng…Xu hướng này đã mang tới cho thị trường tài chính cơ hội khai
thác các nguồn lực trong dân cũng như khả năng cung cấp các dịch vụ tài
chính cho dân cư .Vì vậy, dịch vụ NHBL ngày càng được quan tâm, đầu tư và
phát triển.
Thuật ngữ “ngân hàng bán lẻ “có từ gốc tiếng Anh là Retail banking .
Theo nghĩa đen trong cung cấp dịch vụ ngân hàng bán lẻ nghĩa là cung cấp
các sản phẩm đến tận tay người tiêu dùng với số lượng nhỏ. Nó ngược với
bán buôn là việc cung cấp cho người trung gian với số lượng lớn. Ngoài ra
cũng đang tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về dịch vụ ngân hàng bán lẻ.
Theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO): dịch vụ ngân hàng bán lẻ là
loại hình dịch vụ điển hình của ngân hàng nơi mà khách hàng cá nhân có thể
đến giao dịch tại những chi nhánh (phòng giao dịch )của các ngân hàng để
thực hiện các dịch vụ như: tiền gửi tiết kiệm và kiểm tra tài khoản, thế chấp
vay vốn, dịch vụ thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ và một số dịch vụ khác đi kèm….
Theo các chuyên gia của học viện Công nghệ Châu Á – AIT: ngân hàng
bán lẻ là ngân hàng cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân
riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh, hoặc là
việc khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm dịch vụ ngân hàng thông
qua các phương tiện công nghệ thông tin, điện tử viễn thông .
Theo từ điển Ngân hàng và tin học thì Retail banking –dich vụ ngân
hàng bán lẻ / nghiệp vụ ngân hàng bán lẻ -là dịch vụ ngân hàng dành cho
quảng đại quần chúng, thường là một nhóm các dịch vụ tài chính gồm cho
vay trả dần, vay thế chấp, tín dụng chứng khoán, nhận tiền gửi và các tài
khoản cá nhân …
Như vậy, có thể đi đến một định nghĩa thống nhất và khái quát về dịch
vụ NHBL: dịch vụ ngân hàng bán lẻ có thể hiểu là dịch vụ ngân hàng được
cung ứng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông

thức khuyến mại cũng như nhiều tiện ích đi kèm.
c) Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ
Sản phẩm dịch vụ NHBL phải dựa trên nền tảng của hệ thống thông tin
hiện đại. Ngày nay, khi các ngân hàng đã ý thức được tiềm năng của hoạt
động NHBL thì vấn đề ứng dụng công nghệ hiện đại là vấn đề hết sức cần
thiết. Cũng do tâm lý và trình độ của các khách hàng cá nhân hết sưc đa dạng
nên họ vừa muốn có được dịch vụ tốt nhất với chi phí thấp nhất, vừa tiết kiệm
được thời gian giao dịch và mong muốn được phục vụ bất cứ khi nào họ có
nhu cầu. Do đó các ngân hàng phải sử dụng lượng vốn đầu tư ban đầu lớn để
thiết lập cơ sở hạ tầng về địa điểm giao dịch, hệ thống CNTT hiện đại đảm
bảo khách hàng có thể trực tiếp sử dụng trực tiếp sản phẩm tại địa điểm giao
dịch của ngân hàng, từ nhà, văn phòng của khách hàng.
d) Hệ thống phân phối của NHBL phát triển.
Để cung ứng được sản phẩm cho một phạm vi khách hàng rộng, các
ngân hàng cần phải có nhiều chi nhánh, địa điểm giao dịch, cùng số lượng
nhân viên lớn để tiếp cận và đáp ứng nhu cầu của số lượng lớn khách hàng.
Bên cạnh các kênh phân phối truyền thống, các NHBL hiện nay đã có những
kênh phân phối mới nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng và giảm
chi phí cố định cho ngân hàng.
e) Dịch vụ NHBL phong phú và đa dạng
Dịch vụ NHBL phục vụ trực tiếp cho nhu cầu tiêu dùng, cho sản xuất
và sinh hoạt. Vì thế, nó tuân theo những yêu cầu của các hàng hóa nói chung
do chính người tiêu dùng đặt ra chứ không phải nhu cầu của TCTC mô giới
trung gian. Đó là công dụng thực tế, thỏa mãn nhu cầu của con người. Các
nhu cầu của con người rất đa dạng và phong phú do đó nhưng chúng đều có
chung những yêu cầu là: nhanh, tiện ích, chính xác và an toàn. Các sản phẩm
dịch vụ của NHBL cũng phải được đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách hàng.
1.1.3. Những lợi ích của việc phát triển dịch vụ NHBL
1.1.3.1. Đối với nền kinh tế
Việc phát triển dịch vụ NHBL đẩy nhanh quá trình luân chuyển tiền,

Trình độ học vấn của dân cư sẽ nâng cao hơn vì dịch vụ NHBL ứng
dụng công nghệ cao.Vì thế đòi hỏi người sử dụng phải có ý thức học hỏi
những kiến thức mới như trình độ sử dụng mạng internet, tham khảo thông tin
…góp phần ngày càng nâng cao trình độ dân trí. Giúp người dân làm quen và
không còn cảm thấy xa lạ với những khái niệm ngân hàng tự động, ngân hàng
không người, ngân hàng ảo.
Tạo nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia từ các nguồn kiều hối từ nước
ngoài chuyển về.
1.1.3.2. Đối với ngân hàng
Đối với ngân hàng, việc phát triển dịch vụ NHBL là hết sức quan trọng và cần
thiết nhằm góp phần củng cố ngân hàng lớn mạnh, nâng cao vị thế của NH.
Một lợi ích cho thấy rõ là nguồn thu nhập đáng kể từ dịch vụ NHBL
mang lại cho ngân hàng. Phát triển dịch vụ đa dạng, nhiều tiện ích theo hướng
cải tiến phương thức thanh toán, đơn giản hoá thủ tục, mở rộng mạng lưới
hoạt động. Bên cạnh đó ngân hàng có thể phát triển những dịch vụ hỗ trợ như
dịch vụ chi trả lương cho những người có tài khoản tại nhiều NH khác nhau,
chuyển tiền mặt giao dịch tận tay người nhận…sẽ thu hút ngày càng nhiều
khách hàng đến với NH, từ đó làm tăng nguồn thu dịch vụ của ngân hàng.
Phát triển dịch vụ NHBL sẽ có điều kiện hạn chế phần nào rủi ro do các
nhân tố bên ngoài vì dịch vụ NHBL là lĩnh vực ít chịu ảnh hửơng của chu kỳ
nền kinh tế so với các lĩnh vực khác. Việc cung ứng dịch vụ cho số lượng lớn
khách hàng nên sẽ phân tán được rủi ro cho ngân hàng theo đối tượng khách
hàng. Đồng thời hệ thống NHBL sẽ tạo ra những tiện ích mới trong quản lý
và nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng: tạo nền tảng, hạ tầng cơ sở cho
phát triển và ứng dụng công nghệ ngân hàng; Quản lý tập trung và xử lý dữ
liệu trực tuyến; Nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng, rút ngắn thời gian
giao dịch với khách hàng, tăng cường khả năng bảo mật…
- Tận dụng được nguồn vốn trong thanh toán của khách hàng đang
lưu ký trên tài khoản thanh toán, ký quỹ. Những tài khoản này ngân hàng
không phải trả lãi hoặc trả lãi thấp làm cho chi phí đầu vào của nguồn vốn

Một trong những loại nguồn vốn hoạt động của NHTM là nguồn vốn
huy động. Do đó hoạt động huy động vốn là hoạt động quan trọng của các
doanh nghiệp nói chung và đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực tiền tệ ngân hàng. Hoạt động huy động vốn góp phần mang đến nguồn
vốn cho NH thực hiện những hoạt đông kinh doanh khác. Không có hoạt
động huy động vốn, NHTM sẽ không có đủ nguồn vốn để tài trợ cho hoạt
động của mình. Mặt khác, thông qua hoạt động huy động vốn ngân hàng có
thể đo lường được uy tín cũng như sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân
hàng.
NHBL tập trung huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong khu vực dân cư và
những DNVVN, nhưng nhiều nhất là huy động từ nguồn tiền gửi của khách
hàng cá nhân. Đây là tiền khách hàng gửi vào ngân hàng để tiết kiệm, để
thanh toán, chi trả các nhu cầu.
Đặc điểm của nguồn vốn huy động từ cá nhân:
- Khả năng huy động vốn tập trung tại một số địa bàn và một số khách
hàng: huy động vốn thông qua tài khoản tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết
kiệm, giấy tờ có giá, tập trung chủ yếu tại những đô thị phát triển về kinh tế
xã hội, công nghiệp, dịch vụ và phát triển công nghệ.
- Giá vốn không đồng nhất giữa các địa bàn, thời điểm: căn cứ vào điều
kiện về kinh tế, xã hội, mặt bằng lãi suất tại địa bàn, nhu cầu của ngân hàng
mà từng NH sẽ có những đề xuất lãi suất huy động từ cá nhân thích hợp.
- Giá vốn tương đối cao so với các nguồn huy động khác như từ các tổ
chức kinh tế, từ tổ chức tín dụng khác.
Nguyên nhân của các đặc điểm trên là do cơ cấu huy động vốn khác nhau,
do mức độ cạnh tranh giữa các địa bàn. Từ sự khác nhau giữa khả năng huy động
vốn và chi phí huy động vốn của các địa bàn khác nhau nên phải xác định: tạo
nguồn vốn không chỉ tập trung vào một số địa bàn mà phải mở rộng ra các địa bàn
nơi có giá vốn thấp, cân nhắc giữa mục tiêu tối thiểu hoá chi phí huy động vốn và
mục tiêu tối đa hoá tăng trưởng, tăng tính ổn định cho nguồn vốn vì những ngân
hàng có khả năng huy động nhiều nhất nguồn vốn có chi phí rẻ nhất cũng có điều

do các nguyên nhân sau đây có thể ảnh hưởng :
+ Thiếu thông tin: Khả năng tiếp cận luồng thông tin về tình hình
hoạt động của các NH thường không đồng nhất giữa các khách hàng, thậm chí
còn trái ngược nhau. Vấn đề bất cân xứng thông tin giữa NH và khách hàng
thường gây ra những khuynh hướng bất lợi cho hoạt động của các NH, đặc
biệt là thông tin sai sự thật, nhằm mục đích phá hoại.
+ Khả năng phân tích yếu: thông tin mà các khách hàng có được
nhiều khi chủ là thông tin truyền miệng, rỉ tai, không dựa trên cơ sở một sự
phân tích khoa học nào cả. Khả năng phân tích yếu cũng góp phần làm vấn đề
bất cân xứng thông tin trở nên trầm trọng hơn.
+ Việc ra quyết định chỉ phụ thuộc vào một người: quyết định của
khách hàng vì thế còn mang tính chất cảm tính, chủ quan. Công tác kế hoạch
của NH cho mục đích sử dụng nguồn vốn này do vậy trở nên khó khăn hơn.
+ Việc bảo vệ quyền lợi cho người gửi tiền chưa rõ ràng: nếu xuất
hiện một yếu tố có khả năng gây bất lợi cho người gửi tiền thì tâm lý lo sợ về
việc quyền lợi không được đảm bảo sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyết định rút
tiền. Tính chu chuyển thấp của luồng tiền vì thế chỉ mang tính tương đối.
- Giúp xây dựng mạng lưới khách hàng đa dạng, rộng khắp làm nền
tảng để phát triển các sản phẩm dịch vụ NHBL.
Ngoài ra, các ngân hàng có thể huy động vốn thông qua phát hành các
giấy tờ có giá ngắn, trung và dài hạn …
1.2.1.2. Tín dụng bán lẻ
Dịch vụ tín dụng bán lẻ bao gồm: cho vay cá nhân (như cho vay du
học, cho vay mua nhà trả góp; cho vay mua oto, kinh doanh vàng; bất động
sản…),cho vay hộ gia đình và cho vay các DNVVN(cho vay từng lần; cho
vay thấu chi; cho vay theo hạn mức….)
Đây là sản phẩm truyền thống của NHTM, góp phần tăng thu nhập của
các ngân hàng. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội , tỷ trọng cho
vay cá nhân trong dư nợ vay của các NHTM ngày càng cao, đồng nghĩa với
việc tăng nguồn thu nhập cho ngân hàng. Tín dụng bán lẻ ngày càng chiếm tỷ

(séc lĩnh tiền mặt ), hoặc dùng để thanh toán cho người bán thay vì trả trực
tiếp bằng tiền mặt (sec bảo chi, sec chuyển khoản).
Ủy nhiệm thu, ủy hiệm chi, nhờ thu, chuyển tiền,thanh toán L/C… là
những phương thức thanh toán không dùng tiền mặt truyền thống của các
NHTM.
Dựa trên tiến bộ của CNTT, các hình thức thah toán không dùng tiền
mặt ngày càng đa dạng, có nhiều tiện ích và đảm bảo an toàn hơn. Bên cạnh
đó trình độ dân cư ngày càng cao, nhu cầu sử dụng các dịch vu thanh toán có
hàm lượng công nghệ cao ngày càng tăng. Từ đó việc thanh toán không dùng
tiền mặt ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong thanh toán của nền kinh tế.
Thông qua việc cung ứng các dich vụ trên, ngân hàng sẽ thu được các khoản
phí có mức độ rủi ro thấp với tỷ trọng trong nguồn thu của hoạt động bán lẻ
ngày càng tăng.
Với việc cung cấp cá dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, NHTM
mang lại cho các cá nhân và DNVVN nhiều tiện ích trong việc thanh toán.
Nhờ lượng khách hàng này, NHTM có thể tăng thêm thu nhập từ thu phí dịch
vụ và là cơ sở phát triển các dịch vu khác. Điển hình nhất là thông qua việc
mở các tài khoản thanh toán tiền gửi thanh toán của khách hàng, các nhân
hàng có cơ hội cung cấp dịch vụ thẻ cho các cá nhân .
1.2.1.4. Dịch vụ thẻ
Thẻ ngân hàng là một sản phẩm tài chính cá nhân đa chức năng đem lại
nhiều tiện ích cho khách hàng. Thẻ có thể sử dụng để rút tiền, gửi tiền, cấp tín
dụng, thanh toán hoá đơn dịch vụ hay để chuyển khoản. Thẻ cũng được sử
dụng cho nhiều dịch vụ phi tài chính như tra vấn thông tin tài khoản, thông tin
các khoản chi phí sinh hoạt…
Vai trò của sản phẩm thẻ đối với ngân hàng:
- Dịch vụ thẻ là một nguồn thu của ngân hàng, bên cạnh đó thực tiễn
triển khai dịch vụ thẻ của các nước trên thế giới và khu vực đã chứng minh
vai trò của dịch vụ thẻ ngân hàng như là một mũi nhọn chiến lược trong hiện
đại hoá, đa dạng hoá các loại hình dịch vụ ngân hàng, đem lại nhiều tiện ích

Trong những năm gần đây, việc phát triển của CNTT, các sản phẩm
dịch vụ ngân hàng dần dần được hiện đại hóa, từ đó cho ra đời các sản phẩm
ngân hàng hiện đại, nhiều tiện ích nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng
của các cá nhân và DNVVN. Các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng hiện đại
thuộc nhóm này bao gồm những loại hình chính sau:
+ Dịch vụ tư vấn tài chính: các khách hàng cá nhân muốn đầu tư vào
một lĩnh vực nào đó trong khi họ không có đủ thông tin và khối lượng kiến
thức cá nhân trong lĩnh vực đầu tư còn không đáp ứng được, ngân hàng có thể
cung cấp các dịch vụ tư vấn dựa trên khối lượng thông tin và trình độ cán bộ
đợc chuyên sâu về nghiệp vụ. Ngân hàng có thể tư vấn cho khách hàng nhiều
lĩnh vực khác nhau như: tư vấn thuế, tư vấn thành lập doanh nghiệp, tư vấn
đầu tư bất động sản, tư vấn cho hoạt động kinh doanh chứng khoán….
+ Dịch vụ quản lý ủy thác đầu tư: ngân hàng sẽ thay mặt khách hàng
đứng tên trên các danh mục đầu tư và giải quyết các vấn đề phát sinh…
+ Dịch vụ NH tự động qua điện thoại: khách hàng có thể kiểm tra số
dư tài khoản, kiểm tra các giao dịch gần nhất, nghe các thông tin về tỷ giá và
lãi suất, yêu cầu NH gửi fax các báng sao kê, tỷ giá, lãi suất cho khách hàng.
+ Dịch vụ ngân hàng qua internet: khách hàng có thể tìm kiếm thông
tin về sản phẩm và dịch vụ của NH; truy cập thông tin vào tài khoản cá nhân
như số dư, các giao dịch của tài khoản trong từng tháng.
+ Dịch vụ ngân hàng tại nhà (home banking): khách hàng có thể thực
hiện hầu hết các giao dịch tại nhà hoặc tại văn phòng làm việc của mình thông
qua hệ thống máy tính kết nối với hệ thống máy tính của ngân hàng. Các giao
dịch thông thường bao gồm: chuyển tiền, tỷ giá lãi suất, báo nợ, báo có….
Với mục tiêu nhanh chóng mở rộng thị trường dịch vụ NHBL, dịch vụ ngân
hàng qua điện thoại, qua mạng sẽ góp phần đáng kể vào mở rộng thị trường
dịch vụ NHBL, phát huy hiệu quả kênh phân phối sản phẩm với chi phí đầu tư
thấp nếu so sánh với việc mở rộng mạng lưới bán hàng về mặt địa lý.
Tuy nhiên, các sản phẩm, dịch vụ này ở nước ta mới được áp dụng,
chưa được phổ biến rộng rãi. Đây là thi trường để các NH VN nghiên cứu để

trường pháp lý sẽ đem đến cho các NH một loạt cơ hội mới và cả những thách
thức mới, nhất là trong quá trình hội nhập của nền kinh tế VN với thế giới.
Đối với hoạt động NHBL vấn đề hoàn thiện môi trường pháp lý là rất
quan trọng.Trong xu thế toàn cầu hóa, hoạt động của NH càng phải đổi mới
để đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Tuy nhiên việc triển khai các sản
phẩm và dịch vụ mới còn gặp nhiều khó khăn về cơ sở pháp lý nhất là đối với
các sản phẩm trong hoạt đông NHBL có sử dụng hàm lượng công nghệ cao.
Chính vì thế để tận dụng được cơ hội cũng như giảm thiểu bất lợi trong quá
trình toàn cầu hóa thì hoàn thiện môi trường pháp lý là điều hết sức cần thiết.
c) Cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính –ngân hàng.
Thi trường tài chính-ngân hàng đang phát triển mạnh mẽ. Trong xu
hướng của thế giới là tăng dần tỷ trọng dịch vụ và đời sông của người dân
ngày càng cao, có rất nhiều tổ chức kinh doanh tham gia cung cấp loại hình
dịch vụ tài chính. Bên cạnh NHTM thì còn một loạt các tổ chức tài chính phi
NH khác cũng tham gia cung cấp dịch vụ như các tổ chức bảo hiểm, công ty
tài chính, tiết kiệm bưu điện Đặc biệt là sự tham gia của các NH, tổ chức tài
chính nước ngoài vào hoạt động NH làm cho sự cạnh tranh trong lĩnh vực này
ngày càng gay gắt.
Sức ép về cạnh tranh khiến các ngân hàng muốn tồn tại và phát triển thì
cần phải huy động được tối đa tiềm lực tài chính, luôn phát triển các sản phẩm
mới để thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng với giá cả thấp nhất .
d) Môi trường kỹ thuật –công nghệ
Sự phát triển mạnh mẽ của kỹ thuật –công nghệ đã tác động mạnh mẽ
tới nền kinh tế và xã hội. Nó ảnh hưởng đến cách thức sử dụng dịch vụ của
dân cư, tạo ra những nhu cầu mới, đòi hỏi mới về các sản phẩm dịch vụ NH.
Nếu NHBL là tên gọi để thể hiện một mảng dịch vụ của NH thì KT-CN là
phương tiện để thực hiện mảng dịch vụ này.Vai trò của kỹ thuật-công nghệ
được thể hiện qua:
Thứ nhất, công nghệ là tiền đề quan trọng để lưu giữ và xử lý cơ sở dữ
liệu tập trung cho phép các giao dịch trực tuyến được thực hiện .Trên cơ sở đó

phong cách giao tiếp, thái độ của nhân viên NH với khách hàng; Tính sẵn có
của các sản phẩm, dịch vụ NH dành cho các nhu cầu đa dạng của khách hàng.
1.2.2.2. Nhân tố chủ quan
a) Khả năng tài chính của ngân hàng
Nếu trong kinh doanh thông thường thì loại hình DNVVN có nhiều ưu
thế thì kinh doanh ngân hàng hiện đại, ưu thế đó thuộc về ngân hàng mạnh về
tiềm lực tài chính, NHBL đòi hỏi một mạng lưới có khả năng vươn tới những
thị trường bỏ ngỏ, điều này đòi hỏi ngân hàng phải có vốn lớn. Để phát triển
được dịch vụ NHBL thì các ngân hàng cần có tiềm lực mạnh về tài chính.Yếu
tố này đóng vai trò rất quan trọng trong việc hoàn thiện dịch vụ truyền thống
và phát triển các sản phẩm mới để nâng cao sức cạnh tranh của ngân hàng.NH
có sức mạnh về taì chính có thể đảm bảo khả năng mở rộng quy mô ,đầu tư
vào sản phẩm công nghệ cao như mạng lưới ATM, dịch vụ trực tuyến ….
Tiềm lực về tài chính cũng quyết định niềm tin của khách hàng vào
ngân hàng. Khách hàng có xu hướng tin vào những ngân hàng lớn, có uy tín,
có năng lực tài chính mạnh, họ tin rằng ngân hàng sẽ cung cấp dịch vụ tốt
hơn.Trong thời đại ngày nay ngân hàng càng quan tâm đến việc củng cố
thương hiệu và nâng cao năng lực tài chính. Khi có nhu cầu, khách hàng
thường tìm đến những ngân hàng có thương hiệu mạnh hơn là những ngân
hàng không có tên tuổi.Vì vậy xây dựng thương hiệu và gia tăng khả năng tài
chính là điều mà bất cứ ngân hàng nào cũng muốn đạt được.
b) Tổ chức bộ máy của ngân hàng
Hiện nay hầu hết các NH VN có mô hình tổ chức theo kiểu truyền
thống.Các phòng ban hiện nay phân định theo loại hình nghiệp vụ trong khi ở
các ngân hàng tiên tiến thì phân theo tiêu thức đối tượng khách hàng và nâng
cao chất lượng dịch vụ khách hàng. Đây là nguyên nhân cơ bản khiến cho
dịch vụ NHBL hiện nay không đáp ứng được nhu cầu khách hàng, làm phân
tán nguồn lực do không chuyên sâu nghiệp vụ của các tầng lớp cán bộ,đặc
biệt là cán bộ lãnh đạo. Do đó đòi hỏi các ngân hàng phải bố trí phòng ban
một cách hợp lý theo đối tượng khách hàng đảm bảo thông qua ‘một cửa’có

Trong xu thế hội nhập, cạnh tranh trên thị trường bán lẻ ngày càng gay
gắt thì vấn đề về phân phối hết sức quan trọng, nó tạo ra sự kết nối giữa ngân
hàng và khách hàng.Tạo lập các kênh phân phối của một ngân hàng kinh
doanh bán lẻ để tối đa hóa việc đưa các sản phẩm, dịch vụ đến với khách hàng
phù hợp với các nhu cầu đa dạng của khách hàng và trình độ công nghệ.
Việc phát triển các kênh phân phối là một trong những giải pháp hàng
đầu để phát triển dịch vụ NHBL.Vì vậy, cần tích cực phát triển mạng lưới các
chi nhánh cấp I và cấp II.Chú trọng mở thêm các phòng giao dịch vệ tinh với
mô hình gọn nhẹ, đáp ứng nhanh chóng và hiệu quả nhu cầu sử dụng dịch vụ
ngân hàng của người dân.
Cùng với việc mở rộng kênh phân phối truyền thống –hệ thống các chi
nhánh, việc đa dạng hóa kênh phân phối hiện đại đóng vai trò là một yếu tố
làm nên thành công trong cuộc đua tranh ngày càng gay gắt về cung cấp các
sản phẩm dịch vụ. Điều này có nghĩa là đa dạng hóa sự lựa chọn cho khách
hàng, giảm chi phí và tăng lợi nhuận cho ngân hàng.
Có một mạng lưới phân phối rộng thì cũng cần phải tính toán việc đặt
địa điểm giao dịch ở đâu để đạt hiệu quả kinh doanh đồng thời cũng đòi hỏi
sự kiểm tra, giám sát đảm bảo an toàn và hiệu quả.
e) Trình độ khoa học &công nghệ

Trích đoạn Những hạn chế & nguyên nhân Định hướng chung về hoạt động phát triển dịch vụ NHBL của BID Đa dạng hóa & phát triển các sản phẩm,dịch vụ NHBL Tăng cường công tác marketing tới khách hàng Đa dạng kênh phân phối và thực hiện phân phối hiệu quả
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status