Tìm hiểu một số tập đoàn báo chí trên thế giới và chủ trương hình thành tập đoàn báo chí ở VN - Pdf 20

Tìm hiểu một số tập đoàn báo chí trên thế giới và
chủ trương hình thành tập đoàn báo chí ở VN
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Ở Việt Nam, các điều kiện khách quan và chủ quan gần như đã chín muồi cho việc
triển khai mô hình tập đoàn báo chí. Sau 20 năm đổi mới, báo chí Việt Nam đã lớn mạnh về
mọi mặt và đang có nhu cầu vươn cao, vươn xa hơn nữa.
Trên thế giới, từ hơn 100 năm nay, đã có việc các cơ quan báo chí sáp nhập thành tập
đoàn, hướng đến mục tiêu lợi nhuận kinh tế, mở ra một huớng làm kinh tế cho ngành công
nghiệp báo chí – truyền thông, biến ngành này trở thành một ngành kinh doanh nhiều lợi
nhuận. Xu hướng của các tập đoàn truyền thông hiện nay là vươn ra ngoài lãnh thổ, bởi sự
phát triển của các tập đoàn trong nước đã đến hồi tới hạn. Trong khi đó, châu Á, trong đó có
Việt Nam ta, lại là một thị trường giàu tiềm năng và mới bước đầu được khai phá. Cùng với
đợt sóng này là đợt sóng toàn cầu hoá, khi Việt Nam chuẩn bị gia nhập vào WTO, như vậy,
việc có một tập đoàn làm đối tác của các tập đoàn truyền thông khác, nắm giữ thế chủ động
được xem như là một việc làm cần kíp.
Trên cơ sở nhận định tình hình trong và ngoài nước, nhà nước đã đưa ra chủ trương
cho phép hình thành các tập đoàn báo chí, và trước mắt, tạo một số điều kiện nền tảng để
báo chí gia tăng tiềm lực kinh tế.
Đề tài NCKH SV “Tìm hiểu một số mô hình tập đoàn báo chí trên thế giới và
vấn đề xây dựng tập đoàn báo chí ở Việt Nam” muốn dự phần vào công việc mà Thứ
trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin Đỗ Quý Doãn đã chỉ ra: “Trên thế giới có nhiều tập đoàn
báo chí. Mỗi mô hình có những ưu điểm, đặc trưng riêng của từng nước. Chúng ta nên lựa
chọn, học tập để xây dựng một mô hình cho phù hợp. Đây là một vấn đề rất mới. Chúng ta
phải vừa làm, vừa rút kinh nghiệm”[27].

2. Tình hình nghiên cứu:
Tập đoàn báo chí là một mô hình kinh tế báo chí đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới,
và chủ yếu được các nhà nghiên cứu báo chí – truyền thông trên thế giới tiếp cận dưới hai
góc độ: lịch sử báo chí và xã hội học truyền thông. Do việc hình thành các tập đoàn báo chí
ở các nước tư bản phương Tây tuân theo quy luật phát triển kinh tế, các nghiên cứu phương

những gợi ý ứng dụng phù hợp. Nhiệm vụ nghiên cứu mô hình quản lý, do giới hạn về tầm
nhìn, bản lĩnh chính trị và trình độ nghiên cứu khoa học, xin được tạm gác lại.

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài:
Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng. Các phương
pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu là phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, mô tả,
phỏng vấn lấy ý kiến …
5. Giới hạn của đề tài:
Đề tài “Tìm hiểu một số tập đoàn báo chí trên thế giới và chủ trương hình thành tập
đoàn báo chí ở Việt Nam” là một đề tài có trọng tâm nghiên cứu rõ ràng. Tuy vậy, trong quá
trình nghiên cứu, do hạn chế về nguồn tài liệu tham khảo và năng lực xử lý thông tin cũng
như do giới hạn về các mối quan hệ giao tiếp trong giới báo chí, đề tài buộc phải giới hạn ở
một phạm vi phù hợp.
Trong quá trình tiếp cận với rất nhiều tập đoàn báo chí trên thế giới, người viết chỉ
chọn tìm hiểu và giới thiệu 2 tập đoàn báo chí tiêu biểu của Mĩ (News Corp và Gannett), 6
tập đoàn báo chí của Trung Quốc, và tập đoàn Singapore Press Holdings của Singapore.
Trong quá trình khảo sát bước chuẩn bị thành lập tập đoàn của các cơ quan báo chí,
người viết chỉ chọn tìm hiểu và tiếp cận với 6 cơ quan báo chí (chủ yếu trong lĩnh vực báo
in) là: Tiền Phong, VietNamNet, Thanh Niên, Sài gòn Giải Phóng, Saigon Times Group, và
Tuổi Trẻ.

6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn:
Trong thời gian qua, khái niệm “tập đoàn báo chí” trở thành môt đề tài bàn tán trong
giới báo chí – truyền thông. Nói cách khác, chưa có định nghĩa chính thức về khái niệm này
ở Việt Nam. Ở mức độ nghiên cứu còn hạn chế, đề tài NCKH SV “Tìm hiểu một số tập đoàn
báo chí trên thế giới và chủ trương hình thành tập đoàn báo chí ở Việt Nam” tạm thời đưa ra
một định nghĩa. Ngoài ra, thông qua quá trình nghiên cứu các tập đoàn báo chí trên thế giới,
người thực hiện cũng tạm thời đưa ra một số yếu tố đem lại cái nhìn toàn diện về một tập
đoàn báo chí. Đây chính là ý nghĩa lý luận của đề tài.
Về ý nghĩa thực tiễn, có thể thấy đề tài NCKH SV này là một tài liệu tham khảo có

học hiểu về mọi mặt trong thế giới, nắm vững các quy tắc, luật lệ của thế giới. Kinh tế
phát triển, đời sống của người dân được nâng cao, trình độ dân trí phát triển (hiện nay, tỉ lệ
mù chữ ở Việt Nam chưa đầy 7%, “rất thấp so với thế giới” [42]). Người dân sẵn sàng đầu
tư tiền của, thời gian cho việc tiếp nhận thông tin, học tập, vui chơi giải trí (những chức
năng của báo chí), đó là cơ hội dẫn đến sự phát triển tất yếu của báo chí – truyền thông, theo
đúng tinh thần: báo chí đồng hành với sự phát triển kinh tế đất nước.
Theo tổng kết của Bộ Văn hoá – Thông tin, trong thời kì đổi mới, “hệ thống báo chí
nước ta có bước phát triển quan trọng cả về loại hình, số lượng và chất lượng” [26], với đủ
các phương tiện truyền thông tiên tiến nhất trên thế giới. Ngoài sự phát triển khởi sắc của 3
loại hình báo chí truyền thống là báo in, báo nói, báo hình, là sự nở rộ của loại hình báo điện
tử (hay còn gọi là báo trực tuyến, báo online), và sự “diệu kì” của các loại hình báo chí qua
điện thoại di động. Thực sự, chúng tôi chưa dám khẳng định số liệu chính thức và mới nhất
về báo chí Việt Nam hiện nay, cũng như chưa có được số liệu tăng trưởng báo chí trong
vòng 5 năm trở lại đây. Số liệu được xem là chính thức đối với báo chí trong và ngoài nước
dừng lại ở mốc năm 2004, chủ yếu lấy từ hai nguồn: Bộ Văn hoá – Thông tin (các phát biểu
trước báo giới của Bộ trưởng Phạm Quang Nghị và Thứ trưởng Đỗ Quý Doãn) và Ban Tư
tưởng – Văn hoá Trung Ương (phát biểu của Trưởng Ban Nguyễn Khoa Điềm). Các số liệu
cập nhật về mảng báo nói, báo hình, báo trực tuyến và các thông tin khác chủ yếu trích dẫn
từ các bài báo và các câu chuyện hậu trường nghề báo[1].
1. Về mảng báo in:
Theo thống kê của Bộ Văn hoá – Thông tin, nước ta hiện có 553 cơ quan báo chí, trong đó
có 157 tờ báo và 396 tạp chí với hơn 713 ấn phẩm báo chí và khoảng hơn 1000 bản tin [26].
(Ngoài ra, còn có một số liệu khác là 676 cơ quan báo chí, trong đó có 680 “loại báo in” với
hơn 600 triệu bản/năm[2].)
Theo nhận định của tác giả Nguyễn Lê Hoàn,“kể từ khi mở cửa kinh tế, số lượng báo viết
Việt Nam tăng lên nhanh chóng, đến 2004 có hơn 500 cơ quan báo chí với khoảng trên 650
ấn phẩm thay vì 268 ấn phẩm vào năm 1992.” [15] Như vậy, chỉ trong vòng 12 năm, số
lượng ấn phẩm ở nước ta đã tăng gần gấp ba.
Về tổng số lượng phát hành, theo giáo trình “Công tác tổ chức và quản lý cơ quan báo chí”,
GV Bùi Huy Lan cho biết con số phát hành bình quân của gần 700 ấn phẩm báo, tạp chí, bản

của hệ thống tạp chí theo diện rộng (số lượng) mà còn theo chiều sâu (chất lượng). Các ấn
phẩm mang tính xã hội và thương mại cao góp phần dẫn đến sự hình thành và sôi động hoá
thị trường báo chí những năm gần đây. Từ các tạp chí xuất bản hàng quý, hai tháng, hàng
tháng, đến nay, nổi trội là các tờ tạp chí ra 2 – 4 kỳ/tháng (Tạp chí Thế giới mới, Tạp chí
Kinh tế châu Á Thái Bình Dương, Tạp chí Thương mại, Tạp chí Thời trang trẻ, Tạp chí Tiếp
thị Việt Nam, Tạp chí Gia đình Việt Nam …). Xu hướng tăng kỳ phát hành là kết quả của sự
ra đời loại tạp chí mang tính giải trí, đánh trúng thị hiếu của độc giả, đẩy số phát hành lên
cao.
Hiện nay, có thể thấy rõ sự phân chia hai mảng tạp chí: tạp chí chuyên ngành – nội bộ[4] và
tạp chí mang tính giải trí.
Các tạp chí chuyên ngành – nội bộ thường có con số phát hành không đáng kể. Một số tờ
vẫn phải sống nhờ bao cấp, chỉ có khoảng 200 đầu tạp chí trực thuộc liên hiệp hội, các hội
khoa học, hội kinh tế, hội nghề nghiệp, đoàn thể chính trị - xã hội, các hội phi Chính phủ, …
được xếp vào dạng đơn vị sự nghiệp có thu, hoạt động theo cơ chế tự trang trải. Chính thực
trạng “nghèo nàn” của một số tạp chí bao cấp đã góp phần đưa đến một nhận xét của cơ
quan quản lý báo chí: một số tạp chí có cùng tôn chỉ mục đích, dẫn đến sự thừa thãi và lãng
phí.
Mảng tạp chí mang tính giải trí đang chiếm thị phần lớn trên thị trường báo và tạp chí, với số
phát hành xấp xỉ hàng vạn bản mỗi tuần, thậm chí còn lấn lướt cả một số tờ tuần báo yếu về
lực. Mặc dù chỉ mới ra đời khoảng vài chục đầu tạp chí, mảng tạp chí này chính là một trong
những động lực thúc đẩy cạnh tranh kinh tế, tạo đà phát triển cho làng báo. Đó là các tạp chí
Thời Trang Trẻ, Tiếp Thị & Gia Đình, Cẩm nang mua sắm, Sành Điệu, Mốt, Mốt và Cuộc
sống, Tiếp Thị Việt Nam, …
Sở dĩ nhận định các tạp chí nói trên thúc đẩy cạnh tranh kinh tế, tạo đà phát triển cho làng
báo chính là vì có hiện tượng một số tờ báo đã có thương hiệu, và cả các tờ đang gặp “khó
khăn” cũng xin ra số phụ cuối tháng ở dạng tạp chí – như một lối ra, lối thoát hiểm. Đó là
các tờ như Sành điệu của báo Du lịch Việt Nam, Thị trường Tiêu dùng của báo Quốc tế,
Người Đẹp của Tiền Phong, Đẹp của Thông tấn xã, tạp chí truyền hình của các Đài THViệt
Nam, Đài THHN, Đài TH TP.Hồ Chí Minh …
Góp phần làm toàn diện hơn bức tranh về tình hình báo chí của Việt Nam những năm gần

chí: Việt Nam có một hệ thống Phát thanh – Truyền hình từ Trung ương đến các tỉnh, thành,
huyện, xã hết sức hùng mạnh.
Tuy nhiên, bên cạnh những nhận định khả quan theo hướng “biểu dương lực lượng”, vào
khoảng cuối năm 2005, theo tác giả Đinh Phong, sự xuất hiện của nhiều đài Phát thanh –
Truyền hình làm ăn không hiệu quả là một sự “chơi sang”, thừa thãi, lãng phí vì hầu hết vẫn
phải bao cấp. Trong bài viết “Có cần thiết xây dựng 64 đài truyền hình, đài phát thanh địa
phương hay không?”, Đinh Phong nhận định: “Ít có nước nào trên một diện tích không lớn
lại có hệ thống phát thanh, truyền hình quá nhiều như ở nước ta.” Thật vậy, ở Hà Nội, dẫu
đã có 2 đài Trung ương, vẫn có thêm đài PT – TH Hà Nội, ở Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ, bên
cạnh đài khu vực vẫn tồn tại các đài PT – TH địa phương. Trong khi đó, các đài địa phương
chỉ có một số chương trình riêng biệt, tự sản xuất như chương trình thời sự, phim chuyên đề,
phim tài liệu, còn lại là tiếp sóng đài khu vực và đài quốc tế, chiếu phim giải trí thu quảng
cáo. Ngoài một số đài địa phương ăn nên làm ra như Đài PT – TH Bình Dương, Vĩnh Long,
các đài ở tỉnh nhỏ thì thiếu máy móc, thiết bị, thiếu tiền trang trải, nhuận bút thấp.
Theo đó, sự khởi sắc của hai loại hình báo nói – báo hình tập trung chủ yếu ở các đài Trung
ương, và ở các tỉnh, thành lớn.
Hiện nay, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam đã tăng thời lượng, diện phủ
sóng và có các kênh riêng phục vụ cho thông tin đối ngoại và đồng bào người Việt định cư,
sinh sống ở nước ngoài [38]. Cụ thể, Đài Tiếng nói Việt Nam, cánh chim đầu đàn của ngành
phát thanh Việt Nam đã phát 193g/ngày trên 6 hệ chương trình đối nội và đối ngoại, phát
bằng 11 thứ tiếng nước ngoài và 9 thứ tiếng dân tộc, với tổng công suất trên 8000 KW, tín
hiệu được truyền dẫn qua vệ tinh; Đài Truyền hình Việt Nam phát trên 5 kênh đối nội và đối
ngoại, với thời lượng trên 60 giờ mỗi ngày. Từ đầu năm 2000, Đài THVH đã truyền qua vệ
tinh, phủ sóng đến các nước Châu Mỹ, Châu Âu và nhiều khu vực trên thế giới. Ước tính, hệ
thống phát thanh đã phủ sóng được khoảng 95% lãnh thổ và hệ thống truyền hình phủ sóng
được 85% lãnh thổ[5].
6
Đó là chỉ nói về mặt kĩ thuật, chuyên môn. Ngoài điều đó, cần đánh giá ngành Phát thanh –
Truyền hình của Việt Nam trên phương diện làm kinh tế. Bởi vì, hiện nay, truyền hình đang
trong quá trình xã hội hóa, đặc biệt có sự xuất hiện của truyền hình trả tiền (pay – TV). Đây

nhập quốc tế trên lĩnh vực truyền thông, tiến tới nắm giữ một trong những thế mạnh của nền
kinh tế báo chí.
3. Về mảng báo trực tuyến:
Theo nhà báo Lê Minh Quốc trong “Hỏi đáp báo chí Việt Nam”, tờ báo trực tuyến đầu tiên
của Việt Nam là tờ Nhân dân điện tử, ra đời vào 21.6.2000, tức là chỉ 4 năm sau khi tờ báo
điện tử đầu tiên của nhân loại – tờ Mainichi Shimbun của Nhật Bản (3. 1996) – ra đời. Rõ
ràng, báo trực tuyến là thành tựu phát triển của nền báo chí Việt Nam thế kỉ 21, đã có 6 năm
hình thành và phát triển. Bên cạnh dữ liệu này, theo Trung tâm Internet Việt Nam (Việt
NamNIC), từ 3 – 12 – 1997, Việt Nam đã có tờ báo điện tử đầu tiên là tạp chí Quê Hương
(đến ngày 26/12/2000 tờ này mới chính thức được Bộ Văn hoá – Thông tin cấp phép – NV),
tức là 5 năm sau khi tờ báo điện tử đầu tiên trên thế giới – Chicago Online ra đời (1992). Từ
đó, trung tâm này đưa ra nhận định, tốc độ tăng trưởng về số lượng của báo trực tuyến còn
thấp, số lượng đầu báo còn khiêm tốn [3]: từ 1997 – 2004, Việt Nam chỉ có 50 website báo
điện tử, trong khi đó thế giới tăng từ 154 tờ (1996) lên đến 14.537 tờ (2003).
Tuy vậy, “thống trị” mạng Internet trong buổi ban đầu lại là các trang web dịch vụ thông tin
dưới hình thức dịch vụ giá trị gia tăng của các công ty khai thác Internet như Công ty phần
mềm và truyền thông VASC (tờ Viet Nam Net chính thức là báo vào năm 2003, trước đó là
trang web Việt Namn.Việt Nam), Công ty FPT (Tờ Việt NamExpress ra đời vào 26/2/2001),
7
… Xu hướng này tiếp tục phát triển với sự “nâng cấp” các trang web dịch vụ giá trị gia tăng
lên thành báo điện tử của các công ty quảng cáo. Sự kiện trang web 24h.com.vn (Công ty Cổ
phần Quảng cáo trực tuyến Hà Nội) bị đóng cửa “tạm” vào quãng đầu năm 2006 vì hoạt
động như một tờ báo trực tuyến là sự minh chứng cho xu hướng này. Tờ này sẽ chính thức
ra mắt sau khi có giấy phép.
Cuối năm 2003 đến đầu năm 2004 được đánh giá là giai đoạn “nở rộ” của các tờ báo trực
tuyến, đánh dấu nhận thức thời đại của các toà soạn báo truyền thống về tầm quan trọng và
vị trí trong lòng độc giả của báo trực tuyến, đặc biệt là hướng tới phục vụ đối tượng bạn đọc
nước ngoài. Hàng loạt các tờ báo như Tuổi Trẻ Online, Thanh Niên Online, Hà Nội Mới
Online, Thể thao Việt Nam Online, … xuất hiện [3], bước đầu chí là bản sao của tờ báo giấy
của chính báo mình và lấy lại thông tin từ các báo khác, nhưng càng về sau, “cuộc đua” báo

4. Những hiện tượng khác trong đời sống báo chí – truyền thông:
Sự nở rộ của các công ty quảng cáo, các hãng phim tư nhân, … làm cho đời sống báo
chí - truyền thông[6] của Việt Nam trong vòng 5 năm trở lại đây càng thêm sôi động. Kinh
doanh dịch vụ quảng cáo, cũng như làm phim là một cánh cửa chỉ mới hé mở ở Việt Nam.
Đây chính là 2 loại hình truyền thông làm kinh tế hiệu quả nhất.
Theo Hiệp hội Quảng cáo TP.HCM, cả nước hiện nay có khoảng 3000 công ty quảng
cáo, 70% hoạt động ở TP.HCM, trong đó, đáng kể có 10 công ty quảng cáo đúng nghĩa
chuyên nghiệp và trên dưới 30 công ty quảng cáo nước ngoài hoạt động dưới nhiều hình
thức khác nhau.
8
Những con số dự báo về tiềm năng của thị trường quảng cáo rất khả quan. Kết quả
khảo sát từ Ad age report 2004 cho thấy giá trị thị trường quảng cáo truyền thông trong nước
mỗi năm khoảng 200 triệu USD, và mỗi năm thị trường này tăng trưởng từ 30% - 40%.
Năm 2005, ước tính thị trường quảng cáo trên các phương tiện truyền thông đạt mức
xấp xỉ 300 triệu USD [25]. Tuy vậy, hiện nay, 80% doanh thu của thị trường quảng cáo Việt
Nam thuộc về các công ty nước ngoài, dẫn đầu về thị phần là J.W.Thompson thuộc tập đoàn
WPP gồm 4 công ty “con” là Mindshare, Ogilvy & Mather, J.W.Thompson và Y & R
(40%) , kế đó là những “đại gia” như Dentsu, Sattchi & Sattchi, McCann... Công ty quảng
cáo trong nước có tầm cỡ nhất Việt Nam hiện nay là Đất Việt, với doanh thu ước tính
khoảng 10 – 15 triệu USD/năm. Lí do dẫn đến sự chênh lệch này, một phần là ở đội ngũ các
nhà quảng cáo Việt Nam ít người được đào tạo một cách bài bản, phần khác do vốn đầu tư
và kinh nghiệm đang là ưu thế của các công ty nước ngoài.
Rất ít cơ quan báo chí của Việt Nam khai thác được thị trường tiềm năng này, đa số
chỉ dừng lại ở các phòng quảng cáo tiếp nhận quảng cáo từ các đơn vị làm dịch vụ quảng
cáo. Tuy nhiên, thời cơ để chiếm lĩnh thị trường quảng cáo đang mở rộng cửa với tất cả mọi
người, nhất là khi tính đến năm 2005, ngành quảng cáo ở Việt Nam chỉ mới tròn 10 tuổi. Tất
cả hãy đang còn ở phía trước, và hứa hẹn sẽ có sự thay đổi lớn. Ông Alan Couldrey, Giám
đốc điều hành Công ty Ogilvy & Mather khu vực Đông Nam Á đưa ra dự báo trong bài
“Nhân lực ngành quảng cáo sẽ có thay đổi lớn!” đăng trên Người Lao Động, “thị trường
Việt Nam đang thay đổi rất nhanh. Lúc này là thời điểm mà các thương hiệu mạnh trong

phim truyện mới đủ nhu cầu phát sóng, trong khi đó, số đài truyền hình đủ khả năng sản
xuất phim truyền hình chỉ đếm trên đầu ngón tay và cả VFC cộng với TFS cũng chỉ làm
9
được khoảng 300 tập phim/năm [19]. Điều này sẽ mở đường cho tính cạnh tranh và đẩy chất
lượng phim truyện Việt Nam lên, thực tế đã và đang chứng minh điều đó.
Ngoài lĩnh vực quảng cáo, xuất bản và phim, xu hướng “xã hội hoá” (chưa phải là
kinh tế hoá) cũng tạo ra nhiều hiện tượng mới trong đời sống báo chí – truyền thông Việt
Nam, tiêu biểu là ở TP.HCM, trong đó có một vài hiện tượng phức tạp mà theo đánh giá của
một số nhà quan sát là nhà nước chưa quản lý được. Đặc biệt nhất hiện nay, việc các công ty
quảng cáo liên kết với một số cơ quan chủ quản để kinh doanh báo chí dưới hình thức các
hợp đồng sản xuất và bán quảng cáo trọn gói (hợp pháp). Việc làm này khiến nhiều người lo
ngại quảng cáo sẽ chi phối nội dung truyền thông, song thực chất, đây là một hình thức báo
chí “tiền tư nhân”, như đã nói ở trên, một lối ra cho các đơn vị cần “cải thiện” đời sống hoặc
cần cải tổ lại phương thức quản lý, điều hành và tổ chức làm báo cho hiệu quả hơn, gia tăng
tiềm lực kinh tế của các báo. Hiện tượng tạp chí mang tính thương mại – giải trí cũng từ đây
mà ra, như các tờ Tiếp Thị & Gia Đình, Thế Giới Văn Hoá (tờ Văn hoá – Thông tin trước
đây), Thể Thao Ngày Nay của công ty quảng cáo Hoa Mặt Trời (Sunflower), tờ Doanh Nhân
Sài Gòn Cuối Tuần, VTM, Nội Thất, … của công ty quảng cáo NVV. Cũng sẽ đến lúc ngoài
khu vực báo chí thời sự tổng quát (báo chính trị xã hội), nhà nước nên để cho tư nhân khai
thác các mảng báo chí thiên về thông tin tiêu dùng – giải trí – nâng cao chất lượng cuộc
sống.
Hiện nay, cũng có xu hướng tổ chức đa loại hình báo chí trong cùng một cơ quan báo
chí: báo in kết hợp với báo trực tuyến (phần lớn các toà soạn báo in hiện nay có thiết lập
trang online), báo trực tuyến kết hợp với báo hình, báo nói (các trang báo trực tuyến hiện
đang thí điểm mô hình tích hợp này), báo hình, báo nói kết hợp với báo in và báo trực tuyến
(các đài Phát thanh – Truyền hình từ sớm đã cho ra đời các tạp chí truyền hình và mới đây là
đưa vào sử dụng trang báo trực tuyến). Tuy nhiên, phần lớn báo trực tuyến trong dạng thức
tích hợp này chưa được công nhận là một ấn phẩm độc lập mà mới chỉ được xem như là một
“ấn bản điện tử” của báo in. Đây cũng là việc bình thường, phù hợp với tiến trình phát triển
báo mạng trên thế giới.

quản buông lỏng hoàn toàn cho cơ quan báo chí muốn làm gì thì làm”, “giảm bớt số đầu mối
cơ quan báo chí và tăng mô hình một cơ quan báo chí trong đó có một vài ấn phẩm theo kiểu
phát triển quy tụ”. Đó là nỗ lực của cơ quan chức năng nhằm khắc phục tình trạng mất cân
đối giữa khả năng quản lý và số lượng cơ quan báo chí.
Nhu cầu của công chúng ngày một tăng về chiều rộng cũng như về chiều sâu vừa là
nhân tố đưa đến sự phát triển đó, lại vừa cho thấy đối tượng khách hàng tiềm năng của thị
trường truyền thông còn chưa được/bị khai thác hết.
Với mức xuất bản hiện nay, bình quân 40 người dân chỉ có một tờ báo các loại để
đọc trong ngày, 8 bản báo/người/năm. Đặc biệt, “nhu cầu đọc của dân cư ở tuyệt đại đa số
các tỉnh cách biệt rất xa với hai TP lớn, Hà Nội và TP.HCM. Một nghiên cứu cách đây 10
năm đã cho thấy tỉ lệ mua báo ở TP.HCM cao gấp 6 lần Cần Thơ và gấp 2,4 lần Hà Nội”
[10]. Điều đó dẫn đến tình trạng “đói thông tin” ở một số nơi – một mâu thuẫn khó khắc
phục ngày một ngày hai.
Nhu cầu trong khu vực báo trực tuyến càng tăng lên rõ rệt trong 5 năm qua. Tính đến
thời điểm tháng 5/2004 đã có gần 4 triệu lượt người truy cập các tờ báo điện tử như
VietNamNet, Việt NamExpress, Tuoi Tre Online, Lao động điện tử, chiếm 5,42% dân số cả
nước [10]. Sự gia tăng nhu cầu đọc báo trực tuyến tương ứng với sự gia tăng nhu cầu truy
cập Internet. Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC) thống kê được: trong 6 tháng cuối năm
2004, Việt Nam có 6.139.424 người truy cập Internet, chiếm tỉ lệ 7,44% dân số; trong 4
tháng đầu năm 2005 có 7.174.028 người, chiếm tỷ lệ 8,7% dân số (mức bình quân trong
ASEAN, châu Á và thế giới là 7,54%; 8,36%; 14,11%.) [10]
TP.HCM có 6 triệu dân, tương đương với 1 triệu hộ gia đình. Trong khi truyền hình miễn
phí đã phát triển ở mức nhất định, thị trường của truyền hình trả tiền tìm thấy nhu cầu cao ở
công chúng. Hoạt động từ năm 2003, song ngay cả SCTV chỉ có khả năng đáp ứng 10.000
thuê bao. Nếu có đến 20 SCTV thì cũng mới chỉ cung ứng được nhu cầu của 1/5 hộ gia đình
ở Việt Nam. Do đó, đây là một lĩnh vực đầy hứa hẹn.
Bên cạnh đó là sự trưởng thành của đội ngũ làm truyền thông, sự tiến bộ của máy
móc, công nghệ, trang thiết bị kĩ thuật. Đến nay, cả nước có 12.000 (số liệu mới nhất là
13.000 – NV) nhà báo chuyên nghiệp, 78% có trình độ đại học báo chí, đại học các chuyên
ngành khác và trình độ trên đại học, 4.118 người có trình độ lý luận chính trị trung cấp,

GIỚI THIỆU MỘT SỐ TẬP ĐOÀN BÁO CHÍ TRÊN THẾ GIỚI
1. Sơ lược về lịch sử hình thành các tập đoàn truyền thông trên thế giới:
Đối với báo chí thế giới, các thuật ngữ như ngành báo chí newspaper industry,
ngành truyền thông media industry và kinh tế báo chí media economics[7] từ lâu đã trở
thành quen thuộc. Có hẳn những cuốn sách, tạp chí, trang web viết về các vấn đề này.
Đó là vì tiến trình lịch sử của báo chí thế giới đến khoảng giữa thế kỉ 19 đã có một
bước ngoặt lớn, những người làm báo bắt đầu chú ý đến mục tiêu kinh tế trong hoạt động
báo chí và biết cách tổ chức điều hành hoạt động báo chí[8]. (Mặc dù vậy, ở thời buổi quảng
cáo chưa phát triển, phương cách hữu hiệu để đạt được mục tiêu kinh tế mới chỉ là cải tiến
nội dung để tăng doanh số phát hành.)
Có thể thấy rõ bước ngoặt nêu trên khi nghiên cứu nền báo chí Mĩ – một trong những
nền báo chí mạnh nhất thế giới, đặc biệt là ở giai đoạn sau cuộc nội chiến 1865 – 1867.
Thật vậy, đứng trên quan điểm lịch sử, chúng tôi nhận thấy thực trạng báo chí ngày
nay ở một số quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam, có nhiều điểm tương đồng với
thực trạng báo chí nước Mĩ hơn 100 năm về trước, nổi bật là khuynh hướng báo chí làm kinh
tế.
Bối cảnh đó cho phép chúng tôi nhận diện cái nôi hình thành các tập đoàn báo chí –
truyền thông ở Mĩ (nơi xuất phát của các tập đoàn truyền thông lớn nhất thế giới hiện nay)
thông qua ba hiện tượng: sự ra đời của nghề làm báo mới new journalism (phân biệt với
thuật ngữ new media trong thời đại Internet), sự giàu có của nghề làm báo vàng yellow
journalism, và sự hình thành các hệ thống báo dây chuyền newspapers chains.
Nghề làm báo mới ở Mĩ ra đời đưa đến sự phát triển rầm rộ của báo chí Mĩ. Vào thời
kì đó, báo chí trở thành “những công ty hùng mạnh, giàu có, tự đảm bảo được về phương
diện kinh tế và nhờ đó, phát huy tốt hoạt động làm báo”[9] Đến cuối thế kỉ 19, báo chí Mĩ đã
trở thành một nền kinh doanh lớn, có tính độc lập tương đối trong đời sống xã hội. Những
nhận định trên cho thấy xuất phát điểm của các tập đoàn báo chí truyền thông phải là những
công ty hùng mạnh, tự chủ được về tài chính.
Nghề làm báo vàng đánh dấu sự xuất hiện của những “Citizen Kane”[10] trong làng
báo thế giới, những con người biết cách đem lại sự hùng mạnh cho các tờ báo trên phương
diện làm kinh tế. Báo chí Mĩ thời kì này đã “mấp mé”, “manh nha” hoạt động theo mô hình

tăm trên đất Mĩ[14].
Như vậy, con đường phát triển tất yếu của ngành công nghiệp báo chí – truyền thông
là từng bước chuẩn bị những yếu tố cần thiết để trở nên lớn mạnh: đầu tiên là đổi mới tư duy
theo hướng chú trọng mục tiêu kinh tế (nghề làm báo mới), mở rộng hoạt động kinh doanh
sang các lĩnh vực truyền thông khác (nghề làm báo vàng), mở rộng năng lực quản lý, điều
hành đối nội và đối ngoại ở hàng loạt tờ báo (hiện tượng báo dây chuyền), tham gia năng
động vào nên kinh tế như những doanh nghiệp thực thụ (các tập đoàn báo chí hùng mạnh).
Nền báo chí Mĩ đã tuân theo quy luật phát triển đó, được đánh giá là một trong những nền
báo chí mạnh nhất thế giới, sở hữu nhiều tập đoàn báo chí – truyền thông hàng đầu nhất thế
giới. Đối với Mĩ, ngay từ buổi đầu rẽ vào bước ngoặt kinh tế, người ta đã coi báo chí –
truyền thông là một trong những ngành công nghiệp nặng và cho phép nó phát triển đến mức
tối đa.
2. Khái niệm “tập đoàn báo chí”:
Vì các khái niệm “kinh tế báo chí”, “tập đoàn báo chí” ở Việt Nam tương đối mới và
chưa được làm rõ, việc tìm hiểu nội hàm của các khái niệm này ở các nước trên thế giới là
một việc làm hết sức cần thiết. Trong nghiên cứu này, người thực hiện chủ định tìm hiểu
thông qua các thuật ngữ tiếng Anh.
Hiện nay, báo chí xuất bản bằng tiếng Anh của Việt Nam dịch cụm từ “tập đoàn báo
chí” là “press group”[15]. Người thực hiện không tìm thấy định nghĩa của “press group” khi
sử dụng công cụ tìm kiếm Google. Tuy nhiên, thông qua một số trang web khác, đặc biệt là
trang web của Hiệp hội báo chí thế giới (World Association of Newspapers - WAN), có thể
thấy “press groups” được sử dụng để chỉ “các nhóm báo in”, không tính đến các loại hình
báo khác. Trong phần giới thiệu các thành viên của mình, WAN đã đề cập đến “nine
regional and world-wide press groups”[16], nghĩa là “chín nhóm báo in có quy mô toàn cầu
và quy mô khu vực”. Trang web nghiên cứu thị trường MarketResearch.com có phạm vi
nghiên cứu trải rộng trên toàn cầu, đặc biệt là ở Mĩ, Anh, châu Âu và châu Á cho thấy rõ
hơn ý nghĩa của thuật ngữ này. Trong báo cáo về “Báo chí Trung Quốc” (China Newspaper
Industry) xuất bản vào 08/04/2005, MarketResearch.com dùng thuật ngữ “press group” để
chỉ Guangzchou Daily Press Group, mà Việt Nam vẫn quen gọi là tập đoàn báo chí Quảng
Châu. Như vậy, “press group” thông thường được sử dụng để gọi các tổ chức có hạt nhân là

Thuật ngữ “media convergence” (hội tụ truyền thông) có những thuật ngữ tương
đồng như “media consolidation” (tập hợp truyền thông) và “concentration of media
ownership” (sự tập trung trong lĩnh vực sở hữu truyền thông). Đây là một thuật ngữ phổ biến
trong giới phê bình truyền thông cũng như các nhà làm luật khi đề cập đến phương thức sở
hữu các phương tiện truyền thông của các doanh nghiệp.
Thuật ngữ “media convergence” có sự liên hệ mật thiết với thuật ngữ “media
conglomerate” ở chỗ sự tập trung sở hữu trong lĩnh vực truyền thông thường kéo theo sự
hình thành các “media conglomerate”. Khi một doanh nghiệp sở hữu nhiều loại hình truyền
thông khác nhau, nó được xem như là một “media conglomerate”. Sáu “media
conglomerate” hiện thời là Disney, Viacom, Time Warner, News Corp, Bertelsmann, và
General Electric sở hữu hơn 90% thị trường truyền thông toàn cầu.
Như vậy, hiện tượng “media convergence” hay “concentration of media ownership”
chính là khởi điểm để hình thành các “media conglomerate” (các tập đoàn truyền thông) ở
các nước phương Tây. Một lần nữa, giả thuyết về con đường hình thành các tập đoàn truyền
thông trên thế giới đã nêu ở phần C2.1 được khẳng định thông qua chính bản thân các thuật
ngữ.
Ngoài ra, trên thế giới còn sử dụng một số thuật ngữ khác dùng để chỉ “tập đoàn báo
chí” như: media organization, media group, media mega-group, media empires, media
giants, media corporations … Nhưng đó là thuật ngữ dành cho các nhà nghiên cứu. Đối với
bản thân các “tập đoàn báo chí”, tên gọi của tập đoàn phụ thuộc vào hình thức đăng ký kinh
doanh. Có nơi gọi mình là company, có nơi lại gọi là group, có nơi gọi là corporation, có nơi
gọi là holdings, … Do đó, việc có hay không có để danh xưng “tập đoàn báo chí” không
quan trọng bằng nội lực thực sự của mỗi doanh nghiệp truyền thông.
Ở nước ta vẫn sử dụng lẫn lộn hai thuật ngữ “báo chí” và “truyền thông”, đôi khi
đánh đồng chúng với nhau. Do đó, để hiểu cho đúng, phải xem “tập đoàn báo chí” là một
thuật ngữ kinh tế, thuộc về kinh tế truyền thông, có nghĩa hẹp tương đương với thuật ngữ
“press group” và nghĩa rộng tương đương với thuật ngữ “media conglomerate”. Theo đó,
“tập đoàn báo chí” là một tập đoàn kinh tế hoạt động đa dạng trong lĩnh vực truyền thông, có
thể có hạt nhân là một cơ quan báo in, báo hình, hoặc bất cứ loại hình báo chí nào khác, và
cũng có thể tham gia vào một số lĩnh vực kinh doanh ngoài truyền thông.”

3.1. Một số tập đoàn báo chí Mỹ:
Về quy mô của các tập đoàn báo chí Mĩ, nhiều nhà nghiên cứu đã gọi chúng là “các
đế chế truyền thông”, “những gã khổng lồ” (media empires, media giants), bởi cả về quy mô
hoạt động, khả năng tài chính, tầm ảnh hưởng của các tập đoàn này đều vươn ra khắp toàn
cầu. Trong một tập đoàn truyền thông Mĩ, có thể có những tập đoàn truyền thông “con”
khác.

3.1.1. Tập đoàn News Corporation:
3.1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển:
Sự hình thành và phát triển hùng mạnh của tập đoàn truyền thông News Corporation
(viết tắt là News Corp) ghi dấu ấn đậm nét của “nhà tài phiệt truyền thông” (media tycoon)
người Mĩ gốc Úc Rupert Murdoch. Lịch sử của tập đoàn có thể viết gọn trong các vụ thừa
kế, sáng lập, sáp nhập, và mua bán.
Từ tờ báo tỉnh lẻ hạng hai Adelaide News của người cha (1952), Rupert Murdoch
thành lập tập đoàn báo chí News Limited có tầm ảnh hưởng rộng rãi bậc nhất ở Úc (hiện
nay, News Limited vẫn là công ty con ở Úc của News Corp). News Limited chuyên mua lại
các tờ báo làm ăn lỗ lã ở Úc và vực chúng dậy bằng cách ứng dụng công nghệ quản lý tiên
tiến và cải tổ nội dung. Trong vòng 10 năm, News Limited đem lại cho Murdoch khoản lợi
nhuận “kếch sù”. Năm 1979, Murdoch thành lập News Corporation trên đất Úc và bắt đầu
thu mua những tờ báo và tạp chí hàng đầu London (Anh) và New York (Mĩ), cũng như thu
mua nhiều tập đoàn truyền thông khác.
Ở Anh, thông qua công ty con News International, News Corp của Murdoch có ảnh
hưởng mạnh mẽ trong làng báo Anh, đặc biệt là từ khi sở hữu hai hệ thống báo Times
Newspapers và News Group Newspapers (khoảng thời gian cuối thập niên 80 của thế kỉ 20)
và một phần hệ thống truyền hình trả tiền BskyB (năm 1990).
Từ thời News Limited, Murdoch đã vào thị trường truyền thông Mĩ bằng cách mua
tờ San Antonio News (1973), ngay sau đó sáng lập tờ National Star và mua tờ New York
Post (1976). Khi đã thành lập News Corp, Murdoch bắt đầu “tiến công” sang lĩnh vực phim
ảnh (xưởng phim nổi tiếng nhất của News Corp là 20
th

Committee), Uỷ ban Đề cử và Quản trị tập đoàn (Nominating and Corporate Governance
Committee), và Uỷ ban Bồi thường (Compensation Committee) với những người đứng đầu
là các thành viên Ban Giám Đốc không tham gia hoạt động kinh doanh của tập đoàn (non-
executive Directors). Vào tháng 04/2004, Viet Dinh (Đinh Phụng Việt), giáo sư luật trường
ĐH Georgetown trúng cử làm thành viên Ban Giám đốc của News Corp, giữ chức chủ tịch
Uỷ ban Đề cử và Quản trị tập đoàn (Nominating and Corporate Governance Committee)..
Các tiêu chuẩn đạo đức (Ethical Standards) mà tập đoàn đề ra được tóm gọn trong
văn bản “Các tiêu chuẩn Hoạt động Kinh doanh” (Standards of Business Conduct). Theo đó,
tập đoàn điều hành hoạt động kinh doanh theo đúng các luật lệ và quy định, đồng thời luôn
chú trọng đến các tiêu chuẩn đạo đức kinh doanh cao nhất. Tất cả mọi người từ giám đốc
cho đến các nhân viên của tập đoàn (kể cả ở các công ty con) đều phải theo đúng tinh thần
này.
3.1.1.3. Các hoạt động truyền thông:
News Corporation là một công ty hoạt động đa dạng trong lĩnh vực giải trí và truyền
thông. 8 lĩnh vực chủ yếu là:

(1) Phim giải trí (Filmed Entertainment):
Các tác phẩm điện ảnh nổi tiếng của News Corp là Star Wars, Star Wars Episode I:
The Phantom Menace, và Titanic. Các phim truyền hình được sản xuất ở các studio (phim
trường) của News Corp cũng được đánh giá cao và tập đoàn là nhà cung cấp hàng đầu các
phim giờ vàng trên truyền hình Mĩ. News Corp có khoảng 11 studio, trong đó nổi tiếng nhất
là hãng 20
th
Century Fox .

17

Trích đoạn Tiền Phong[36]: Thanh Niên[39]: Sài Gòn Giải Phóng: Saigon Times Group:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status