Văn hoá gia đình người Khơme ở Trà Vinh
Người Khơme sinh sống lâu đời ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), tập trung nhiều
nhất ở các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang… Ở Trà Vinh,
người Khơme là cư dân đông thứ hai (sau người Kinh). Mặc dù cư trú lâu đời và cộng cư
với các tộc người khác, tộc người Khơme có một nền văn hóa cổ truyền đặc sắc mang
đậm sắc thái văn hóa Khơme.
Quan sát diện mạo văn hóa của người Khơme ở ĐBSCL, có thể thấy, dân tộc này từ xa
xưa đã chịu ảnh hưởng sâu nặng nền văn hóa Ấn Độ, thông qua đạo Bàlamôn rồi đạo
Phật. Phật giáo Tiểu Thừa có nguồn gốc từ Xiêm La mới dần dần ảnh hưởng rộng trong
cộng đồng Khơme. Từ thế kỷ VIII trở đi, đạo Phật Tiểu Thừa là chỗ dựa tinh thần chủ
yếu của người Khơme.
Gia đình và phum sóc đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc giữ gìn và bảo lưu các
giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của người Khơme.
Gia đình người Khơme ở ĐBSCL nói chung, ở Trà Vinh nói riêng bao gồm 2 loại hình:
gia đình hạt nhân và gia đình phức hợp hay gia đình không phân chia. Ở đây mỗi gia đình
là một đơn vị kinh tế và xã hội độc lập, có nhà ở riêng, có cơ sở kinh tế như: ruộng đất,
trâu bò, dụng cụ sản xuất… Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình chủ yếu là giữa
vợ và chồng, giữa bố mẹ và các con, giữa ông bà và cháu, giữa anh chị em. Những mối
quan hệ này có những nét đặc thù, phản ánh đặc điểm trong quan hệ thân tộc của người
Khơme, khác với quan hệ của các tộc người khác ở nước ta.
Trong gia đình Khơme, người chồng hay người cha là lực lượng chủ yếu sản xuất nông
nghiệp và giao dịch với bên ngoài, tiếp đón khách. Tất cả các công việc còn lại như nội
trợ, chăm sóc, dạy dỗ con cái và quản lý chi tiêu trong gia đình thuộc về người vợ. Những
công việc hệ trọng trong gia đình như mua bán, sắm sửa vật dụng quý giá, đắt tiền và
cưới vợ gả ch
ồng cho con cái, làm phước vào chùa… đều có sự thống nhất giữa vợ và
chồng. Nhìn chung, quan hệ giữa vợ và chồng người Khơme khá bình đẳng, không khí
gia đình hòa thuận, ít khi có xung đột…
Sự bình đẳng này còn thể hiện ở chế độ sở hữu tài sản. Trong gia đình, ngoài tài sản
chung do công sức hai vợ chồng làm ra trong thời gian chung sống thì vợ và chồng đều
là vấn đề có ý nghĩa rất lớn với cấu trúc thân tộc trong phum. Những hình thức hôn nhân
giữa các anh em họ chéo và anh em họ song song ở thế hệ thứ nhất, hôn nhân giữa anh
em ở thế hệ thứ hai, cũng như hiện tượng hôn nhân anh em chồng và chị em vợ đã làm
cho sự liên kết, quan hệ thân thuộc giữa các thành viên trong phum Khơme thuộc về cả
hai phía cha và mẹ
. Nguyên tắc này củng cố mối quan hệ tình cảm, kinh tế giữa họ với
nhau, ngoài ra còn nhằm mục đích bảo vệ tài sản của gia đình không thất thoát ra ngoài.
Người Khơme thường cư trú trên các giồng, khai thác những vùng đất thấp phía trước và
sau giồng, từng bước biến chúng thành đồng ruộng. Những cụm dân cư rời nhỏ gọn là
phum, nhiều phum hợp thành sóc hoặc lớn hơn là xã xen kẽ với các ấp, xã c
ủa người Việt
và người Hoa. Hình thái cư trú sau hôn nhân của người Khơme do tính chất xã hội, quan
hệ trong việc tính huyết thống và tính chất của gia đình quy định. Đa số nhà nghiên cứu
cho rằng hôn nhân cư trú bên vợ là hiện tượng phổ biến ở người Khơme. Tác giả Lâm
Thanh Tòng nhận xét: “Đặc điểm phổ biến của người Khơme trong hôn nhân là cư trú
phía vợ, đặc điểm đó nổi bật lên đậm nét trong từng phum. Tức là chàng rể của mỗi gia
đình khi ra ở riêng thì cất nhà ở sát ngay bên cạnh bố mẹ vợ trong cùng một phum. Quá
trình đó lặp lại từ thế hệ này sang thế hệ kia đưa đến tình hình thành viên trong một phum
thường là bà con của nhau theo dòng nữ”. Tác giả Đỗ Khắc Tụng thì cho rằng: "Mặc dù
không có một quy định bắt buộc nào trong phong tục hay quy tắc văn hóa, trong thực tế
cách cư trú bên vợ thường phổ
biến hơn và được ưa thích hơn. Trong trường hợp này,
hoặc đôi vợ chồng ở chung với gia đình cha mẹ vợ trong một căn nhà, hoặc họ cất nhà ở
gần quanh nhà cha mẹ vợ nghĩa là trong chu vi của phum bên vợ. Đây là một tập tục cư
trú còn đậm nét của người Khơme ĐBSCL, và phải chăng đó là tàn dư của một chế độ cư
trú theo mẫu hệ xưa kia".
Theo truyền thống văn hóa nông nghiệp, gia đình người Khơme Trà Vinh có nhiều thế hệ
cùng chung sống trong một mái nhà. Trong giai đoạn hiện nay, mô hình trên dần dần
cũng chuyển biến theo sự phát triển của xã hội. Chúng ta đang thực hiện công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước thì "chất công nghiệp" ngày càng được tăng lên đồng thời
với nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng có đông đồng bào dân tộc sinh sống ), góp phần
xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.