NGHIÊN CƯ!U SỰ BỘC LỘ CK7, CK20, KI-67, P53
VÀ GIAI ĐOẠN LÂM SÀNG CỦA UNG THƯ DẠ DÀY
TÓM TẮT
Mục tiêu: Xác định mức độ bộc lộ của Ki-67, p53, CK7, CK20 và
mối liên quan với giai đoạn lâm sàng.
Đối tượng và phương pháp: 78 bệnh nhân UTDD tại bệnh viện K
Hà Nội được nhuộm hóa mô miễn dịch (HMMD).
Kết quả: Sự bộc lộc Ki-67 chiếm tỷ lệ 67,9%, p53(+) là 44,9%,
CK7(+) chiếm 42,3% và CK20(+) là 28,2%. Sự bộc lộ Ki-67+p53+ chiếm tỷ
lệ cao nhất là 76,9% (p<0,001). Ngược lại, sự bộc lộ CK7-CK20- chiếm tỷ lệ
cao nhất là 37,2% (p>0,05). Ki-67+ và p53+ chiếm tỷ lệ cao nhất ở giai đoạn
IV (lần lượt là 80 và 70%).
Kết luận: Có sự kết hợp có ý nghĩa thống kê giữa sự bộc lộ Ki-67 và
p53 trong ung thư dạ dày. Sự bộc lộ Ki-67 và P53 có xu hướng tăng theo
giai đoạn lâm sàng.
Từ khóa: Hóa mô miễn dịch, giai đoạn lâm sàng, ung thư dạ dày.
ABSTRACT
STUDYING KI-67, P53, CK7, CK20 EXPRESSION AND
CLINICAL STAGING OF GASTRIC CANCER IN HA NOI K HOSPITAL
Nguyen Van Chu, Tran Van Hop, Le Đinh Roanh, Tran Duc Huong
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 11 – Supplement of No 3 - 2007: 61
– 67
Objectives: To determine the expression of CK7, CK20, Ki-67, p53
markers and the relationship between these markers and the clinical stage.
Methods: 78 cases were diagnosed gastric cancer at the Pathological
Department of K Hospital. Ki-67, p53, CK7, CK20 were detected with
immunohistochemical staining in 78 case of gactric cancers.
Results: Expression of Ki-67, p53, CK7 and CK20 markers are
positive (67,9%, 44,9%, 42,3% and 28,2% in turn). Coexpresion of positive
Ki-67 and p53 are the most common (76,9%) (p<0,001). In contrary,
thư nói chung và ung thư dạ dày nói riêng phản ánh tính chất ác tính và tiên
lượng xấu của bệnh. Trong nước đã có các nghiên cứu về sự bộc lộ các dấu
ấn miễn dịch ở các loại MBH UTDD, tuy nhiên chưa có một công trình nào
nghiên cứu về mối liên quan giữa sự bộc lộ của dấu ấn CK7, CK20, Ki-67
và P53 với giai đoạn lâm sàng của ung thư dạ dày. Vì những lý do trên,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích:
(1) Xác định sự bộc lộ các dấu ấn CK7, CK20, Ki-67 và p53 trong
ung thư dạ dày.
(2) Đánh giá mối liên quan giữa sự bộc lộ các dấu ấn trên với giai
đoạn lâm sàng.
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
78 bệnh nhân được chẩn đoán MBH là UTDD tại bệnh viện K qua các
mẫu bệnh phẩm phẫu thuật.
Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
Bệnh nhân sau phẫu thuật UTDD, bệnh phẩm có đủ các lớp thành dạ
dày, có hồ sơ ghi rõ các thông số giai đoạn lâm sàng.
Tiêu chuản loại trừ
Các bệnh nhân không đủ các tiêu chuẩn trên thì không được đưa vào
nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành theo phương pháp nghiên cứu quan sát mô tả.
- Bệnh phẩm
Các bệnh phẩm khối u dạ dày sau mổ được cắt các mảnh ở rìa khối u
và ở trung tâm để cố định, chuyển đúc trong paraffin.
- Nhuộm tiêu bản
- Phương pháp nhuộm thông thường: Tất cả các khối nến được cắt
mảnh có độ dày 3 m và nhuộm tiêu bản theo phương pháp H.E thông
thường.
- Phương pháp hóa mô miễn dịch: Chúng tôi tiến hành kỹ thuật sắp
Âm
tính
22 3 25
Ki-
67
Dương
tính
21 60 53
43 35 78
Nhận xét: sự đồng bộc lộ Ki-67 và p53 chiếm 60 bệnh nhân (76,9%)
và không đồng bộc lộ Ki-67 và p53 là 22 bệnh nhân (28,2%), tuy nhiên sự
bộc lộ Ki-67 đơn thuần cao hơn p53 (21 bệnh nhân-26,9% trái ngược với 3
bệnh nhân-3,8%). Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,001
(p=0,00006).
Bảng 2: Mối liên quan giữa sự bộc lộ CK7 và CK20
CK20
Âm
tính
Dương
tính
Âm
tính
29 16 45
CK7
Dương
tính
IA
4
80
,0
120
,0
5
6,
4
4
IB
1
5
78
,9
1
3
21
,1
1
9
24
7
21
,8
Âm tính Dương tính
Gi
ai đoạn
N
%
+
+
+
+
++
%
N
%
1
III
B
2
66
,7
133
Nhận xét: trong ung thư dạ dày tỷ lệ p53(+) chiếm 44,9%. Tỷ lệ
p53(+) có xu hướng tăng dần theo giai đoạn lâm sàng, cao nhất ở giai đoạn
IV (70,0%). Mức độ p53(+) cũng có xu hướng tăng dần từ 1+ tới 3+. Tuy
nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p>0,05 (p=0,23).
Bảng 4: Mối liên quan giữa giai đoạn lâm sàng và Ki-67
Âm tính Dương tính
Gi
ai đoạn
N
%
+
+
+
+
++
%
N
%
3
IA
2
40
,0
1
2
5
79
,2
2
4
30
,8
III
4
23
13
76
1
21
A ,5
4
5
4
,5 7 ,8
2
III
B
1
33
,3
1
1
,9
78
Nhận xét: tỷ lệ Ki-67(+) trong ung thư dạ dày chiếm 66,9% và chiếm
tỷ lệ cao nhất ở giai đoạn IV (80%). Các giai đoạn khác chiếm tỷ lệ thấp hơn
nhưng đều >50%. Mức độ Ki-67(+) từ 1+ tới 3+ không có sự khác biệt giữa
các giai lâm sàng. Tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với
p>0,05 (p=0,37).
Bảng 5: Mối liên quan giữa giai đoạn lâm sàng và CK7, CK20
CK7+CK
20+
CK7+CK
20-
CK7-
CK20+
CK7-
CK20-
Gi
ai đoạn
N
%
N
%
N
%
N
%
4
66
,6
1
0
37
,0
5
31
,3
5
17
,2
III
A
1
16
,7
7
25
,8
4
25
,0
5
17
,2
III
B
N
%
IV
1
16
,7
3
11
,1
4
25
,0
2
6,
9
6
7,
7
2
7
34
,6
1
6
20
,5
tình trạng tiền ung thư, phản ánh sự mất điều hoà sự phát triển bình
thường
(5,14)
. Sự mất chức năng của gen p53 đóng một vai trò quan trọng
trong tạo ung thư. Sự tích lũy p53 kết hợp mạnh với kích thước khối u và
giai đoạn u. P53 (+) có khả năng di căn hạch và di căn xa cao. Sự tích lũy
p53 là thông số độc lập và có giá trị cao đối với tiên lượng bệnh xấu, không
có sự khác biệt về sự bộc lộ p53 ở bệnh phẩm nội soi và phẫu thuật. Đột biến
gen p53 dẫn tới thời gian bán huỷ kéo dài và tích lũy protein p53 tới mức có
thể phát hiện được bằng hoá mô miễn dịch (HMMD) ở nhân tế bào ung
thư
(6,14)
. Trong những năm gần đây người ta tập trung vào việc nghiên cứu
vận dụng sự hiểu biết về vai trò của p53 như thế nào trong lâm sàng để điều
trị bệnh nhân và trong phân tích p53 như một dấu ấn có tiềm năng trong việc
nghiên cứu mối tương quan giữa bộc lộ p53 và sự phát triển của u, sự tiến
triển, hậu quả và việc vạch ra một chiến lược điều trị đặc biệt nhằm phục hồi
chức năng bình thường của p53
(17)
. Trong nghiên cứu của chúng tôi (bảng 3)
sự bộc lộ sản phẩm protein đột biến gen p53 chiếm 44,9%. Theo nghiên cứu
của Liu và cs (2001) thấy rằng p53(+) chiếm tỷ lệ 42,1%, còn trong nghiên
cứu của Ikeguchi và cs (1999) tỷ lệ p53(+) chiếm 42,5%
(6,8)
. Trong một
nghiên cứu của chúng tôi năm 2003 sự bộc lộ p53 (+) chiếm tỷ lệ 43,8%
(1)
.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương tự như kết quả của các tác giả trong
và ngoài nước. Chúng tôi gặp một số trường hợp ở niêm mạc biểu hiện loạn
và chi tiết các loại biểu mô khác nhau. Trong quá trình phát triển và chuyển
thể thành tế bào u, các loại CK đặc hiệu của tế bào này vẫn được bảo tồn.
CK7 là một polypeptid có TLPT 54 kDa, phân bố rộng rãi trong loại biểu
mô đơn. Các nghiên cứu đã chứng minh mối liên quan giữa sự bộc lộ CK7
trong biểu mô bình thường và mô ung thư của cùng một tổ chức. CK20 là
một polypeptid có TLPT 46 kDa. Sự tổng hợp CK20 được phát hiện đầu tiên
ở phôi tuần thứ 8 trên các tế bào biểu mô đơn trong quá trình phát triển niêm
mạc ruột. CK20 biểu hiện đặc hiệu nhất trong số biểu mô đơn nó hầu như
đặc hiệu cho các tế bào biểu mô ruột và dạ dày cũng như các tế bào Merkel
của da. CK20 âm tính điển hình với UTBM tế bào gai
(10)
. Trong nghiên cứu
của chúng tôi (bảng 2) CK7 là 42,3% và CK20+ chiếm 28,2%. Theo một số
nghiên cứu sự biểu hiện của CK7 và CK 20 điển hình cho UTBM tế bào
chuyển tiếp, UTBM buồng trứng chế nhầy và UTBM tuyến của dạ dày, tụy
và đường mật. Trong UTBM dạ dày, tỷ lệ bộc lộ của CK7 và CK20 lần lượt
là 51 và 56%
(16)
. Theo nghiên cứu của Taniere (2002), tỷ lệ bộc lộ của CK
20 là 55,2%, còn CK7 là < 45%. Theo Chu và cs (2000), 50% UTDD bộc lộ
CK20 dương tính, còn với CK7 là 38% tương tự nghiên cứu của
Chausovsky (1999), sự bộc lộ CK20 là 66,7%
(2,3,15)
. Kết quả nghiên cứu của
chúng tôi khác so với kết qủa nghiên cứu của các tác giả trên. Có thể cỡ mẫu
của chúng tôi khác so vói cỡ mẫu của các tác giả trên, hoặc CK20 chủ yếu
bộc lộ trong các ung thư đại trực tràng còn trong ung thư dạ dày chỉ có một tỷ
lệ hạn chế? Để lý giải điều này cần có các nghiên cứu sâu hơn nữa.
Về sự bộc lộ phối hợp giữa CK7 và CK20 trong UTDD chúng tôi thấy
rằng sự đồng bộc lộ CK7+CK20+ chiếm 6 bệnh nhân (7,7%) và CK7-
. Kết quả nghiên cứu của
chúng tôi tương tự như kết quả nghiên cứu của Đoàn Hữu Nghị, nhưng chưa
thống nhất với kết quả nghiên cứu của Scott. Điều này có thể do số lượng bệnh
nhân ung thư dạ dày giai đoạn IV ở các tuyến dưới không được chuyển lên
bệnh viện K để điều trị.
Về sản phẩm protein đột biến gen p53 trong ung thư dạ dày, chúng tôi
thấy rằng tỷ lệ p53(+) có xu hướng tăng dần theo giai đoạn lâm sàng, cao
nhất ở giai đoạn IV (70,0%), thấp nhất là giai đoạn IA chiếm tỷ lệ 20,0%.
Mức độ p53(+) cũng có xu hướng tăng dần từ 1+ tới 3+. Giai đoạn lâm sàng
phản ánh tình trạng ác tính và tiên lượng xấu của bệnh. Theo kết quả nghiên
cứu trên của chúng tôi, tình trạng đột biến gen p53 thể hiện bằng sản phẩn
protein đột biến gen p53 qua nhuộm HMMD ở nhân các tế bào ung thư và
mức độ p53(+) từ 1+ tới 3+ cũng có xu hướng tăng dần ở các giai đoạn lâm
sàng. Như vậy sự bộc lộ protein bất thường p53(+) là một trong các yếu tố
phản ánh tình trạng ác tính và tiên lượng xấu của bệnh. Tuy nhiên, để xác
định được ý nghĩa của tình trạng đột biến gen p53 với giai đoạn lâm sàng
cần có các nghiên cứu sâu hơn nữa với số lượng bệnh nhân lớn hơn.
Chỉ số tăng sinh nhân bất thường thường thấy trong các tình trạng ác
tính. Trong nghiên cứu của chúng tôi (bảng 4) mức độ bộc lộ Ki-67 (+)
chiếm tỷ lệ cao nhất ở giai đoạn IV (80,0%), thấp nhất ở giai đoạn IB
(42,1%), giai đoạn II và IIIA chiếm tỷ lệ lần lượt 79,2% và 76,5%, đứng thứ
2. Mức độ Ki-67(+) từ 1+ tới 3+ không có sự khác biệt giữa các giai lâm
sàng. Sự bộc lộ Ki-67 theo giai đoạn lâm sàng của ung thư dạ dày tương tự
như sự bộc lộ sản phẩm protein bất thường gen p53 với các giai đoạn ung
thư dạ dày. Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi (bảng 1) sự bộc lộ kết
hợp giữa Ki-67 và p53 có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với P<0,001. Một
lần nữa chứng tỏ sự bộc lộ riêng biệt Ki-67 hoặc p53 hoặc phối hợp cả hai
đều có ý nghĩa phản ánh sự ác tính của khối u và sự bộc lộ này nói lên tình
trạng tiên lượng xấu của bệnh.
Trong ung thư dạ dày, CK7-CK20- chiếm tỷ lệ cao nhất (37,2%), tiếp