Thảo luận
I. Đánh trùng thuế trong đầu tư quốc tế
1. Khái niệm :
- Đánh trùng thuế trong đầu tư quốc tế là hiện tượng hai hay nhiều quốc
gia (Vùng lãnh thổ) cùng áp dụng các loại thuế tương tự trên cùng một
khoản thu nhập chịu thuế, hay tài sản chịu thuế của cùng một đối tượng nộp
thuế trong cùng một thời kỳ.
Ví dụ 1 :
Ông Nguyễn Văn A là người mang quốc tịch Việt Nam,thành lập công ty
kinh doanh Cà Phê Việt tại Pháp.Lợi nhuận thu được trong một năm là 100
tỷ. Biết:
+ Thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam là: 25%
+ Thuế thu nhập doanh nghiệp ở Pháp là: 30%
Ta nói có hiện tượng đánh trùng thuế xảy ra khi: Doanh nghiệp phải nộp:
Thuế TNDN ở:
Việt Nam : 100*25% = 25 (tỷ)
Pháp : 100*30% = 30 (tỷ)
Tổng số thuế mà doanh nghiệp phải nộp là: 55 (tỷ)
2. Nguyên nhân của hiện tượng đánh trùng thuế :
Nhìn chung, luật thuế của mỗi quốc gia đều được xây dựng trên cơ sở đặc
quyền của quốc gia đó và phần lớn không mang ý nghĩa quốc tế.Nhưng trên
cơ sở các mối quan hệ quốc tế, thì đặc quyền thu thuế của các quốc gia đều
dựa trên các nguyên tắc:
+ Nguyên tắc cư trú
+ Nguyên tắc nguồn
+ Nguyên tắc kết hợp nguồn và cư trú
đều được đại đa số các quốc gia trên thế giới chấp nhận.
Tuy nhiên chính: “ Sự khác nhau về chính sách giữa các nước, đặc biệt là
về pháp luật thuế, cùng với việc các quốc gia đồng thời triển khai đặc quyền
thu thuế trên cơ sở các nguyên tắc trên đã dẫn đến tình trạng thu trùng thuế”
Ví dụ 2 : (Tiếp ví dụ trên)
3.2 Trường hợp trùng nguồn :
Do các quy định tại luật thuế của mỗi quốc gia khác nhau có thể xử lý cùng
một thu nhập như có nguồn tại quốc gia mình.
Ví dụ 4 :
Từ ví dụ 1 và 2. Trường hợp trùng nguồn xảy ra khi cả Pháp và Thái Lan
đều coi khoản lợi nhuận 50 tỷ có nguồn phát sinh từ quốc gia mình và tìm
cách thu thuế trên phần lợi nhuận đó.
3.3 Trường hợp cạnh tranh về nguồn và cư trú :
Trường hợp này phát sinh khi: một đối tượng cư trú của một quốc gia có
được thu nhập có nguồn từ một quốc gia khác và do đó cả hai quốc gia
( Quốc gia nguồn và quốc gia cư trú) đều tìm cách đánh thuế trên phần thu
nhập đó.
Ví dụ 5 :
Việt Nam đánh thuế trên thu nhập toàn cầu của ông A Vì ông là đối tượng
cư trú, Thái Lan đánh thuế trên phần thu nhập 50 tỷ vì khoản thu nhập này
phát sinh tại Thái Lan.
3.4 Trường hợp điều chỉnh lợi nhuận :
Trường hợp này phát sinh khi một quốc gia,theo quy định tại nội luật của
mình đã đơn phương điều chỉnh tăng phần lợi tức chịu thuế đối với phần lợi
tức phát sinh từ nước ngoài, trong khi đó tại nước ngoài lại không thực hiện
bất cứ một điều chỉnh nào có tính chất bù đắp sau đó.
Ví dụ :
Công ty X của quốc gia A,có chi nhánh đặt tại quốc gia B
Tại B, chính sách thuế điều chỉnh mức thuế từ 24% lên 28%
Tại A, phần thuế được khấu trừ vẫn chỉ là 24%
=>DN chịu thiệt.
4. Tác hại của đánh trùng thuế :
Trong điều kiện ngày nay, việc đánh trùng thuế đã có ảnh hưởng tiêu cực
đối với sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu (Ở cả các nước phát triển cũng
như các nước đang phát triển).Cụ thể như sau:
quyền do bên Hàn Quốc chịu).Trong tình huống này, nếu phía nhận chuyển
giao là Việt Nam đánh thuế quá cao, có thể khiến cho phía Hàn Quốc không
có lợi nhuận từ hoạt động chuyển giao này khi khoản thu nhập đó tiếp tục bị
đánh thuế ở Hàn Quốc.
Như vậy, hoạt động chuyển giao công nghệ đã bị hạn chế, và từ đó việc
đầu tư cho nghiên cứu, phát minh công nghệ mới cũng sẽ không được các
nhà đầu tư chú trọng.
Ngoài ra đối với các nước phát triển, việc đánh trùng thuế còn ảnh hưởng
tới sự phân công nguồn lao động:
Do các chuyên gia giỏi, các nhà quản lý có chuyên môn của các nước này
sẽ không chấp nhận ra nước ngoài làm việc nếu như phần thu nhập sau thuế
của họ từ việc lao động ở nước ngoài thấp hơn khi làm việc ở trong nước
Ví dụ :
Năm 2008, ông A là đối tượng cư trú của Pháp, làm việc cho chi nhánh
ngân hàng B tại Việt Nam trong vòng 8 tháng.Toàn bộ tiền lương và thu
nhập khác của ông A do chi nhánh ngân hàng B tại việt Nam trả.Trong
trường hợp này ông A có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập cá nhân đối với khoản
thu nhập nhận được trong thời gian làm việc ở Việt Nam, theo luật thuế thu
nhập cá nhân ở Việt Nam. Tuy nhiên nếu phần thu nhập đó tiếp tục bị đánh
thuế tại Pháp thì Ông sẽ không sang Việt Nam làm việc.
4.2 Đối với các nước đang phát triển :
Các nước đang phát triển đang tìm cách thu hút các nhà đầu tư nứoc ngoài
để có số vốn và công nghệ bằng cách đơn phương đưa ra các ữu đãi miễn,
giảm thuế nói chung và thuế thu nhập nói riêng để giảm nhẹ gánh nặng thuế
cho họ. Các biện pháp mà họ thường sủ dụng:
- miễn hoặc thu thuế với mức thuế suất thấp đối với một số loại thu nhập
nhất định.
- mở rộng và tăng số chi phí kinh doanh được khấu trừ nhằm thúc đẩy xuất
khẩu.
- giảm bớt một số loại thu nhập trong hoạt động xuất khẩu.
quan hệ thương mại, đầu tư qua biên giới bằng cách loại trừ các rào cản về
thuế đối với các hoạt động này. Mục tiêu chung này được bổ sung bởi các
mục tiêu cụ thể dưới đây:
3.1 Tránh đánh thuế trùng :
Đây là mục tiêu cụ thể quan trọng nhất của Hiệp định. Các quy định cơ bản
của Hiệp định đưa ra nhằn ngăn chặn đánh thuế trùng. Để đạt mục đich này
Hiệp đinh đã đưa ra hai loại nguyên tắc :
Thứ nhất: đối với các loại thuế thu nhập khác nhau, Hiệp địn đưa ra các
nguyên tắc để phân định các quyền đánh thuế giữa các quốc gia nguồn và
quốc gia cư trú. Cụ thể:
- Quốc gia nguồn là quốc gia thu thuế chủ yếu đối với loại thu nhập từ hoạt
động kinh doanh và hoạt động làm công
- Quốc gia cư trú là quốc gia có quyền thu thuế chủ yếu đối với thu nhập từ
đầu tư.
Thực hiện nguyên tắc này: quốc gia nguồn chấp nhận thu thuế với các
mức thuế suất hạn chế đối với thu nhập từ đầu tư của các đối tượng không
cư trú.
Thứ hai: Khi đã có các quy định về quốc gia nguồn có quyền đánh thuế
( một cách đầy đủ hay có giới hạn) đối với thu nhập thì quốc gia cư trú có
nghĩa vụ thực hiện các biện pháp nhằm loại trừ đánh thuế trùng.
3.2 Chống trốn lậu thuế :
Đây là mục tiêu cụ thể thứ hai của Hiệp định. Mục tiêu này được coi là
mục tiêu đối trọng với mục tiêu thứ nhất. Vì một mặt phải ngăn chặn đánh
thuế thuế trùng, mặt khác phải thực hiện các biện pháp ngăn chặn các hành
vi lợi dụng để trốn lậu thuế. Việc trốn lậu thuế không chỉ bao gồm các hành
vi gian lận thuế, không đăng kí nộp thuế mà có cả các hành vi tránh thuế
khác.
3.3 Đảm bảo không phân biệt đối xử giữa những nguời nộp thuế :
Mục tiêu này nhằm tạo ra sự đối xử bình đẳng về thuế giữa đối tượng cư
trú với đối tượng không cư trú và người không mang quốc tịch.
hiện đặc quyền thu thuế.
5.1 Nguyên tắc nguồn :
Khi một quốc gia thu thuế căn cứ vào sự liên hệ giữa quốc gia đó với các
hoạt động tạo ra thu nhập, tức là thu thuế đối với thu nhập phát sinh hay có
nguồn phát sinh tại quốc gia đó.
Thu thuế thu nhập theo phương thức này trong quan hệ quốc thuế quốc tế
đựợc gọi là thu thuế theo nguyên tắc nguồn
Tất cả các quốc gia trên thế giới đều áp dụng nguyên tắc này trong việc
thực hiện đặc quyền thu thuế của mình đối với thu nhập. Thực hiện theo
nguyên tắc này tránh cho các quốc gia không gặp khó khăn trong việc quản
lý nguồn thu nhập phát sinh ở nước ngoài của những người cư trú và công
dân của họ.
5.2 Theo nguyên tắc cư trú :
Khi một quốc gia thu thuế căn cứ vào mối liên hệ giữa quốc gia đó với bản
thân đối tượng có thu nhập, tức là thu thuế thu nhập của đối tượng cư trú tại
quốc gia đó.
Thu thuế thu nhập theo phương thức này trong quan hệ thuế quốc tế gọi là
thu thuế theo nguyên tắc cư trú
Thu thuế theo nguyên tắc này đảm bảo các quốc gia thực hiện thu thuế đối
với thu nhập phát sinh trên toàn thế giới của đối tượng cư trú của mình. Điều
này có nghĩa là một đối tượng cư trú của một quốc gia sẽ cớ nghĩa vụ nộp
thuế cho quốc gia mình cư trú ( nước cư trú) đối với thu nhập phát sinh
không chỉ từ bản thân quốc gia đó mà cả thu nhập phát sinh ngoài phạm vi
lãnh thổ quốc gia đó.
Nhìn chung, phần lớn các quốc gia trên thế giới áp dụng nguyên tắc cư trú
khi thực hiện đặc quyền thuế thu nhập đối với đối tượng được coi là đối
tượng cư trú của quốc gia đó.
5.3 Nguyên tắc kết hợp nguồn và cư trú :
Khi một quốc gia thu thuế căn cứ vào hai mối liên hệ nêu trên của quốc gia
đó với thu nhập ( nguồn và cư trú và / hoặc quốc tịch) có nghĩa là thu thuế
các phần thu nhập phải chịu thuế còn lại.
- Miễn thuế luỹ tiến :Nước cư trú có tính đến khoản thu nhập được miễn ở
nước ngoài trong khi xác định mức thuế suất áp dụng đối với phần thu nhập
còn lại phải nộp thuế.
Như vậy, trong khuôn khổ của Hiệp định, nếu phương pháp miễn thuế
được các bên tham gia kí kết thừa nhận qui định tại Hiệp định thì sẽ đảm bảo
đặc quyền thu thuế đối với một số loại thu nhập nhất định sẽ được dành chỉ
cho 1 quốc gia kí kết.
B. Biện pháp khấu trừ thuế:
Nước cư trú sẽ tính số thuế phải thu trên cơ sở tổng thu nhập của đối tượng
nộp thuế ( kể cả thu nhập ở nước ngoài), sau đó nước cư trú sẽ cho phép đối
tượng nộp thuế được khấu trừ số thuế đã nộp vào số thuế phải nộp tại nước
cư trú đó.
- Khấu trừ toàn bộ :Quốc gia cư trú cho phép khấu trừ toàn bộ số thuế đã
thanh toán tại nước ngoài đối với số thu nhập có thể bị đánh thuế tại nước cư
trú.
- Khấu trừ phổ thông : Số thuế được khấu trừ tại nước cư trú cho số thuế đã
thanh toán tại nước khác được giới hạn trong tổng số thuế mà nước cư trú
( theo nội luật của mình) có thể thu đựoc trên tổng số thu nhập có nguồn
nước ngoài đó.
Như vậy, trong khuôn khổ hiệp định tránh đánh thuế 2 lần, nếu phương pháp
khấu trừ thuế được các bên tham gia kí kết thừa nhận qui định tại hiệp định
thì đảm bảo cho cả 2 nước kí kết được đồng thời tiến hành đánh thuế
Ví dụ :
Giả sử 1 người nộp thuế có thu nhập chịu thuế là 100000đ, trong đó
80000đ từ nước cư trú (nước C) và 20000đ từ nước nguồn (nước N).
Tại nước C áp dụng thuế suất luỹ tiến toàn phần với thuế suất 30% với
tổng thu nhập là 80000đ và 35% đối với tổng thu nhập là 100000đ.
Tại nước N áp dụng thuế suất
TH 1: 20% ( thấp hơn tại nước C)
qua 7000 7000
b. Biện pháp khấu trừ :
- Khấu trừ toàn bộ :
TH 1
( 20%)
TH 2
( 40%)
Thuế tại nước C ( 80000 *
35%) 35000 35000
thuế tại nước N ( được
khấu trừ) 4000 8000
Tổng số thuế 31000 27000
Tổng số thuế nước C bỏ
qua 4000 8000
- Khấu trừ thông thường :
TH 1
( 20%)
TH 2
( 40%)
Thuế tại nước C ( 80000 *
35%) 35000 35000
thuế tại nước N 4000 8000
Thuế khấu trừ tối đa tại nước C 4000 7000
Tổng số thuế phải nộp tại nước
C 31000 28000
Tổng số thuế 35000 36000
Tổng số thuế đã khấu trừ tại
nước C 4000 7000
C. Biện pháp trừ chi phí :
Các nước thực hiện thu thuế với thuế suất toàn phần với thu nhập có nguồn
loại thuế áp dụng.
+ Chương 2( điều 3- 5): Các định nghĩa về đối tượng cư trú, cơ sở thường
trú…
+ Chương 3( điều 6- 21): Thuế đối với thu nhập từ bất động sản, kinh
doanh, vận tải…
+ Chương 4( điều 22): Thuế đối với tài sản.
+ Chương 5( điều 23): Biện pháp loại trừ đánh thuế 2 lần gồm phương
pháp miễn thuế và khấu trừ thuế.
+ Chương 6( điều 24- 29): Các điều khoản đặc biệt như không phân biệt
đối xử, về thoả thuận song phương, trao đổi thông tin…
+ Chương 7( điều 30- 31): Các điều khoản cuối cùng về Hiệu lực và chấm
dứt hiệp định.
Đặc điểm cơ bản của mẫu OECD là tạo thuận lợi, thực chất là ưu đãi cho
các nước xuất khẩu vốn, công nghệ và lao động hơn là các nước nhập khẩu
các yếu tố này. Điều này được thể hiện qua việc mẫu này thực hiện loại trừ
đánh thuế trùng thông qua đòi hỏi các quốc gia nguồn từ bỏ một phần hoặc
toàn bộ quyền thu thuế đối với một số loại thu nhập nhất định mà đối tượng
cư trú của quốc gia khác thu được từ quốc gia nguồn.
Ví dụ:
Các khoản thu nhập từ đầu tư gồm: lãi từ cổ phần, lãi tiền vay, tiền bản
quyền bị đánh thuế với một giới hạn nhất định tại quốc gia nguồn.
Các thu nhập không bị đánh thuế tại quốc gia nguồn:
Thu nhập từ vận tải quốc tế và chuyển nhượng phương tiện vận tải sử dụng
trong vận tải quốc tế: Việc đánh thuế đối với các hãng vận tải biển, hãng
hàng không quốc tế được thực hiện tại quốc gia cư trú của các hãng đó.
Thu nhập từ chuyển nhượng tài sản cá nhân
Thu nhập khác: thu nhập từ những lần thắng ở các sòng bạc
Mẫu UN gồm 7 chương với 29 điều khoản:
Về cơ bản, mẫu UN được dựa trên cơ sở của mẫu OECD. Điểm khác biệt
cơ bản ở đây là mẫu UN đưa ra ít hạn chế đối với đặc quyền thu thuế của
- Thủ tục miễn, giảm thuế phải nộp tại Việt Nam cho tổ chức, cá nhân
nước ngoài;
- Thủ tục xác nhận số thuế đã nộp ở Việt Nam cho tổ chức, cá nhân là đối
tượng cư trú của nước ngoài;
- Thủ tục xác nhận đối tượng cư trú của Việt Nam.
Ngoài ra, TT còn ban hành danh mục các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần
giữa Việt Nam với các nước và vùng lãnh thổ; Mẫu đơn đề nghị áp dụng
hiệp định giữa Việt Nam và nước ký kết áp dụng cho tổ chức, cá nhân là đối
tượng cư trú của Việt Nam và mẫu đơn áp dụng cho các tổ chức, cá nhân là
đối tượng cư trú nước ngoài; mẫu giấy xác nhận đã nộp thuế thu nhập; mẫu
giấy chứng nhận cư trú và mẫu bảng kê thu nhập vận tải áp dụng cho trường
hợp doanh nghiệp trực tiếp điều hành phương tiện vận tải và trường hợp
hoán đổi/chia chỗ.
Một số vấn dề dặt ra với Việt Nam trong quá trình thực hiện hiệp định
Trong điều kiện của Việt Nam, các tổ chức, cá nhân nước ngoài là đối
tượng cư trú của các nước ký kết Hiệp định với Việt Nam thuộc đối tượng
được miễn, giảm thuế theo quy định của Hiệp định, cũng như các tổ
chức/công ty có vốn đầu tư nước ngoài cần xác định số thuế đã nộp ở Việt
Nam để được khấu trừ vào số thuế phải nộp ở nước ngoài rất nhiều.
Mặc dù không quy định rõ ràng, nhưng theo hướng dẫn của các thông tư
trên và thực tế áp dụng ở các cơ quan thuế địa phương, các đối tượng thuộc
diện được miễn, giảm thuế theo quy định của Hiệp định hầu như phải thực
hiện nộp thuế trước vào ngân sách nhà nước, sau đó mới thực hiện thủ tục
xin miễn, giảm, hoàn thuế hoặc khấu trừ số thuế nộp thừa vào số thuế phải
nộp tiếp theo. Thời hạn xem xét việc miễn, giảm hoặc hoàn thuế, theo quy
định là 30 ngày. Nhưng trên thực tế, thủ tục này mất rất nhiều thời gian, đặc
biệt là đối với những trường hợp hoàn thuế khi hồ sơ phải được Bộ Tài
chính xem xét.
Như vậy, không như các nước, mặc dù được quy định trong Hiệp định,
nhưng để được áp dụng các điều khoản tránh đánh thuế hai lần, các đối
2.1 Về thuế suất áp dụng :
- Mức thuế suất áp dụng rất thấp
VD: Tại Liechtenstein- một quốc gia nhỏ ở Tây Âu,nằm giữa Thụy Sĩ và
Áo, thuế áp đặt cho các công ty rất ưu đãi. Mức thuế tối đa là 18%, so với
mức trung bình của châu Âu có thể lên tới 30%
- Nếu có, chỉ áp thuế trên danh nghĩa
VD : trước đây, khi còn bị coi là 1 thiên đường trốn thuế, Gibraltar - nằm
giữa Tây Ban Nha và Anh, các công ty ở đây hàng năm chỉ phải nộp có mỗi
một khoản thuế lợi tức là 400 EUR, thấp đến mức gần như không đáng kể.
Sau khi bị dư luận phê phán và bị coi là không phù hợp với luật thuế của
EU, chính sách thuế đã được thay đổi lại là: không áp thuế theo doanh thu
hay lợi nhuận mà theo số nhân công làm việc cho công ty đó với mức 4.500
EUR/đầu người. Nhưng vì đại đa số - nếu như không nói là gần hết - các
công ty ở đây không hầu như không có nhân viên làm việc và thường chỉ do
một văn phòng luật sư ở Gibraltar quản lý nên quy định mới về thuế này chỉ
là danh nghĩa.
- Không áp nhiều loại thuế
VD : Andorra- quốc gia nằm giữa biên giới Pháp và Tây Ban Nha, không
thu thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập hay thuế tài sản
2.2 Về khai báo tài chính quốc tế :
- Thiếu minh bạch thông tin, đề cao bảo mật thông tin tài chính cá nhân.
Các khách hàng được phép mở tài khoản mà có thể ẩn danh => tạo điều kiện
cho việc rửa tiền
- Bất hợp tác trong khai báo tài chính quốc tế
- Hạn chế các nhà điều tra nước ngoài tiếp cận thông tin
- Không cho phép các thanh tra thuế nước ngoài điều tra hoạt động trốn
thuế trong lãnh thổ
VD: Thụy Sỹ - quốc gia cũng được biết đến với cái tên “thiên đường thuế”
Tại Thụy Sĩ áp dụng Luật bảo mật ngân hàng, theo đó các thông tin về các
tài khoản của khách hàng được bảo mật hoàn toàn, ngay cả các tổ chức hay
Các thiên đường thuế thường cho phép khách hàng ẩn danh khi mở tài
khoản, đồng thời đảm bảo việc bảo mật thông tin ( do không chấp nhận việc
khai báo tài chính với các cơ quan thanh tra quốc tế), vì vậy các tài khoản
này được lập ra mà không ai biết nguồn gốc hay chủ nhân thực sự của nó.
Việc không minh bạch về thông tin này thường được các đối tượng xấu,
các cá nhân muốn trốn thuế lợi dụng triệt để => Nạn rửa tiền (là hoạt động
nhằm xóa mọi gốc tích bất thường hoặc gian lận của đồng tiền để đưa nó vào
hệ thống lưu thông thông thường )
3.3 Các quốc gia giảm khả năng điều tiết của ngân sách :
Khi xảy ra hiện tượng chuyển giá, hệ thống thuế của quốc gia bị mất 1
khoản thu lớn => ngân sách bị thiếu hụt.
Hơn nữa khi các cá nhân, tổ chức lựa chọn thiên đường thuế để gửi gắm
thu nhập, số tiền gửi đáng nhẽ nằm trong hệ thống ngân hàng trong nước thì
nay lại nằm tại các ngân hàng tại thiên đường thuế. Như vậy, ngân hàng
cũng giảm khả năng hỗ trợ nhà nước trong việc cấp ngân sách. Thậm chí các
nước nghèo còn không có tiền cho việc đầu tư cho y tế và giáo dục.
3.4 Các thiên đường thuế góp phần vào làm lung lay hệ thống tài chính
quốc tế :
Số lượng tiền tại các thiên đường thuế là rất lớn. Tuy nhiên, thực tế lượng
tiền này chỉ nằm trong tay một số cá nhân và tổ chức. Việc tập trung 1 lượng
tiền quá lớn trong tay một số ít người dễ gây tiêu cực trong đầu tư.
Một minh chứng cụ thể là cuộc khủng hoảng tài chính cuối những năm 90
tại Thái Lan và Indonexia. Một số nhà đầu tư nước ngoài tiên đoán việc
chính phủ nước sở tại sắp hết dự trữ ngoại tê, họ liền bán tài sản họ đã đầu
tư, đổi lấy ngoại tệ đem ra nước ngoài. Do lượng vốn đầu tư của họ là rất
lớn, nên khi họ rút vốn, các nhà đầu tư khác cũng đua nhau rút vốn đổi lấy
ngoại tệ. Điều này làm áp lực về ngoại tệ càng lớn => tỷ giá hối đoái tăng
vọt => khủng hoảng tài chính.
4. Lợi ích mà các thiên đường thuế thu được :
Các thiên đường thuế từ bỏ quyền đánh thuế của mình . Vậy bù lại họ có
ép,trừng phạt kinh tế với các thiên đường thuế. Tuy nhiên, những biện pháp
này vẫn gây nhiều tranh cãi do nó động chạm đến vấn đề nhạy cảm về chủ
quyền quốc gia. Mặt khác một số ý kiến lại cho rằng những ưu đãi về thuế ở
các quốc gia bị coi là thiên đường thuế có thể chỉ đơn giản là để tạo ra một
môi trường đầu tư hấp dẫn hơn.
Hiện nay, nhờ nỗ lực của các bên liên quan, một số thiên đường thuế đã ký
kết những hiệp định song phương, đồng ý trao đổi thông tin với các quốc gia
khác về các cá nhân bị nghi ngờ trốn thuế. Điều này sẽ tạo thuận lợi cho việc
điều tra gian lận thuế. Số thiên đường thuế bị đưa vào danh sách đen của
OECD do sự bất hợp tác trong trao đổi thông tin đã giảm từ 35 xuống còn 3.
Nhưng luật pháp về thuế, các chế độ ưu đãi thuế ở các thiên đường thuế vẫn
hầu như được duy trì, do bản thân các quốc gia coi đó là 1 cách cực kỳ hiệu
quả để thu hút đầu tư.
Qua đây có thể thấy, cho dù các Hiệp định tránh đánh thuế 2 lần vẫn được
ký kết giữa các quốc gia, nhưng nếu các thiên đường thuế vẫn tồn tại thì các
đối tượng nộp thuế vẫn có thể tránh né nộp thuế mà không bị coi là phạm
pháp. Việc giải quyết vấn đề này trên thế giới hiện vẫn còn là một vấn đề
cực kỳ nan giải.