CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ LAO PHỔI AFB ÂM TÍNH
TÓM TẮT
Mục tiêu: Xác định chẩn đoán và điều trị lao phổi AFB âm tính.
Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang phân tích. Phân tích
tất cả bệnh nhân từ 16 tuổi trở lên, được chẩn đoán xác định lao phổi AFB
âm tính và điều trị lao từ tháng 06/2003 đến tháng 06/2006.
Kết quả: Có 197 bệnh nhân lao phổi mới (109 nam và 89 nữ). Tuổi
trung bình là 32,7 ± 11,3 tuổi; (ranh giới 16 – 85). Thường gặp ở lứa tuổi từ
21 – 60 (84,77%). Biểu hiện lâm sàng bao gồm sốt, ớn lạnh về chiều; mệt
mỏi, chán ăn, sụt cân; ho khan hoặc ho khạc đàm, đôi khi ho ra máu; ít gặp
đau ngực và khó thở. 100% trường hợp đều có sang thương lao trên X-quang
phổi, (chủ yếu là dạng thâm nhiễm (84,77%), phì đại hạch rốn phổi và trung
thất (31,98%), hình hạt kê (16,24%) và 5,58% là hình hang); một bên nhiều
hơn hai bên (81,22% so với 18,78%), bên phải nhiều hơn trái (46,70% so với
34,52%). Sang thương lao trên X-quang phổi thường gặp là mức độ nhẹ
(46,7%), kế đến là mức độ trung bình (28,43%) và ít nhất là mức độ nặng
(24,87%). Phản ứng lao tố trong da dương tính chiếm 73,1%. Số lượng bạch
cầu trong giới hạn bình thường hoặc tăng nhẹ. Tốc độ lắng máu tăng. Tất cả
các trường hợp đều đáp ứng với điều trị lao sau 6 – 8 tháng.
Kết luận: Chẩn đoán lao phổi AFB âm cần phối hợp phân tích biểu
hiện lâm sàng và cận lâm sàng (đặc biệt, phân tích X-quang phổi, phản ứng
lao tố, số lương bạch cầu ) và đồng thời, điều trị lao thành công cũng là một
bằng chứng xác định chẩn đoán lao.
ABSTRACT
Objective: to determine the diagnosis and treatment of negative AFB
pulmonary tuberculosis.
Methods: Analytical cross-sectional study. To analyse all patients
over 16 years old diagnosed negative AFB pulmonary tuberculosis and
treated by anti-tuberculosis drugs from 06/2003 to 06/2006.
Results: There were 197 cases (109 male and 89 female patients). The
(9,11,13,18,19)
.
Ở Việt Nam, bệnh lao vẫn còn là một vấn đề lớn của sức khoẻ cộng
đồng, đứng hàng thứ 12 trong 23 nước có số trường hợp bệnh lao cao trên
toàn thế giới (TCYTTG - 2001) và đứng hàng thứ 3 sau Trung Quốc và
Philippines về số lượng bệnh nhân lao trong khu vực Tây Thái Bình Dương.
Chương trình chống lao quốc gia cùng phối hợp với TCYTTG phân tích và
ước tính nguy cơ nhiễm lao hàng năm ở Việt nam là 1,7%. Đồng thời, có
khoảng 40% các trường hợp lao phổi AFB âm tính trong đàm qua soi cấy
trực tiếp
(3,4,12)
. Do đó, nếu chương trình chống lao chỉ tập trung điều trị cho
những trường hợp lao phổi AFB dương tính sẽ bỏ sót rất nhiều bệnh nhân
lao phổi AFB âm tính trong cộng đồng và là nguồn lây lao tiềm ẩn trong
cộng đồng. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu xác định chẩn đoán
và điều trị lao phổi AFB âm tính nhằm tìm trị nguồn lây và giảm nguy cơ lây
lan lao trong cộng đồng.
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Loại hình nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang phân tích
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả bệnh nhân từ 16 tuổi trở lên, được chẩn đoán xác định lao phổi
AFB âm tính và điều trị lao từ tháng 06/2003 đến tháng 06/2006 tại Phòng
khám phổi, Bệnh viện Đại Học Y Dược, thỏa các tiêu chuẩn sau:
Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định lao phổi AFB âm tính
· Có triệu chứng lâm sàng gợi ý đến lao: sốt, ớn lạnh về chiều, sụt
cân, ho khan hoặc ho khặc đàm kéo dài trên hai tuần (có thể có ho khạc đàm
vướng máu hoặc ho ra máu), đau ngực, khó thở
· Có bất thường trên X-quang phổi gợi ý đến nguyên nhân do vi
trùng lao
- Sang thương lao mức độ nhẹ (kí hiệu I): Sang thương không có
hang, tổng diện tích tổn thương một hoặc hai bên phổi không vượt quá một
phân thùy phổi.
- Sang thương lao mức độ trung bình (kí hiệu II): Sang thương một
hoặc cả hai bên phổi, tổng diện tích tổn thương không vượt quá giới hạn một
thùy phổi và tổng đường kính các hang lao không quá 4 cm.
- Sang thương lao mức độ nặng (kí hiệu III) : Sang thương nặng hơn ở
mức độ trung bình (II), nghĩa là tổng diện tích tổn thương một hoặc hai bên
phổi vượt qua một thùy phổi hoặc chiếm cả một bên phổi và tổng đường kính
các hang trên 4 cm.
Thống kê và xử lý số liệu
Chúng tôi dùng phần mềm EXCEL 2003 để nhập và quản lý số liệu và
dùng phần mềm STATA phiên bản 6.0 để phân tích số liệu. Các đặc điểm về
lâm sàng và cận lâm sàng được phân tích bằng các test thống kê thích hợp,
giá trị P £ 0,05 được đánh giá là có ý nghĩa thống kê. Các mối liên quan
được xem xét bằng tỉ số nguy cơ tương đối (RR: Relative Risk) và độ tin cậy
95% (95% Confidence Interval).
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Từ tháng 06/2003 – 06/2006, có 197 trường hợp lao phổi AFB âm tính
được chẩn đoán và điều trị lao tại Phòng khám phổi, Bệnh viện Đại Học Y
Dược.
Đặc điểm dịch tễ học
Có 109 trường hợp nam (55,33%) và 89 trường hợp nữ (44,67%). Tỉ
lệ mắc bệnh nam:nữ là 1,23:1. Tuổi trung bình là 32,7 ± 11,3 tuổi; tuổi nhỏ
nhất là 16 và tuổi lớn nhất là 85 tuổi. Có 75 trường hợp (47,17%) cư ngụ tại
TP. Hồ Chí Minh và 122 trường hợp (52,83%) cư ngụ ở tỉnh khác. Về thói
quen hút thuốc lá, 108 trường hợp (54,82%) không hút thuốc, 53 trường hợp
(26,90%) hút thuốc lá từ 1 – 20 gói/năm, và 36 trường hợp (18,27%) hút trên
20 gói/năm.
Bảng 1: Phân bố lứa tuổi
Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng:
Bảng 3: Thời gian khởi bệnh
Th
ời gian khởi
bệnh
S
ố tr.hợp
(%)
< 1/2 tháng 95
(48,22%)
1/2 – 1 tháng 74
(37,56%)
> 1 tháng 28
(14,21%)
Bảng 4: Triệu chứng lâm sàng
Triệu chứng
lâm sàng
Số tr.hợp
(%)
Sốt ớn lạnh
về chiều
146
(74,11%)
Triệu chứng
lâm sàng
Số tr.hợp
(%)
Mệt mỏi,
chán ăn, sụt cân
(22,34%)
Bảng 6: Vị trí và mức độ sang thương lao trên X-quang phổi (theo
ATS)
Số
tr.hợp
Bên
trái
68
(34,52%)
Bên
phải
92
(46,70%)
Vị
trí sang
thương lao
Hai
bên
37
(18,78%)
Nhẹ 92
(46,7%)
Trung
bình
56
(28,43%)
M
ức
độ
3
45 (22,85%)
>
15.000/mm
3
24 (12,18%)
Bảng 9: Tốc độ lắng máu trung bình
Tốc độ
lắng máu
Giá trị trung
bình
Giờ thứ
nhất
32,87 ±
9,47mm
Giờ thứ
hai
48,29 ±
14,52mm
Bảng 10: Kết quả các xét nghiệm khác
S
ố tr.
hợp (%)
Đư
ờng huyết lúc
đói > 140 mg%
18
(9,14%)
137 (69,54%)
8
tháng
60 (30,46%)
BÀN LUẬN
Trong 197 trường hợp lao phổi AFB âm tính, có 109 trường hợp nam
(55,33%) và 89 trường hợp nữ (44,67%). Tỉ lệ mắc bệnh nam:nữ là 1,23:1.
Trong nghiên cứu của chúng tôi tỉ lệ chênh lệch giữa nam và nữ không đáng
kể. Theo đánh giá của Tổ chức y tế thế giới tại Việt nam thì việc chênh lệch
về giới tính trong chẩn đoán và phát hiện bệnh lao là không được rõ ràng.
Nhưng trong các nghiên cứu lớn gần đây lại ghi nhận tỉ lệ nữ dao động từ 26
– 29%. Điều này có thể lý giải do nam giới đóng vai trò chính lao động trong
gia đình, đồng thời nam giới cũng có nhiều nguy cơ hơn nữ giới (lao động
quá, hút thuốc lá, uống rượu ) làm suy giảm sức đề kháng dẫn đến thúc đẩy
nhanh tiến trình của bệnh lao
(2,4)
.
Tuổi trung bình là 32,7 ± 11,3 tuổi; tuổi nhỏ nhất là 16 và tuổi lớn
nhất là 85 tuổi. Lứa tuổi thường gặp nhất từ 21 – 60 tuổi chiếm 84,77%. Tỉ
lệ này phù hợp với báo cáo tổng kết chương trình chống lao quốc gia giai
đoạn 1996 – 2000 của Nguyễn Việt Cồ
(3)
ghi rõ: ở người lớn , bệnh lao gặp
phổ biến ở người nghèo, lứa tuổi từ 16 – 55 tuổi, cao nhất trong lớp người
25 – 40 là những người đang đóng góp nhiều nhất cho xã hội. Điều này cũng
phù hợp với các nghiên cứu khác trên thế giới
(15,16)
. Nghiên cứu về kinh tế y
tế, khi mắc bệnh , một bệnh nhân lao sẽ mất trung bình 3 – 4 tháng lao động,
tương đương với 20 – 30% thu nhập bình quân của gia đình trong năm. Bệnh
phù hợp với mức độ sang thương lao trên X-quang phổi (theo phân loại của
ATS) thường gặp nhất mức độ nhẹ (46,7%), kế đến là mức độ trung bình
(28,43%) và ít nhất là mức độ nặng (24,87%). Hình ảnh sang thương trên X-
quang phổi đóng vai trò rất quan trọng trong việc định hướng chẩn đoán lao,
đặc biệt khi phổi hợp với các biểu hiện khác như triệu chứng lâm sàng, phản
ứng lao tố trong da, xét nghiệm máu (chủ yếu là công thức bạch cầu ). Theo
nghiên cứu của chúng tôi, phản ứng lao tố trong da dương tính (IDR > 10
mm) chiếm 73,1%. Điều này cũng phù hợp với nghiên cứu của Bùi Xuân
Tám và cộng sự
(6)
(IDR dương tính:83%), và của các tác giả nước ngoài 70 –
95%. Phản ứng lao tố trong da biểu hiện tình trạng nhiễm lao trước đó, là xét
nghiệm không thể thiếu giúp hướng đến chẩn đoán bệnh, đặc biệt những
trường hợp lao phổi AFB âm tính có sang thương trên X-quang phổi. Đa số
các trường hợp có số lượng bạch cầu trong giới hạn bình thường (chiếm
64,97%) và số lượng bạch cầu rất ít khi tăng trên 15.000/mm
3
. Đây cũng là
điểm khác biệt so với nhiễm trùng phổi do vi trùng thường (đa số các trường
hợp số lượng bạch cầu tăng cao trên 15.000/mm
3
). Điều này cũng phù hợp
với trong y văn. Trong nghiên cứu của chúng tôi, đa số các trường hợp có
biểu hiện tốc độ lắng máu đều tăng trong giờ đầu và giờ thứ hai. Mặt khác
chúng tôi cũng ghi nhận 18 trường hợp có đái tháo đường týp 2 kèm theo và
5 trường hợp có nhiễm HIV. Đây là những bệnh lý thường làm suy giảm sức
đề kháng của ký chủ tạo điều kiện cho bệnh lao bùng phát. Đồng thời, chúng
tác động xấu, làm giảm hiệu quả điều trị lao nếu chúng ta không khống chế
đường huyết và tăng sức đề kháng của ký chủ.
Về hiệu quả điều trị lao, 197 trường hợp (100%) đáp ứng tốt với điều