Khảo sát quy trình nuôi tôm sú thâm canh bằng phương pháp sinh học tại trại tôm Thành Mỹ - Pdf 20


2
Chương 1
MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề
Hiện nay vấn đề nuôi tôm CN – BCN đối với tất cả những vùng nuôi tôm sú trên
cả nước đã và đang gặp rất nhiều khó khăn, thử thách. Người nuôi tôm vừa phải đối
đầu với sự ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, chất lượng tôm giống, vừa phải chịu ảnh
hưởng của sự biến động quá cao giá cả đầu vào như: giống, thứ
c ăn, hóa chất, … Bên
cạnh đó, giá bán sản phẩm tôm của người nuôi lại ngày càng mất giá do ảnh hưởng của
sự khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Trước những khó khăn trên thì người nuôi tôm phải
áp dụng cho mình một biện pháp nuôi mới để giảm được chi phí đầu tư sản xuất cũng
như là để tăng lợi nhuận. Bằng những kinh nghiệm thực tế qua việc quản lý quy trình
nuôi tôm bằ
ng chế phẩm sinh học mà chúng tôi trình bày sau đây nhằm giúp cho người
nuôi hạn chế được vốn đầu tư, dễ dàng trong quản lý, rủi ro thấp nhưng lợi nhuận lại
cao. Mô hình nuôi tôm sú thâm canh bằng phương pháp sinh học là cơ sở để xuất bán
được tôm sạch, kích cỡ lớn, đủ điều kiện cạnh tranh trong xu thế ngày nay đa số các
nước nuôi tôm CN – BCN đều thiên về tôm thẻ chân trắng.
Xã An Đức của huyện Ba Tri là xã tiếp giáp nhi
ều với kênh rạch và bị nhiễm
mặn trong 6 tháng, sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả. Bà con tại đây nuôi tôm quảng
canh, hình thức nuôi này chỉ đạt năng suất thấp, dễ bị nhiễm dịch bệnh và không có
hiệu quả kinh tế mà diện tích đất sử dụng phải lớn. Được sự hổ trợ của chính quyền địa
phương nên các hộ nông dân tại đây đã chủ động chuyể
n đổi sang nuôi tôm công
nghiệp trên vùng đất bị nhiễm mặn này. Nhưng do ý thức cộng đồng kém nên chỉ mới
phát triển nuôi trong những năm gần đây mà hiện nay môi trường nước tại đây đã bị ô
nhiễm, một phần cũng do tôm giống tại đây có nguồn gốc không rõ ràng chưa được

yếu trên thế giới, Ðông Nam Á là vùng dẫn đầu chiếm 53,7 % tổng sản lượng tôm
toàn thế giới trong tổng số 54 quốc gia có ngành công nghiệp nuôi tôm phát triển
(thống kê của FAO năm 1997) (nguồn: khoahocthuysan.org).
Năm 2000, sản lượng tôm sú nuôi đạt 571,5 nghìn tấn, chiếm 52,3 % tổng sản
lượng các loại tôm nuôi (FAO 2002).
Nghề nuôi tôm trên thế giới đã trải qua nhiều thế kỷ nhưng nghề nuôi tôm hiện
đại chỉ thực sự ra đời kể từ
năm 1930, khi các nhà khoa học Nhật Bản sản xuất được
giống nhân tạo nhưng chỉ bùng nổ từ những năm 80 khi tôm giống đã được sản xuất ra
với số lượng lớn để cung cấp cho người nuôi (Lê Long Triều, 2008).
Trên thế giới có hai khu vực nuôi tôm lớn là Tây bán cầu gồm các nước Châu
Mỹ La Tinh và Đông bán cầu gồm các nước Nam Á và Đông Nam Á. Theo Nguyễn
Văn Hảo, 2000 thì năm 1997 ở khu vực Tây bán cầ
u, Ecuador đạt 130.000 tấn chiếm
66 % tổng lượng tôm nuôi của khu vực. Khu vực Đông bán cầu thì sản lượng tôm nuôi
là 462.000 tấn chiếm 70 % tôm nuôi trên thế giới. Trong đó, Thái Lan là nước đứng
đầu, kế đến là Indonesia, Trung Quốc, Bangladesh, Việt Nam (Lê Long Triều, 2008).
2.2 Tình hình nuôi tôm tại Việt Nam
Theo Bộ NN&PTNT năm 2009, cả nước sẽ giảm 35.000 ha diện tích NTTS
xuống còn 1.065.000 ha với sản lượng ước đạt là 2,3 triệu tấn, trong đó: cá tra nuôi là
1,2 triệu tấn, tôm sú nuôi là 280.000 tấn, tôm thẻ chân tr
ắng nuôi là 100.000 tấn.

5
Ông Bùi Đức Quý, Cục phó Cục NTTS – Bộ NN&PTNT cho biết, diện tích
NTTS giảm nguyên nhân là tình hình tiêu thụ tôm trên thế giới đang giảm mạnh do
suy thoái kinh tế; thị trường nhập khẩu tôm chủ lực là Mỹ đang có dấu hiệu ngưng lại,
thị trường Nhật Bản giảm từ 32 % còn 19 %, ... Giá tôm nguyên liệu trong nước cũng
đã giảm xuống mức thấp nhất trong vòng 10 năm qua. Hiện tại các tỉnh ĐBSCL, giá
tôm nguyên liệu hiện gi

VASEP dự báo trong quí 2/ 2009, sức mua của nhiều nước trên thế giới tiếp tục
giảm, biến động tỷ giá ở các nước không có lợi cho xuất khẩu. Trong khi đó, phần lớn
sản phẩm tôm sú của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản, nhưng cuối tháng
5 – 2009, giá tôm tại thị trường này đã giảm 10 – 20 % so với thời điểm cùng kỳ năm
trước. Các nhà nhập khẩu dự báo, tình tr
ạng khó khăn trong xuất khẩu tôm sẽ còn kéo
dài đến tháng 8 – 2009.
Tại ĐBSCL, hơn 1 tháng nữa bước vào thu hoạch tôm sú chính vụ. Hiện tại, tôm
nguyên liệu loại 20 con/kg giá 117.000 đồng, 30 con/kg giá 95.000 đồng và 80.000
đồng loại 50 con/kg. Trong khi đó, giá thức ăn cho tôm đang đứng ở mức cao, cùng
với những rủi ro về thị trường xuất khẩu, dịch bệnh, ... tạo nên sức ép khá lớn cho
người nuôi tôm ĐBSCL. Đó là chưa kể đến việc nông dân thi
ếu vốn bỏ ao, do chậm
tiếp cận nguồn vốn kích cầu của Chính phủ, điều này làm cho diện tích nuôi tôm ở các
tỉnh giảm so với vụ trước.
Theo Phạm Nam Dương - phó giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Trà Vinh cho biết:
“Năm nay, ảnh hưởng thời tiết, giá tôm nguyên liệu không ổn định, chi phí nuôi (thức
ăn, con giống, chế phẩm sinh học, công lao động, ...) tăng cao, nhiều địa phương thả
nuôi tôm chậm và mật
độ thưa hoặc chuyển sang nuôi các đối tượng khác như: cua
biển, cá chẽm, cá kèo, ... Do đó, tại Trà Vinh vụ nuôi tôm sú năm 2009 khó đạt kế
hoạch đề ra”. Năm 2009, tỉnh Trà Vinh đưa ra kế hoạch thả nuôi trên 2,5 tỉ con giống
với diện tích 27.450 ha. Cuối tháng 5 – 2009, diện tích thả nuôi tại Trà Vinh là 18.300
ha, giảm 6.700 ha so với cùng kỳ năm trước. Đến nay, khoảng 30 % diện tích bị thiệt
hại phải chuyển sang nuôi các loại thủy sản khác, ...
Tính đế
n đầu tháng 6 – 2009, diện tích tôm sú thiệt hại của vùng ĐBSCL đã gần
10.000 ha, trong đó tại Sóc Trăng diện tích thiệt hại hơn 1.407 ha, Bạc Liêu là 3.000
ha, Bến Tre trên 105 ha (www.vietlinh.com.vn).
2.3 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre

triển các hệ thống canh tác đ
a dạng, đặt biệt là NTTS.

8
2.3.1.2 Thời tiết và khí hậu
Huyện nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhưng lại nằm
ngoài ảnh hưởng của gió mùa cực đới, nên nhiệt độ cao, ít biến đổi trong năm, nhiệt độ
trung bình hằng năm từ 26
0
C – 27
0
C (www.bentre.gov.vn).
2.3.1.3 Thủy văn
Ba Tri là huyện ven biển Đông, chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều, biên
độ dao động từ 1,2 – 2,4 m. Nguồn nước chủ yếu của huyện được cung cấp từ hai con
sông Ba Lai – Hàm Luông và 50 kênh rạch vào sâu trong nội đồng, tổng chiều dài hệ
thống kênh rạch lớn lên đến 128 km (www.bentre.gov.vn).
2.3.1.4 Địa hình và thổ nhưỡng
Địa hình

Đất đai đa dạng, xen kẽ giữa các nền đất phù sa là các giồng cát có cao trình cao,
tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập trung dân cư, xây dựng các kết cấu hạ tầng.
Khu vực Tây và Tây Bắc có địa hình bằng phẳng, ít chia cắt, thuận lợi cho việc
bố trí công trình thủy lợi ngọt hóa cải tạo đất, các hệ thống canh tác nông nghiệp tập
trung theo hướng thâm canh và đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi.
Khu vực Đông và Đông Nam có địa hình thấp, độ mặn tương đối ổn định, thuận
lợi cho việc bố trí NTTS theo hướng tăng tỷ trọng nuôi CN – BCN (Lê Long Triều,
2008).
Thổ nhưỡng


4024 của Ủy Ban Nhân Dân tỉnh về vệ sinh an toàn thực phẩm trong nuôi tôm thâm
canh và an toàn vệ sinh thực phẩm trong sản phẩm khai thác (Lê Long Triều, 2008).
2.3.3 Hiện trạng nuôi tôm sú tại huyện Ba Tri
Năm 2008, huyện Ba Tri có tổng diện tích nuôi gần 5.000 ha, đạt 103,66 %, tăng
4,3 % so cùng kỳ. Diện tích nuôi tôm sú là 3.413 ha, trong đó có 1.100 ha nuôi tôm
thâm canh.
Năm 2009, huyệ
n tập trung xây dựng hệ thống thủy lợi có hiệu quả hơn cho nuôi
trồng, nhất là bảo đảm nuôi an toàn, hạn chế ô nhiễm môi trường. Nuôi phải có ao
lắng, lọc đúng theo qui định. Hoàn chỉnh qui trình nuôi mới, đối tượng mới để thay thế
các vùng nuôi không còn phù hợp (www.vietlinh.vn).

10
2.3.4 Các mô hình nuôi tôm sú tại huyện Ba Tri
2.3.4.1 Nuôi thâm canh, bán thâm canh
Năm 2008, diện tích nuôi tôm CN - BCN là 1.095 ha, đạt 117,7 % kế hoạch, so
với năm 2007 thì tăng 172 ha từ nuôi tôm quảng canh. Năng suất bình quân đạt 6 – 7
tấn/ha (Lê Long Triều, 2008).
2.3.4.2 Nuôi quảng canh
Diện tích nuôi tôm quảng canh trong năm 2008 là 1.495 ha đạt 88,4 % kế hoạch
so với năm 2007 giảm 207 ha, nguyên nhân là do chuyển lên nuôi tôm thâm canh.
Nguồn giống tôm tự nhiên được lấy vào đầm qua cửa cống vào các thời kỳ triều cường
trong tháng từ 4 – 6 ngày theo chu kỳ con nước 15 và 30 âm lịch. Năng suấ
t đạt từ 200
– 300 kg/ha. Hình thức nuôi này đã dần xóa bỏ trong những năm gần đây.
2.3.4.3 Nuôi quảng canh cải tiến
Nhiều hộ nuôi tôm sú theo mô hình quảng canh cải tiến đã mang lại hiệu quả
kinh cao, tiêu biểu là hộ anh Nguyễn Văn Nghe ở ấp 5, xã An Hiệp, huyện Ba Tri. Thả
giống cỡ từ 2 – 3 cm, mật độ nuôi 10 con/m
2

Bộ: Decapoda
Họ: Penaeidae
Giống: Penaeus
Loài: Penaeus monodon
Tên Tiếng Anh: Giant/ Black Tiger Shrimp
Tên Tiếng Việt: tôm sú.

12
2.4.2 Các đặc điểm của tôm sú
Phân bố

Bản đồ phân bố tôm sú (fao.org)

Phạm vi phân bố của tôm sú khá rộng, vùng nhiệt đới dến cận nhiệt đới, từ ấn Độ
Dương qua Nhật Bản, ĐàiLoan, phía Đông Tahiti, phía Nam châu Úc và phía Tây
châu Phi (Racek - 1955, Holthuis và Rosa - 1965, Motoh - 1981, 1985). Nhìn chung,
tôm sú phân bố từ kinh độ đông 30
0
– 155
0
, từ vĩ độ 35
0
bắc tới 35
0
nam xung quanh
các nước vùng xích đạo, đặc biệt là Indonesia, Malaixia, Philippines.
Tại Việt Nam, tôm sú có nhiều ở các vùng biển miền trung. Tôm bột
(postlarvae), tôm giống (juvenile) và tôm gần trưởng thành có tập tính sống gần bờ
biển và rừng ngập mặn ven bờ. Khi tôm trưởng thành thì di chuyển xa bờ vì chúng
thích sống vùng nước sâu hơn.

+ M2: dài khoảng 4 mm.
+ M3: dài khoảng 4,4 mm, chân bụng dài hơn, phân thành đốt nhỏ, xuất hiện
răng trên chủy.
Postlarvae: giai đoạn gần trưởng thành
Juvenile: giai đoạn trưởng thành.
Hình thái cấu tạo

Trên cơ thể tôm sú có vệt sọc màu xám đậm, hơi xanh hoặc nâu đỏ. Tôm có chủy
dài hơi cong, phía trên chủy có 7 – 8 răng và dưới chủy có 3 răng.
Hình 2.3 Hình thái tôm sú (aquatic.plus.vn)

+ Mũi khứu giác và râu: cơ quan nhận biết và giữ thăng bằng cho tôm

15
+ 3 cặp chân hàm: lấy thức ăn và bơi lội
+ 5 cặp chân ngực: lấy thức ăn và bò
+ Cặp chân bụng: bơi
+ Đuôi: có 1 cặp chân đuôi để tôm có thể nhảy xa, điều chỉnh bơi lên cao hay
xuống thấp.
Khi ương trong ao sau 25 – 30 ngày, tôm sú đạt cở 2 – 3 cm. Khi nuôi trong ao
sau 4 tháng, tôm sú có thể đạt cở trung bình 25 – 40 g/con.
Tôm sú lột xác nhiều lần để lớn. Ngoài tự nhiên, ở vùng biển miền Trung thì mùa
tôm sú sinh sản rộ là từ tháng 2 - 5 và từ tháng 7 - 10. Ở mi
ền vùng biển miền Nam thì
mùa tôm sú sinh sản rộ có phần thay đổi, tùy thuộc vào điều kiện thời tiết hàng năm.
Tôm thường đẻ trứng ở các bãi xa bờ, nước sâu, nước trong và sạch có độ mặn trên 30
‰.
Bảng 2.1 Đặc điểm môi trường sống của tôm sú (Sandeep K Mukhi, B K Das, B
Masdavi, C K Misra and K Pani Prasad, 2001)
Chỉ tiêu Thích hợp nhất Chú thích

Sinh sản

Tôm sú thuộc loại dị hình phái tính, con cái có kích thước to hơn con đực. Khi tôm
trưởng thành phân biệt rõ đực cái, thông qua cơ quan sinh dục phụ bên ngoài.
Tôm đực:
- Cơ quan sinh dục phụ của tôm đực là petasma. Petasma nằm ở giữa gốc chân bò
thứ nhất, petasma giúp đưa bó tinh từ tôm đực cho tôm cái.
- Cơ quan sinh dục của tôm đực gồm:
+ Một đôi tuyến tinh phân nhiều thùy
+ Một đôi ống dẫn tinh
+ Một đôi túi tinh. Túi tinh đổ ra gốc chân bò thứ 5
Tôm cái:
- Cơ quan sinh dục phụ của tôm cái là thelycum. Thelycum nằm ở gốc đôi chân
bò thứ 5. Thelycum gồm một tấm giữa và hai tấm hai bên, là nơi nhận và lưu giữ các
bó tinh trùng của tôm đực.
- Cơ quan sinh dục của tôm cái là một đôi buồng trứng phân thùy và ống dẫn
trứng. Ống dẫn trứng mở ra ở gốc đôi chân bò thứ 3.
- Khi tôm cái vừa lột xác, tôm đực thường giao vĩ, đưa túi tinh cho tôm cái.
Tuổi thành thục:

17
Tuổi thành thục sinh dục của tôm đực và tôm cái từ tháng thứ 8 trở đi. Xác định
sự thành thục của tôm cái dễ hơn, chỉ cần quan sát có túi tinh ở cơ quan sinh dục phụ.
Phương pháp xác định thành thục ở con đực khó hơn, chỉ khi nào tìm thấy được tinh
trùng ở cuối ống dẫn tinh. Thường dựa vào trọng lượng để xác định khi con đực nặng
từ 50 gam trở lên. Hormone điều khiển sự thành th
ục sinh dục (GIH) được sản xuất
bởi tế bào thần kinh trong cơ quan X của cuống mắt, vận chuyển tới tuyến giáp sinap
đưa vào kho dự trữ và khi cần thì tiết ra. Sự thành thục sinh dục của tôm sú thông qua
tác động của tuyến nội tiết, khi cắt mắt tức là thúc đẩy chu kỳ lột xác, đem lại sự thành


18
Chương 3
ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN3.1 Địa điểm và thời gian thực hiện đề tài
Đề tài được thực hiện từ ngày 9 tháng 4 năm 2009 đến ngày 9 tháng 6 năm 2009
tại trại tôm Thành Mỹ thuộc ấp 8, xã An Đức, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
Bản đồ huyện Ba Tri và địa điểm thực hiện đề tài

Địa điểm thực hiện
3.2 Phương pháp thực hiện
Phương pháp thu thập số liệu

Thu thập qua việc phỏng vấn trực tiếp chủ trại, phó trại, kỹ thuật viên và các anh
em công nhân trong trại.
Thu thập qua quá trình thực hiện đề tài (đo môi trường, cân thức ăn, theo dõi tăng
trưởng, ...)
Nội dung nghiên cứu19
Tìm hiểu về:
Các mô hình nuôi tôm sú của huyện Ba Tri.
Quy trình nuôi tôm sú thâm canh bằng phương pháp sinh học.
Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình nuôi.
Phân tích kết quả và xử lý số liệu

Đánh giá quy trình nuôi tôm sú thâm canh.

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Giới thiệu về trại tôm Thành Mỹ
Sơ đồ trại tôm Thành Mỹ

Trại tôm Thành Mỹ thuộc ấp 8, xã An Đức, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Trại đã
hoạt động 6 năm (từ năm 2004). Ban đầu trại cũng gặp nhiều khó khăn về vốn và kỹ
thuật nên năng suất không cao (năm 2004 là 3 tấn/ha) nhưng nhờ chịu khó nghiên cứu
và học hỏi (từ các hội thảo, tập huấn khuyến nông, ...) nên đã có nhiều kinh nghiệm
trong việc nuôi thành công tôm sú thâm canh sạch bệnh, đạ
t năng suất cao, lợi nhuận
cao, năm 2007 là 6 – 7 tấn/ha, năm 2008 là 7 – 8 tấn/ha.
Trại có tổng diện tích 14 ha, trong đó:
- Diện tích hệ thống ao là 8,9 ha.
+ Diện tích ao nuôi là 7,07 ha.
+ Diện tích ao lắng là 1, 83 ha.

21
- Diện tích cho xây dựng kênh cấp nước, nhà kho, chòi canh, hệ thống bờ, ... là
5,1 ha.
Do diện tích ao lắng nhỏ rất nhiều so với ao nuôi nên tại trại áp dụng nuôi thay
nước ít hoặc hoàn toàn không thay nước, chỉ cấp thêm nước vào ao khi nắng hạn kéo
dài làm mực nước ao giảm xuống.
4.1.1 Cơ sở vật chất của trại
Nhà kho
: có nhà kho A, nhà kho B để dự trữ thức ăn, thuốc và hóa chất sử dụng
cho nuôi tôm, và nhà sửa chữa máy móc.
Chòi canh
: có 5 chòi là chỗ ở cho các công nhân.
Hệ thống bảo vệ

6.300 B
4
4.900
A
5
5.600 B
5
5.500
A
6
5.600 B
6
5.400
A
7
4.100 B
7
5.400
ii. Ao lắng:

22
Bảng 4.2 Diện tích ao lắng
Ao lắng Diện tích (m
2
)
L
a
6.300
L
b

Đặc biệt có chất kích hoạt miễn dịch và astaxanthin giúp tôm khỏe mạnh, nâng
cao tỷ lệ sống, màu sắc đẹp.
Hấp dẫn tôm bắt mồi nhanh và ngon miệng.
Độ ổn định trong nước tốt, hạn chế tối đa mức độ ô nhiễm.
Chi phí thức ăn cho 1 kg tôm là thấp nhất.

24
Không chứa hóa chất, hormone và các chất kháng sinh cấm sử dụng.
Thành phần nguyên liệu

Bột cá, bột đậu nành, bột mì, bột nội tạng mực, bột men, dầu cá, lecithin,
cholesterol, astaxanthin, vitamin và khoáng chất.
4.3 Các sản phẩm sử dụng trong trại
4.3.1 Các sản phẩm phối trộn
Những năm gần đây, do môi trường ngày càng ô nhiễm, dịch bệnh gia tăng, chất
lượng con giống và thức ăn ngày càng kém hiệu quả nên thời gian nuôi có khi lên đến
6 tháng vẫn có thể không được 30 con/kg. Chính vì vậy, người nuôi tôm trong thời
điểm hiệ
n nay bắt buộc phải tìm ra cách làm sao để nâng cao sức đề kháng cho tôm,
thúc đẩy tôm mau phát triển và việc phối trộn thêm các vitamin, khoáng chất, … vào
thức ăn là giải pháp hiệu quả nhất cho đến thời điểm hiện nay. Nhưng quan trọng là
phải biết sử dụng loại nào có hiệu quả và phải biết cách làm sao để giảm thiểu chi phí.
Sau đây sẽ là một trong những vitamin và khoáng chất, … thường được dùng và có
hiệu quả.
i. Nupro
®

là sản phẩm giàu nucleotide chiết xuất từ nhân tế bào nấm men Saccharomyces
cerevisiae, có hàm lượng protein cao, giàu amino acid, các loại vi khoáng, vitamin và
inositol.

được sử dụng cho NTTS và cho kết quả tốt, đạt tỷ lệ ổn định. Việc sử
dụng Bio - Mos
®
có vai trò rất quan trọng trong việc cải thiện sức khỏe vật nuôi và
nâng cao hiệu quả kinh tế:
+ Sử dụng thức ăn hiệu quả và tăng trọng nhanh.
+ Tăng cường hệ thống miễn nhiễm.
+ Nâng cao tỷ lệ sống.
+ Giảm stress cho vật nuôi, …
Liều lượng trộn vào thức ăn từ 3 – 5 g/kg thức ăn, ngày sử dụng 2 – 3 lần.
iii. Mycosorb
®

là thức ăn tự nhiên được trộn thêm vào thức ăn chính cho các loài động vật, sản
phẩm đã được giới thiệu từ năm 1993, phát triển nhanh chóng và trở thành sản phẩm
phát triển nhanh nhất và bán chạy nhất của tập đoàn Alltech trên toàn thế giới.
Lĩnh vực sử dụng: sản xuất bơ sữa, nuôi heo, ngựa, gia cầm, thú cưng và NTTS.
Sản phẩm được lưu hành ở châu Âu, châu Mỹ La tinh, châu Á. Không sử
dụng ở
nước Mỹ, Canada.
Mycosorb
®
là chất có khả năng chống kết dính, dùng hấp thụ độc tố nấm
(aflatoxin) trong thức ăn công nghiệp.
Mycosorb
®
giúp hạn chế tối đa tác hại xấu của độc tố nấm mốc, gia tăng năng
suất vật nuôi, ...

26

Dược động học: Methionine được chuyển hoá ở gan.

Trích đoạn TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status