-2-
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA THỦY SẢN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI:
TÌM HIỂU TÌNH HÌNH NUÔI CÁ BÈ TẠI
HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
NGÀNH: THỦY SẢN
KHÓA: 2000-2005
Luận văn được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư Thủy Sản Giáo viên hướng dẫn: Huỳnh Phạm Việt Huy Thành phố Hồ Chí Minh
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
-4-
Thaùng 3/2005
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
công của khoa Thủy sản trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, chúng
tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Tìm hiểu tình hình nuôi cá bè tại huyện Tân
Châu, tỉnh An Giang”.
1.2 Mục Tiêu Đề Tài
Tìm hiểu hiện trạng nghề nuôi cá bè tại huyện Tân Châu, tỉnh An Giang.
Phân tích khái quát các yếu tố kinh tế, xã hội và kỹ thuật nuôi được người dân
áp dụng tại đòa phương.
Tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn nhằm đánh giá tiềm năng phát triển cho
nghề nuôi cá bè tại đây. Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
-6-
II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Sơ Lược về Huyện Tân Châu, Tỉnh An Giang
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vò trí đòa lý
Tân Châu là một huyện vùng biên giới (có đường biên giới dài trên 7 km),
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
-7-
Tân Châu nằm giữa hai con sông lớn là sông Tiền và sông Hậu, đất đai được
hình thành do phù sa của hai con sông này bồi đắp nên đòa hình mang tính chất chung
của vùng đồng bằng sông Cửu Long là tương đối bằng phẳng.
Đòa hình nghiêng dần từ phía sông Tiền đến phía sông Hậu, hai bên bờ sông
cao hơn ở giữa nên có kiểu lòng máng, càng vào trong đòa hình càng thấp dần, có
những nơi vào mùa lũ bò ngập sâu khoảng 2m.
2.1.1.3 Khí hậu – thủy văn
Khí hậu điều hòa chia thành hai mùa rõ rệt:
- Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11.
- Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4.
Nhiệt độ bình quân cả năm là 27
0
C. Số giờ nắng trung bình 6 – 7 giờ/ngày,
vào mùa mưa số giờ nắng thấp hơn (khoảng 6 giờ/ngày). Chênh lệch nhiệt độ trung
bình giữa các tháng trong năm không cao (2 – 3
0
C). Do đó, điều kiện nhiệt độ, ánh
sáng trên toàn huyện thích hợp cho sự sinh trưởng của nhiều loài vật nuôi, cây trồng
và các loại sinh vật trong đất hoạt động.
(chiếm 23,44%), còn lại ở nông thôn.
Toàn huyện có 34.010 hộ gia đình với phần lớn là hộ hai thế hệ (trong đó chủ
hộ là nam giới chiếm 84,0%), trung bình có 4,69 người/hộ. Mật độ dân số là 988
người/km
2
. Dân cư phân bố không đồng đều, tập trung đông tại thò trấn với mật độ
bình quân 6.375 người/km
2
, trong khi đó ở các xã Phú Lộc, Vónh Hòa, Lê Chánh mật
độ trung bình chỉ khoảng 297 – 571 người/km
2
. Phần lớn dân cư tập trung tại các trục
lộ, ven sông, kênh rạch.
b. Lao động
Theo số liệu thống kê, toàn huyện có 94.878 người trong độ tuổi lao động
(chiếm 59,40% dân số của huyện), trong đó lao động (LĐ) nam có 45.028 người, LĐ
nữ là 49.850 người (chiếm 52,54%). Số LĐ làm việc trong các ngành kinh tế có
91.747 người, cụ thể như sau:
Các chỉ tiêu
Đvt Năm
trước
2002
Năm
báo cáo
2003
% năm trước
76.242
80.739
32.969
124.012
93.120
44.783
48.337
33.983
4,61
971,11
159.719
77.561
82.158
37.431
122.288
94.878
45.028
49.850
34.010
4,69
988,00
101,74
101,73
101,76
hẹp nên tiến độ thực hiện chậm trễ và gặp không ít trở ngại. Vấn đề điện khí hóa,
nguồn nước sử dụng được quan tâm thực hiện từ rất sớm với 100% mạng lưới điện
được truyền tải đến tận các thôn, ấp và nguồn nước sạch được đưa vào tận các xã
vùng sâu, vùng xa của huyện.
b. Giao thông vận tải
Đường bộ: toàn huyện có một bến xe khách tại thò trấn với nhiều tuyến trên
khắp đòa bàn huyện, xã, các tỉnh và thành phố. Tuy số tuyến đường được nâng cấp,
sửa chữa vẫn còn hạn chế nhưng phần nào cũng đáp ứng đủ nhu cầu giao thông của
người dân các huyện, xã, các ấp.
Các chỉ tiêu
Năm trước
2002
Năm báo cáo
2003
%năm trước
so với năm
báo cáo
1. Nông, lâm, thủy sản
- Nông nghiệp
- Lâm nghiệp
- Thủy sản
+ LĐ nuôi trồng thủy sản
+ LĐ đánh bắt thủy sản
2. Công nghiệp, xây dựng
- Công nghiệp
- Xây dựng
3. Dòch vụ
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
-10-
Đường thủy: có nhiều bến tàu, bến phà thông thương với các huyện, xã khác
dọc theo sông Tiền và sông Hậu, đặc biệt là nối liền với tỉnh Đồng Tháp và
Campuchia nên việc cung cấp các dòch vụ thức ăn và tiêu thụ cho ngành nghề nuôi cá
bè nhìn chung khá thuận lợi.
2.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp – thủy sản
2.1.3.1 Trồng trọt
Theo Niên giám thống kê huyện Tân Châu năm 2003, cơ cấu cây trồng trên
toàn huyện như sau:
Bảng 2.3 Diện tích, năng suất và sản lượng các loại cây trồng
Cây trồng Diện tích
(ha)
Tỉ lệ
(%)
Sản lượng
(tấn)
Năng suất
(tấn/ha)
1. Cây lương thực
- Lúa
- Bắp
- Khoai lang
1.342
61
5,72
7,27
6,75
2,00
2,50
2,53
8,84
Tổng cộng 26.831 100.00 739.89 35,61
Cây lương thực được xem là cây trồng chính tại huyện Tân Châu, trong đó cây
lúa chiếm diện tích cao nhất 24.074 ha (chiếm đến 89,72% tổng diện tích đất trồng
trọt) với năng suất đạt 5,72 tấn/ha nên sản lượng phụ phẩm cám, tấm rất lớn làm thức
ăn cho cá Tra, cá Basa; góp phần hạ giá thành sản xuất cá bè.
Cây công nghiệp hàng năm thì có đậu nành, chiếm 530 ha và năng suất đạt
2,53 tấn/ha. Cây có năng suất cao nhất là cây mè với năng suất hàng năm đạt 8,84
tấn/ha nhưng diện tích gieo trồng chỉ có 69 ha (chiếm 0,26%). Một vấn đề bất cập là
giá nông sản còn ở mức thấp và luôn biến động qua từng vụ mùa, chưa kể đến tình
trạng người dân bò thương lái ép giá do thiếu thông tin giá cả cũng như thò trường tiêu
thụ. Vì thế, thu nhập người dân thường không cao nếu tính theo qui mô sản xuất so
với các ngành khác tại đòa phương.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
-11-
)
Số bè
nuôi
Thể
tích
(m
3
)
Diện tích
(m
2
)
Số con
giống
(1.000 con)
- Toàn huyện
- Tân Châu
- Phú Lộc
- Vónh Xương
- Vónh Hòa
- Tân An
- Long An
- Long Phú
- Châu Phong
- Phú Vónh
- Lê Chánh
1.141
93
87
242
14
25
72
5
46
142
-
64
-
9
97.183
3.612
6.442
18.554
1.290
11.854
36.494
-
16.512
-
2.425
636.201
9.172
20.312
399.245
120.540
11.069
5.250
8.520
24.980
- Sản lượng cá nuôi ao, hầm: 1.778 tấn.
- Sản lượng cá nuôi bè: 13.611 tấn.
2.1.4 Các ngành kinh tế khác
2.1.4.1 Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp
Ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiêp chiếm tỷ trọng tương đối trong
huyện và ngày càng phù hợp với xu hướng Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa nông
thôn. Tuy nhiên, các hoạt động ở đây vẫn còn ở mức thấp, chủ yếu sản xuất các loại
sản phẩm thô, không trang bò nhiều thiết bò hiện đại, trình độ kỹ thuật phục vụ sản
xuất còn lạc hậu. Các ngành nghề truyền thống vẫn được khuyến khích phát triển
như: dệt thổ cẩm, nhuộm, làm tơ,…
2.1.4.2 Thương mại – dòch vụ
Trong những năm qua, tỷ trọng ngành thương mại – dòch vụ chiếm khá lớn
trong tổng cơ cấu kinh tế của toàn huyện. Tuy nhiên, các ngành nghề trong lónh vực
này chỉ dừng lại ở mức độ kinh doanh, dòch vụ buôn bán nhỏ, chưa thực sự khai thác
hết tiềm năng kinh tế cũng như những lợi thế về điều kiện tự nhiên để phát huy hết
khả năng của huyện.
2.2 Tổng Quan về Nuôi Cá Bè tại Đồng Bằng Sông Cửu Long
Tại đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), nuôi cá bè trên sông là một kỹ thuật
nuôi tăng sản mang tính chất công nghiệp. Cá được nuôi trong bè đặt trên các dòng
sông nước chảy liên tục, do đó luôn cung cấp đủ dưỡng khí cho nhu cầu sống và phát
triển của cá nên có thể nuôi với mật độ cao và đạt năng suất nuôi cũng rất cao.
bang Alabana là nơi nuôi cá lồng đầu tiên ở Hoa Kỳ vào năm 1964. Những nước châu
Âu có nghề nuôi cá lồng phát triển như: Đức, Anh, Pháp, Nauy và Hà Lan. Ở Châu
Phi, từ năm 1972 Tandania đã nuôi tăng sản cá rô phi trong lồng ở hồ Vachtoria,
Nigieria cũng nuôi cá lồng bè ở hồ Kainhi (Trần Duy, 1993; trích bởi Nguyễn Văn
Chung, 2002). Tuy nhiên, chỉ đầu những năm 1980 nuôi cá bè mới thực sự đóng góp
đáng kể vào sản lượng nuôi trồng thủy sản (Schmittou và ctv, 1993).
Ngày nay, vò trí đặt lồng bè cá không chỉ giới hạn ở sông mà nó còn được đặt
trong các hồ tự nhiên, hồ chứa nhân tạo của Nigieria, Nhật, Singapore và Mỹ, ở các
hồ vùng núi cao của Chile, Colombia, các ao ở Mỹ, ở vùng đầm lầy Ấn Độ, các kênh
mương thủy lợi ở Indonesia, trong các hồ chứa nước nóng của Bungari và cả ở biển.
Nguyên liệu làm lồng bè cá cũng thay đổi, ở các nước châu Á vẫn sử dụng lồng bè
bằng tre hoặc gỗ, những nước có nền nông nghiệp phát triển như Đức, Nhật, lồng bè
có dạng lưới được làm bằng sợi tổng hợp polyamid hoặc sử dụng những tấm kim loại
để làm lồng nuôi cá như ở Mỹ (Trần Duy, 1993; trích bởi Nguyễn Văn Chung, 2002).
2.2.1.2 Tại đồng bằng sông Cửu Long
Theo, Phạm Văn Khánh (2003), nuôi cá bè ở ĐBSCL có từ những năm 60 của
thế kỷ 20, do các kiều dân Việt Nam hồi hương từ Campuchia về áp dụng tại vùng
Châu Đốc và Tân Châu (An Giang). Ban đầu, ngư dân nuôi cá trong các bè bện bằng
tre, đồng thời bè không có mái che, số lượng rất khiêm tốn và chỉ bán làm khô cá tra
phồng hoặc cá chợ để ăn.
Nghề nuôi cá bè bắt đầu phát triển mạnh vào những năm đầu của thập niên
70, cá tra và basa lúc bấy giờ chủ yếu được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu một
phần sang các nước Hồng Kông, Đài Loan (Trung Quốc) và Singapore (Phillips và
ctv, 2004). Sau năm 1975 số lượng bè bò sụt giảm mạnh do công việc làm ăn của
người dân gặp nhiều khó khăn. Đến năm 1980, khi tình hình chiến tranh biên giới
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
Tiền và sông Hậu), đồng thời có nhiều yếu tố thuận lợi về thức ăn cho cá, con giống,
cơ sở hạ tầng và nhất là có nhiều nhà máy chế biến đông lạnh thủy sản (Griffiths và
ctv, 2002).
Theo Edwards và ctv (2004), các huyện có nghề nuôi cá bè phát triển gồm:
Châu Đốc, An Phú, Châu Phú, Phú Tân, Tân Châu, Chợ Mới, Long Xuyên (An
Giang) và Hồng Ngự, Thanh Bình, Cao Lãnh, Se Đéc (Đồng Tháp).
2.2.3 Đối tượng nuôi:
Đối tượng nuôi cá bè thường là các loài cá có giá trò kinh tế cao, bao gồm các
loài thuộc họ cá tra như cá tra (Pangasius hypophthalmus), cá basa (P. bocourti), cá
hú (P. conchophilus), vồ đém (P. larnaudii); họ cá chép như cá mè vinh (Barbodes
gonionotus), cá he vàng (B. altus); các loài khác có bống tượng (Oxyeleotris
marmoratus), lóc bông (Channa micropeltes),... (Griffiths và ctv, 2002). Thông
thường, người ta chỉ nuôi một loài chính (tra, basa, bống tượng,...) nhưng có thể ghép
với một tỉ lệ thấp các đối tượng khác để tận dụng thức ăn thừa (Ngô Trọng Lư và
Thái Bá Hồ, 2001).
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
-15-
2.2.4 Thức ăn sử dụng
Theo Phạm Văn Khánh (2003), nguồn nguyên liệu làm thức ăn cho cá rất
phong phú do khu vực tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười đất đai màu mỡ, thích
hợp cho canh tác các loại nông sản để chế biến thức ăn cho cá nuôi bè (cám, tấm,
đậu, bắp,...). Hơn nữa, nguồn cá tạp dồi dào từ sông và biển như cá linh (Labeobarb
siamensis), cá trích (Clupea leiogaster), cá cơm (Stolephorus spp), cá mòi
(Clupanodon spp),... cũng là nguyên liệu chế biến thức ăn phổ biến cung cấp cho các
Campuchia, gấp 9 – 23 lần so với lưu lượng nước vào mùa khô). Vận tốc dòng chảy
vào mùa lũ 0,5 – 0,6 m/s, ở mùa khô 0,1 – 0,2 m/s, đảm bảo cung cấp lượng oxy đầy
đủ cho nuôi cá bè với mật độ cao.
Nhiệt độ nước biến thiên không nhiều qua các mùa, cao nhất là 31
0
C vào
tháng 5 và tháng 10, thấp nhất là 26
0
C vào tháng giêng. Biên độ chênh lệnh trong
ngày khoảng 1,5
0
C, nhiệt độ trên tầng mặt cao hơn dưới đáy 2 – 3
0
C (Lý Kế Huy,
1988; trích bởi Phạm Văn Khánh, 2003).
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
-16-
Độ pH của nước thay đổi không nhiều theo mùa. Vào mùa khô, pH trung bình
khoảng 7,11 và mùa mưa từ 6,6 – 6,8 (Nguyễn Văn Thương và ctv, 1999). pH nước
sông khá ổn đònh là đặc điểm rất có lợi cho đời sống của thủy sinh vật và cá.
Các chất khí hòa tan trong nước ở sông Tiền và sông Hậu tương đối phù hợp,
thoáng sạch, dưỡng khí đầy đủ (4,3 – 9,7 mg/L). Hàm lượng khí cacbonic thấp (1,7 –
5,2 mg/L), nằm dưới ngưỡng giới hạn có hại đối với cá và sinh vật dưới nước. Ngoài
ra, không có các khí độc trong nước sông (Phạm Văn Khánh, 2003).
3.1 Thời Gian và Đòa Điểm Thực Hiện Đề Tài
Đề tài được thực hiện từ ngày 31/9/2004 đến ngày 31/12/2004.
Đòa điểm: tại hai xã Long An, Châu Phong và thò trấn Tân Châu là những khu
vực tập trung nhiều bè nuôi cá của huyện Tân Châu, tỉnh An Giang. Ngoài ra, ba khu
vực này đại diện cho ba thủy vực khác nhau ở huyện, đó là sông Tiền (xã Long An,
thò trấn Tân Châu), sông Hậu (xã Châu Phong) và kênh Xáng (xã Long An).
3.2 Phương Pháp Thu Thập Số Liệu
3.2.1 Số liệu thứ cấp
Các thông tin, tài liệu chủ yếu được thu thập từ các cơ quan chức năng: Sở
Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn (NN & PTNT) tỉnh An Giang; Phòng Xây
Dựng và Phát Triển Nông Thôn (XD & PTNT), phòng Nông Nghiệp và Phát Triển
Nông Thôn (NN & PTNT), phòng Thống Kê huyện Tân Châu, tỉnh An Giang. Các
thông tin, tài liệu gồm có:
- Điều kiện tự nhiên và bản đồ đòa giới hành chính của huyện Tân Châu.
- Điều kiện kinh tế – xã hội của huyện năm 2003.
- Các báo cáo về kế hoạch và hoạt động thủy sản của tỉnh và của huyện qua
các năm.
3.2.2 Số liệu sơ cấp
3.2.2.1 Điều tra gián tiếp
- Trình độ văn hóa.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
-19-
- Kinh nghiệm nuôi cá bè.
- Số lao đông tham gia nuôi thủy sản trong hộ.
(2) Chi tiết sản xuất:
- Về bè nuôi.
- Nguồn giống thả nuôi.
- Cách thức chăm sóc, quản lý và thu hoạch.
- Phương pháp phòng và trò bệnh.
(3) Các thông tin khác:
- Khó khăn trong quá trình sản xuất.
- Nguồn nước tại vùng nuôi.
- Các thông tin về kinh tế (giá cả, thuế, chi phí sản xuất,…).
3.3 Phương Pháp Phân Tích các Chỉ Tiêu Kinh Tế
còn lại.
Doanh thu = Tổng sản lượng đơn giá.
- Lợi nhuận thô: là số tiền còn lại sau khi trừ mọi khoản chi phí bỏ ra.
Lợi nhuận thô = Doanh thu – tổng chi phí.
- Lợi nhuận ròng: là lợi nhuận thu được sau khi trừ đi chi phí thuế.
Lợi nhuận ròng = Lợi nhuận thô – thuế.
- Thu nhập: thể hiện số tiền còn lại sau khi trừ đi khấu hao chi phí cố đònh và
chi phí lưu động.
Thu nhập = Doanh thu – khấu hao chi phí cố đònh – chi phí lưu động.
Hay
Thu nhập = Lợi nhuận + chi phí cơ hội.
- Hiệu quả vốn: là chỉ tiêu cho biết một đồng chi phí sản xuất bỏ ra thì thu
được bao nhiêu đồng doanh thu.
Hiệu quả vốn = Tổng doanh thu / Tổng chi phí sản xuất.
3.4 Phương Pháp Phân Tích Số Liệu
Số liệu được tổng hợp và xử lý bằng chương trình Excel. Thông qua các số
liệu này, chúng tôi tiến hành phân tích, nhận xét về các yếu tố kinh tế, xã hội cũng
Số bè
nuôi cá
basa
Số bè
nuôi cá
khác
Số bè
ương
cá Tra
Số bè
ương cá
Basa
Số bè
ương cá
khác
1
2
3
4
5
6
7
8
Tân Châu
Lê Chánh
Châu Phong
Long An
Tân An
Vónh Hòa
Vónh Xương
0
2
17
1
0
1
23
14
3
38
0
0
0
0
3
9
2
9
0
0
0
3
0
6
0
6
7
Tổng cộng 377 180 24 48 80 23 22
(Phòng XD & PTNT huyện Tân Châu, tháng 6 năm 2004)
Lê Chánh và Phú Lộc có tổng cộng 34 bè nhưng chủ yếu là ương và nuôi các
loài cá khác như: he, hú, rô phi,…
Thò trấn Tân Châu có 14 bè nhưng đa số là bè nhỏ (kích thước 4m8m3m) và
chủ yếu dùng để nuôi cá thòt. Các hộ nuôi cá bè tại thò trấn có lợi thế về giao thông,
tuy nhiên môi trường nước ở đây bò ô nhiễm nhiều hơn các khu vực khác do rác và
chất thải từ chợ và các khu dân cư.
Tổng số bè nuôi cá basa thòt hiện chỉ còn 24 bè (bằng 1/8 số bè nuôi cá tra
thòt). Trong những năm gần đây, số lượng và quy mô nuôi cá basa giảm dần do chi
phí đầu tư cao, sản phẩm khó chế biến (bụng nhiều mỡ) mặc dù thòt cá basa trắng và
rất ngon. Năm 2004 được xem là năm huyện có số bè nuôi cá basa ở mức thấp nhất
(giảm 67,12% so với năm 1998).
Do nhiều biến động về thò trường vá giá cá thương phẩm, số lượng bè nuôi cá
trong huyện dao động nhiều qua từng năm, cụ thể như sau:
lại giảm. Năm 2002 thò trường tiêu thụ cá bè ổn đònh trở lại nên số bè nuôi lại tăng
nhưng tiếp tục giảm vào năm 2003 do sản phẩm cá tra, basa của Việt Nam phải chòu
mức thuế cao hơn trước sau quyết đònh ngày 17/6/2003 của Bộ Thương Mại Hoa Kỳ
(DOC) về vụ kiện “Việt Nam bán phá giá ca tra, basa trên thò trường Mỹ”. Năm
2004, số lượng bè có tăng nhưng không đáng kể.
4.1.1.2 Quy mô bè nuôi
Tùy theo khả năng nguồn vốn mà mức độ đầu tư về qui mô nuôi của từng ngư
dân khác nhau, nhưng nhìn chung các bè nuôi cá của huyện có kích thước thuộc loại
trung bình, cụ thể như sau:
Bảng 4.2 Số lượng bè chia theo kích cỡ
ĐVT: cái
Chia theo kích cỡ
STT Xã-Thò trấn
Tổng số
bè nuôi
Dưới
483
(m)
483 đến
6124
(m)
6124 đến
8164,5
(m)
Trên
8164,5
5
30
22
1
0
23
26
16
0
22
0
5
0
21
46
9
0
14
0
1
0
12
42
3
0
2
0
Tổng cộng 377 131 88 95 60
(Phòng XD & PTNT huyện Tân Châu, tháng 6 năm 2004)
STT Xã-Thò trấn
Tổng số
con giống
(con)
Số lượng cá
tra giống
Số lượng cá
basa giống
Số lượng cá
giống khác
1
2
3
4
5
6
7
8
Tân Châu
Lê Chánh
Châu Phong
Long An
Tân An
Vónh Hòa
Vónh Xương
Phú Lộc
3.000
0
15.000
1.676.000
Trong sáu tháng đầu năm 2004, sản lượng con giống ương nuôi bè là
3.143.400 con các loại, trong đó nhiều nhất là cá tra 2.586.000 con (chiếm đến
82,27% tổng số lượng cá giống). Số lượng giống cá basa và các loại cá khác tuy
không nhiều (557.400 con) nhưng cũng đủ cung cấp cho nhu cầu nuôi trong huyện.
Xã Long An có sản lượng cá giống cao nhất, kế đến là xã Vónh Xương với sản lượng
lần lượt là1.676.000 con và 911.500 con (chiếm 53,32% và 30% tổng sản lượng cá
giống). Các xã còn lại có sản lượng cá giống không nhiều, riêng xã Lê Chánh hoàn
toàn không sản xuất giống. Điều đáng nói là xã Long An tuy có số bè ương nuôi cá
giống ít hơn xã Vónh Xương (ít hơn 27 bè) nhưng số lượng giống cung cấp lại cao hơn
rất nhiều. Lý do là vì các hộ ở Long An đầu tư ương giống trong những bè kích cỡ
lớn, họ áp dụng kỹ thuật sinh sản nhân tạo để thu con giống chứ ít đánh bắt cá tự
nhiên như ngư dân ở Vónh Xương.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
-25-
Song, với nguồn giống phong phú từ tự nhiên, cộng với việc người dân áp
dụng kỹ thuật sinh sản nhân tạo nên số lượng con giống cung cấp hàng năm tương
đối cao (cả sản lượng cá giống ương nuôi trong ao, hầm và bè). Vì thế, số lượng con
giống không những cung cấp đủ cho người dân nuôi cá trong huyện mà còn dư để
bán cho các khu vực ngoài huyện như: Long Sơn (Phú Tân), Long Thuận (Đồng
Tháp)…
Sản lượng cá nuôi bè cung ứng ra thò trường ước tính trong sáu tháng đầu năm
2004 là 5.090 tấn các loại, trong đó:
- Cá tra: 3.800 tấn.
12%
51%
32%
5%
25 - 35
36 - 45
46 - 55
> 55
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
-26-
Tuổi tác của các chủ hộ nuôi bè qua điều tra phân bố từ 29 đến 58 tuổi, trong
đó độ tuổi từ 36 – 45 chiếm đa số với 51%, kế đến là độ tuổi từ 46 – 55 tuổi. Như
vậy, chủ sở hữu bè cá đa số là những người có thâm niên vì ngành nghề này đòi hỏi
sự đầu tư cao và nhiều năm kinh nghiệm. Vả lại, đây là ngành nghề truyền thống gia
đình (thường thì cha mẹ là những người tham gia quản lí bè cá chứ không phải con
cái) nên sự phân bố tuổi như trên là hợp lý.
4.2.2 Trình độ văn hóa
Bảng 4.4 Trình độ văn hóa của người nuôi tại khu vực điều tra
Trình độ văn hóa Số người Tỷ lệ (%)
Cấp 1
Cấp 2
Cấp 3
6
30
5
7,32
65,85
26,83
Tổng 41 100
Kinh nghiệm nuôi được đúc kết qua quá trình sản xuất và tìm hiểu lâu dài của
người dân. Qua điều tra, người dân đa số có kinh nghiệm nuôi từ 5 – 10 năm (chiếm
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.