CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH Ở NGƯỜI LỚN VỀ BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP - Pdf 20


CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KIẾN
THỨC VÀ THỰC HÀNH Ở NGƯỜI LỚN
VỀ BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KIẾN THỨC VÀ THỰC
HÀNH Ở NGƯỜI LỚN VỀ BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP

TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Theo y văn, tăng huyết áp thường là vô căn chiếm tỷ lệ
90%-95% do đó vấn đề phòng ngừa là rất khó khăn.Tuy vậy, ở bệnh nhân
tăng huyết áp kiểm soát huyết áp để tránh dẫn đến tăng huyết áp có trị số cao
có thể thực hiện được dựa vào việc kiểm soát các yếu tố: cân nặng, ăn uống,
tập thể dục, dùng thuốc đúng, đủ.
Chính vì vậy, để góp phần vào công tác quản lý và điều trị bệnh nhân
THA tại Tp.Hồ chí Minh tốt hơn, chúng tôi tiến hành một cuộc điều tra đánh
giá nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức và thực hành ở
người lớn về bệnh THA trong cộng đồng Tp. HCM để giúp các bệnh nhân
THA theo dõi và điều trị bệnh tốt hơn.
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức và
thực hành ở người lớn về bệnh tăng huyết áp tại thành phố Hồ chí Minh năm
2005
Phương pháp nghiên cứu: Đây là một nghiên cứu mô tả cắt ngang
trên cộng đồng dân số đã chọn vào mẫu tại cùng thời điểm từ 6/2005 đến 9/
2005 thực hiện tại thành phố Hồ chí Minh . Theo kỹ thuật lựa chọn dựa vào
tỉ lệ dân số
Kết quả: Qua khảo sát 1991 người đến khám và phỏng vấn ở 16 xã
phường tại Tp.Hồ chí Minh kết luận như sau:
Tỉ lệ THA ở Tp. HCM là 26,52 %ở độ tuổi từ 25 đến 65

Chi Minh City 2005.
Study methodology: This is cross –sectional study in population
community that is selected from June to December 2005 in Ho Chi Minh
City. The selecting method depends on the percentage of population.
Study result: Though 1991 people who were tested and interviewed at
16 wards in Ho Chi Minh, we have the following results:
The percentage of high blood pressure of Ho Chi Minh is 26.52 with
the age from 25 to 65.
The percentage of high blood pressure of male is higher than female
and following the age which increase gradually.
Distribution of the percentage of high blood pressure following
population and social factor are difference in age, sex, education and
occupation.
Knowledge of patients about the risk factors of high blood pressure
disease (eat savory food, eat fat food, use tobacco, less exercise) is good for
not only patients but also not patients.
Performing methods to change the life (decrease savory food, use oil
which origin plants, drink wine legally, deny tobacco, exercise) so the using
tobacco problem, drinking alcohol is very high when compare knowledge.
But the most important is stationary life which is advantage so the
percentage of overweight also increases.
Conclusion: The results from this survey help the health foundations
which locate in Ho Chi Minh City and Government put forward the public
health policies more effective in order to prevent the high blood pressure
disease in community. This desease almost occur in the middle – aged and
the elder, especially people who work by head mainly.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tăng huyết áp là bệnh phổ biến ở các nước phát triển, ở các nước
đang phát triển bệnh có xu hướng ngày càng gia tăng và đã trở thành vấn đề
sức khỏe cộng đồng quan trọng. Bệnh này phần lớn có ở người độ tuổi trung

chứng có thể xảy ra khi bệnh trở nặng. Điều này đôi khi không dễ dàng thực
hiện vì bệnh THA thường phải điều trị lâu dài đôi khi suốt đời. Ngay cả khi
chỉ số HA trở lại bình thường tai biến vẫn có thể xảy ra nếu không loại trừ
được các yếu tố nguy cơ tai biến (như nghiện rượu, hút thuốc lá, chế độ ăn
giàu chất béo, thừa cân, stress ) và không kiểm soát được một số bệnh đi
kèm (như tiểu đường, bệnh thận ) vì thế yêu cầu ở bệnh nhân tính kiên trì
theo chế độ điều trị lâu dài tuy nhiên bệnh nhân vì một số lí do nào đó của
bản thân kết hợp với sự hiểu biết hạn hẹp của mình nên không đạt được sự
tuân thủ.
Theo y văn, tăng huyết áp thường là vô căn chiếm tỷ lệ 90%-95% do
đó vấn đề phòng ngừa là rất khó khăn.Tuy vậy, ở bệnh nhân tăng huyết áp
kiểm soát huyết áp để tránh dẫn đến tăng huyết áp có trị số cao có thể thực
hiện được dựa vào việc kiểm soát các yếu tố: cân nặng, ăn uống, tập thể dục,
dùng thuốc đúng,đủ
Chính vì vậy, để góp phần vào công tác quản lý và điều trị bệnh nhân
THA tại TP Hồ chí Minh tốt hơn, chúng tôi tiến hành một cuộc điều tra đánh
giá nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức thái độ, thực hành
bệnh nhân THA trong cộng đồng TP HCM để giúp các bệnh nhân THA theo
dõi và điều trị bệnh tốt hơn.
Mục tiêu
Mục tiêu tổng quát
Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức và thực hành ở người
lớn về bệnh tăng huyết áp tại thành phố Hồ chí Minh năm 2005
Mục tiêu chuyên biệt
- Xác định một số đặc điểm tuổi, giới,trình độ học vấn, của
bệnh nhân THA từ 25 tuổi trở lên có chỉ số HA độ I theo JNC VII.
- Xác định mối tương quan giữa tỷ lệ bệnh nhân THA từ 25 tuổi
trở lên có chỉ số HA độ I theo JNC VII vớí kiến thức về bệnh THA.
- Xác định mối tương quan giữa tỷ lệ bệnh nhân THA từ 25 tuổi
trở lên có chỉ số HA độ I theo JNC VII với thực hành trong việc điều trị và

gian ngắn có thể gặp phải hiện tượng thiếu hụt nghiên cứu với ước tính thiếu
hụt khoảng 8%. Nên số người cần phải khảo sát là:
N = 1836 + 146= 1982 người
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Tổng số có 1991 người đến khám và phỏng vấn ở 16 xã phường tại
thành phố Hồ chí Minh
Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Tỷ lệ người bị tăng huyết áp
Theo ủy ban đa quốc gia về chuẩn đoán, phòng ngừa và điều trị bệnh
THA (JNC) lần thứ VII (2003)[6]:
Bảng 1: Phân độ huyết áp theo JNC VII (2003)
Hạng

Huyết áp tâm thu

Huyết áp tâm trương
Bình thường

<120 mmHg

Và <80 mmHg
Tiền THA

120-139 mmHg

80-90 mmHg
THA giai đoạn1

140-159 mmHg


Tổng

1991

100
Trước đây, theo tác giả Alain Combes, tỷ lệ mắc bệnh THA nói chung
chiếm khoảng 10-15% dân số [1]. Tại Việt Nam, theo điều tra của tác giả
Phạm Gia Khải công bố năm 1999, tỷ lệ mắc THA chung là 16,05%[15].
Theo điều tra năm 2001 của cùng tác giả, tỷ lệ này là 23,20% [16]. Như vậy
số người bị THA ngày càng đông.
Theo nghiên cứu DTH bệnh THA trên phạm vi cả nước của Đặng Văn
Chung và cộng sự năm 1960 cho thấy tỷ lệ mắc bệnh THA trên dân số từ 15
tuổi trở lên chỉ khoảng 1%, mười năm sau, Trần Đỗ Trinh tiến hành nghiên
cứu đánh giá lại thì thấy tỷ lệ này đã tăng lên khoảng 3%. Từ năm 1989 –
1992, Hội tim mạch học Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu ở 27 điểm rải rác
thuộc 20 tỉnh thành trên toàn quốc với cỡ mẫu 51656 người trên 15 tuổi cho
thấy tỷ lệ mắc bệnh THA đã chiếm 11,7% dân số [12], tăng gần 12 lần sau
32 năm[15].
Tại Việt Nam, theo khảo sát mới nhất của Bộ y tế, THA đang tăng
nhanh, chiếm hơn 16% người trên 25 tuổi ở miền Bắc[20]. Theo kết quả
nghiên cứu của Hội Tim mạch học Việt Nam, ông Nguyễn Mạnh Phan công
bố ngày 18/2/2004 tại thảo chuyên đề bệnh lý Tim mạch cho thấy hiện Việt
nam có khoảng 10 triệu người mắc bệnh THA và tỷ lệ người mắc bệnh THA
đã tăng lên gấp 5 lần trong 40 năm qua (từ 3% năm 1960 đến 15% năm 2003
). Lứa tuổi mắc bệnh này nhiều nhất là 60-75 (15-20%)[20].
Qua những tiêu chí đó chúng tôi khảo sát tỉ lệ tăng huyết áp ở TP.
HCM là 26,52 %ở độ tuổi từ 25 đến 65 so với số liệu Viêt nam thì cao báo
hiệu một thành phố công nghiệp có nhiều yếu tố nguy cơ cao gây tăng huyết
áp
Sự phân bố tỷ lệ tăng huyết áp theo yếu tố dân số:
8,12
16,93
33,46
46,67 430
427
342
264 91,88
83,07
66,54
53,33
0,000

Giới:
- Nam
- Nữ 301
227
73,68
69,05 0,347
Khảo sát sự phân bố tình trạng THA theo tuổi cho thấy có sự khác biệt
giữa các nhóm tuổi, Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với giá trị p là
0,000. Về giới tính thì tỷ lệ THA ở nam cao so với tỷ lệ THA ở nữ có sự
khác biệt về tỷ lệ THA ở nam và nữ có ý nghĩa thống kê với giá trị p là
0,000.
Theo yếu tố dân tộc thì tỷ lệ THA ở người Hoa,Khmer cao hơn người
Kinh. Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p = 0,347.
Theo nghiên cứu của Phạm Gia Khải cùng cộng sự tại Tp.Hà Nội năm
1999 đã phân tích chi tiết hơn sự gia tăng tỷ lệ THA theo tuổi có kết quả như
sau: 35 – 44 tuổi (11,88%), 45 – 54 tuổi (22,95%), 55 – 64 tuổi (38,21%), 65
– 74 tuổi (46,99%), theo nghiên cứu này thì có đến gần một nửa nhóm người
từ 55 tuổi trở lên mắc bệnh THA[15].
Trong khi đó, một số công trình nghiên cứu khác thì cho thấy tỷ lệ
mắc bệnh THA ở nam cao hơn nữ như nghiên cứu của Nguyễn Thị Trúc và
cộng sự tại quận 5 – Thành phố Hồ Chí Minh năm 1990, tỷ lệ THA ở nam là
17,95%, so với nữ là 14,29%[20]. Một nghiên cứu khác do Phạm Gia Khải
cùng cộng sự tiến hành năm 1999 tại Thành phố Hà Nội, tỷ lệ THA ở nam là
17,99% trong khi ở nữ là 14,51%; những khác biệt này thật sự có ý nghĩa
với mức p<0,001[15].
Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy tỉ lệ THA nam cao hơn nữ và theo
nhóm tuổi cũng tăng dần có ý nghĩa thông kê
Sự phân bố tăng huyết áp theo yếu tố xã hội:
Bảng 4: Phân bố tỷ lệ THA theo yếu tố xã hội (N = 1991)

87
61 37,5
24,17
23,48
24,37
26,52 200
458
365
270


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status