Thảo luận
I. Đánh trùng thuế trong đầu tư quốc tế
1. Khái niệm :
- Đánh trùng thuế trong đầu tư quốc tế là hiện tượng hai hay nhiều quốc
gia (Vùng lãnh thổ) cùng áp dụng các loại thuế tương tự trên cùng một
khoản thu nhập chịu thuế, hay tài sản chịu thuế của cùng một đối tượng
nộp thuế trong cùng một thời kỳ.
Ví dụ 1 :
Ông Nguyễn Văn A là người mang quốc tịch Việt Nam,thành lập công ty
kinh doanh Cà Phê Việt tại Pháp.Lợi nhuận thu được trong một năm là 100
tỷ. Biết:
+ Thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam là: 25%
+ Thuế thu nhập doanh nghiệp ở Pháp là: 30%
Ta nói có hiện tượng đánh trùng thuế xảy ra khi: Doanh nghiệp phải nộp:
Thuế TNDN ở:
Việt Nam : 100*25% = 25 (tỷ)
Pháp : 100*30% = 30 (tỷ)
Tổng số thuế mà doanh nghiệp phải nộp là: 55 (tỷ)
2. Nguyên nhân của hiện tượng đánh trùng thuế :
Nhìn chung, luật thuế của mỗi quốc gia đều được xây dựng trên cơ sở đặc
quyền của quốc gia đó và phần lớn không mang ý nghĩa quốc tế.Nhưng
trên cơ sở các mối quan hệ quốc tế, thì đặc quyền thu thuế của các quốc
gia đều dựa trên các nguyên tắc:
+ Nguyên tắc cư trú
+ Nguyên tắc nguồn
+ Nguyên tắc kết hợp nguồn và cư trú
đều được đại đa số các quốc gia trên thế giới chấp nhận.
Tuy nhiên chính: “ Sự khác nhau về chính sách giữa các nước, đặc biệt là
về pháp luật thuế, cùng với việc các quốc gia đồng thời triển khai đặc
quyền thu thuế trên cơ sở các nguyên tắc trên đã dẫn đến tình trạng thu
trùng thuế”
sẽ bị đánh thuế trên thu nhập toàn cầu ở cả hai nước.
3.2 Trường hợp trùng nguồn :
Do các quy định tại luật thuế của mỗi quốc gia khác nhau có thể xử lý
cùng một thu nhập như có nguồn tại quốc gia mình.
Ví dụ 4 :
Từ ví dụ 1 và 2. Trường hợp trùng nguồn xảy ra khi cả Pháp và Thái Lan
đều coi khoản lợi nhuận 50 tỷ có nguồn phát sinh từ quốc gia mình và tìm
cách thu thuế trên phần lợi nhuận đó.
3.3 Trường hợp cạnh tranh về nguồn và cư trú :
Trường hợp này phát sinh khi: một đối tượng cư trú của một quốc gia có
được thu nhập có nguồn từ một quốc gia khác và do đó cả hai quốc gia
( Quốc gia nguồn và quốc gia cư trú) đều tìm cách đánh thuế trên phần thu
nhập đó.
Ví dụ 5 :
Việt Nam đánh thuế trên thu nhập toàn cầu của ông A Vì ông là đối tượng
cư trú, Thái Lan đánh thuế trên phần thu nhập 50 tỷ vì khoản thu nhập này
phát sinh tại Thái Lan.
3.4 Trường hợp điều chỉnh lợi nhuận :
Trường hợp này phát sinh khi một quốc gia,theo quy định tại nội luật của
mình đã đơn phương điều chỉnh tăng phần lợi tức chịu thuế đối với phần
lợi tức phát sinh từ nước ngoài, trong khi đó tại nước ngoài lại không thực
hiện bất cứ một điều chỉnh nào có tính chất bù đắp sau đó.
Ví dụ :
Công ty X của quốc gia A,có chi nhánh đặt tại quốc gia B
Tại B, chính sách thuế điều chỉnh mức thuế từ 24% lên 28%
Tại A, phần thuế được khấu trừ vẫn chỉ là 24%
=>DN chịu thiệt.
4. Tác hại của đánh trùng thuế :
Trong điều kiện ngày nay, việc đánh trùng thuế đã có ảnh hưởng tiêu cực
đối với sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu (Ở cả các nước phát triển
Quốc, theo quy đinh của luật thuế Việt Nam, Liên doanh phải khấu trừ
thuế trên tiền bản quyền ( Số thuế đánh trên phần thu nhập từ chuyển giao
bản quyền do bên Hàn Quốc chịu).Trong tình huống này, nếu phía nhận
chuyển giao là Việt Nam đánh thuế quá cao, có thể khiến cho phía Hàn
Quốc không có lợi nhuận từ hoạt động chuyển giao này khi khoản thu
nhập đó tiếp tục bị đánh thuế ở Hàn Quốc.
Như vậy, hoạt động chuyển giao công nghệ đã bị hạn chế, và từ đó việc
đầu tư cho nghiên cứu, phát minh công nghệ mới cũng sẽ không được các
nhà đầu tư chú trọng.
Ngoài ra đối với các nước phát triển, việc đánh trùng thuế còn ảnh hưởng
tới sự phân công nguồn lao động:
Do các chuyên gia giỏi, các nhà quản lý có chuyên môn của các nước này
sẽ không chấp nhận ra nước ngoài làm việc nếu như phần thu nhập sau
thuế của họ từ việc lao động ở nước ngoài thấp hơn khi làm việc ở trong
nước
Ví dụ :
Năm 2008, ông A là đối tượng cư trú của Pháp, làm việc cho chi nhánh
ngân hàng B tại Việt Nam trong vòng 8 tháng.Toàn bộ tiền lương và thu
nhập khác của ông A do chi nhánh ngân hàng B tại việt Nam trả.Trong
trường hợp này ông A có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập cá nhân đối với
khoản thu nhập nhận được trong thời gian làm việc ở Việt Nam, theo luật
thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam. Tuy nhiên nếu phần thu nhập đó tiếp
tục bị đánh thuế tại Pháp thì Ông sẽ không sang Việt Nam làm việc.
4.2 Đối với các nước đang phát triển :
Các nước đang phát triển đang tìm cách thu hút các nhà đầu tư nứoc ngoài
để có số vốn và công nghệ bằng cách đơn phương đưa ra các ữu đãi miễn,
giảm thuế nói chung và thuế thu nhập nói riêng để giảm nhẹ gánh nặng
thuế cho họ. Các biện pháp mà họ thường sủ dụng:
- miễn hoặc thu thuế với mức thuế suất thấp đối với một số loại thu nhập
nhất định.
Hiệp định thuế là công cụ để giảm nhẹ nghĩa vụ thuế.
3. Mục tiêu của Hiệp định tránh đánh thuế hai lần :
Nói một cách chung nhất, mục tiêu cuối cùng của Hiệp định là thúc đẩy
quan hệ thương mại, đầu tư qua biên giới bằng cách loại trừ các rào cản về
thuế đối với các hoạt động này. Mục tiêu chung này được bổ sung bởi các
mục tiêu cụ thể dưới đây:
3.1 Tránh đánh thuế trùng :
Đây là mục tiêu cụ thể quan trọng nhất của Hiệp định. Các quy định cơ
bản của Hiệp định đưa ra nhằn ngăn chặn đánh thuế trùng. Để đạt mục
đich này Hiệp đinh đã đưa ra hai loại nguyên tắc :
Thứ nhất: đối với các loại thuế thu nhập khác nhau, Hiệp địn đưa ra các
nguyên tắc để phân định các quyền đánh thuế giữa các quốc gia nguồn và
quốc gia cư trú. Cụ thể:
- Quốc gia nguồn là quốc gia thu thuế chủ yếu đối với loại thu nhập từ hoạt
động kinh doanh và hoạt động làm công
- Quốc gia cư trú là quốc gia có quyền thu thuế chủ yếu đối với thu nhập
từ đầu tư.
Thực hiện nguyên tắc này: quốc gia nguồn chấp nhận thu thuế với các
mức thuế suất hạn chế đối với thu nhập từ đầu tư của các đối tượng không
cư trú.
Thứ hai: Khi đã có các quy định về quốc gia nguồn có quyền đánh thuế
( một cách đầy đủ hay có giới hạn) đối với thu nhập thì quốc gia cư trú có
nghĩa vụ thực hiện các biện pháp nhằm loại trừ đánh thuế trùng.
3.2 Chống lại trốn lậu thuế :
Đây là mục tiêu cụ thể thứ hai của Hiệp định. Mục tiêu này được coi là
mục tiêu đối trọng với mục tiêu thứ nhất. Vì một mặt phải ngăn chặn đánh
thuế thuế trùng, mặt khác phải thực hiện các biện pháp ngăn chặn các hành
vi lợi dụng để trốn lậu thuế. Việc trốn lậu thuế không chỉ bao gồm các
hành vi gian lận thuế, không đăng kí nộp thuế mà có cả các hành vi tránh
thuế khác.
hệ giữa quốc gia đó với thu nhập. Đó là mối liên hệ giữa quốc gia đó với
các họat động tạo ra thu nhập, hay là mối liên hệ của quốc gia đó với đối
tượng ( tổ chức, cá nhân) có thu nhập.; hay kết hợp cả hai sự liên hệ này để
thực hiện đặc quyền thu thuế.
5.1 Nguyên tắc nguồn :
Khi một quốc gia thu thuế căn cứ vào sự liên hệ giữa quốc gia đó với các
hoạt động tạo ra thu nhập, tức là thu thuế đối với thu nhập phát sinh hay có
nguồn phát sinh tại quốc gia đó.
Thu thuế thu nhập theo phương thức này trong quan hệ quốc thuế quốc tế
đựợc gọi là thu thuế theo nguyên tắc nguồn
Tất cả các quốc gia trên thế giới đều áp dụng nguyên tắc này trong việc
thực hiện đặc quyền thu thuế của mình đối với thu nhập. Thực hiện theo
nguyên tắc này tránh cho các quốc gia không gặp khó khăn trong việc
quản lý nguồn thu nhập phát sinh ở nước ngoài của những người cư trú và
công dân của họ.
5.2 Theo nguyên tắc cư trú :
Khi một quốc gia thu thuế căn cứ vào mối liên hệ giữa quốc gia đó với bản
thân đối tượng có thu nhập, tức là thu thuế thu nhập của đối tượng cư trú
tại quốc gia đó.
Thu thuế thu nhập theo phương thức này trong quan hệ thuế quốc tế gọi là
thu thuế theo nguyên tắc cư trú
Thu thuế theo nguyên tắc này đảm bảo các quốc gia thực hiện thu thuế đối
với thu nhập phát sinh trên toàn thế giới của đối tượng cư trú của mình.
Điều này có nghĩa là một đối tượng cư trú của một quốc gia sẽ cớ nghĩa vụ
nộp thuế cho quốc gia mình cư trú ( nước cư trú) đối với thu nhập phát
sinh không chỉ từ bản thân quốc gia đó mà cả thu nhập phát sinh ngoài
phạm vi lãnh thổ quốc gia đó.
Nhìn chung, phần lớn các quốc gia trên thế giới áp dụng nguyên tắc cư trú
khi thực hiện đặc quyền thuế thu nhập đối với đối tượng được coi là đối
tượng cư trú của quốc gia đó.
A. Biện pháp miễn thuế :
Nước cư trú sẽ không đánh thuế đối với thu nhập mà theo qui định của
Hiệp định có thể bị đánh tại nước đặt cơ sở thường trú hay nước nguồn.
- Miễn thuế toàn phần :Nước cư trú sẽ không tính đến thu nhập đã được
miễn thuế ở nước ngoài trong khi xác định mức thuế suất áp dụng đối với
các phần thu nhập phải chịu thuế còn lại.
- Miễn thuế luỹ tiến :Nước cư trú có tính đến khoản thu nhập được miễn ở
nước ngoài trong khi xác định mức thuế suất áp dụng đối với phần thu
nhập còn lại phải nộp thuế.
Như vậy, trong khuôn khổ của Hiệp định, nếu phương pháp miễn thuế
được các bên tham gia kí kết thừa nhận qui định tại Hiệp định thì sẽ đảm
bảo đặc quyền thu thuế đối với một số loại thu nhập nhất định sẽ được
dành chỉ cho 1 quốc gia kí kết.
B. Biện pháp khấu trừ thuế:
Nước cư trú sẽ tính số thuế phải thu trên cơ sở tổng thu nhập của đối tượng
nộp thuế ( kể cả thu nhập ở nước ngoài), sau đó nước cư trú sẽ cho phép
đối tượng nộp thuế được khấu trừ số thuế đã nộp vào số thuế phải nộp tại
nước cư trú đó.
- Khấu trừ toàn bộ :Quốc gia cư trú cho phép khấu trừ toàn bộ số thuế đã
thanh toán tại nước ngoài đối với số thu nhập có thể bị đánh thuế tại nước
cư trú.
- Khấu trừ phổ thông : Số thuế được khấu trừ tại nước cư trú cho số thuế
đã thanh toán tại nước khác được giới hạn trong tổng số thuế mà nước cư
trú ( theo nội luật của mình) có thể thu đựoc trên tổng số thu nhập có
nguồn nước ngoài đó.
Như vậy, trong khuôn khổ hiệp định tránh đánh thuế 2 lần, nếu phương
pháp khấu trừ thuế được các bên tham gia kí kết thừa nhận qui định tại
hiệp định thì đảm bảo cho cả 2 nước kí kết được đồng thời tiến hành đánh
thuế
Ví dụ :
40%)
Thuế tại nước C
( 80000 * 35%) 28000 28000
Thuế tại nước N 4000 8000
Tổng số thuế 32000 36000
Tổng số thuế nước C bỏ
qua 7000 7000
b. Biện pháp khấu trừ :
- Khấu trừ toàn bộ :
TH 1
( 20%)
TH 2 (
40%)
Thuế tại nước C ( 80000
* 35%) 35000 35000
thuế tại nước N ( được
khấu trừ) 4000 8000
Tổng số thuế 31000 27000
Tổng số thuế nước C bỏ
qua 4000 8000
- Khấu trừ thông thường :
TH 1
( 20%)
TH 2 (
40%)
Thuế tại nước C ( 80000 *
35%) 35000 35000
thuế tại nước N 4000 8000
Thuế khấu trừ tối đa tại nước
C 4000 7000
Việc khấu trừ thuế cũng có thể được thực hiện cả đối với trường hợp thuế
được miễn do chính sách thuế của nước tiếp nhận đầu tư.
Các mẫu hiệp định:
Có 2 loại mẫu hiệp định là mẫu hiệp định của Tổ chức hợp tác và phát
triển kinh tế OECD và mẫu của Liên hợp quốc UN. Ngoài ra trong thực tế,
mỗi quốc gia đều có mẫu hiệp định riêng của mình, dựa trên cơ sở mẫu
OECD hoặc UN.
Mẫu OECD: gồm 7 chương với 31 điều khoản
+ Chương 1( điều 1- 2): Phạm vi của hiệp định gồm các đối tượng và các
loại thuế áp dụng.
+ Chương 2( điều 3- 5): Các định nghĩa về đối tượng cư trú, cơ sở thường
trú…
+ Chương 3( điều 6- 21): Thuế đối với thu nhập từ bất động sản, kinh
doanh, vận tải…
+ Chương 4( điều 22): Thuế đối với tài sản.
+ Chương 5( điều 23): Biện pháp loại trừ đánh thuế 2 lần gồm phương
pháp miễn thuế và khấu trừ thuế.
+ Chương 6( điều 24- 29): Các điều khoản đặc biệt như không phân biệt
đối xử, về thoả thuận song phương, trao đổi thông tin…
+ Chương 7( điều 30- 31): Các điều khoản cuối cùng về Hiệu lực và chấm
dứt hiệp định.
Đặc điểm cơ bản của mẫu OECD là tạo thuận lợi, thực chất là ưu đãi cho
các nước xuất khẩu vốn, công nghệ và lao động hơn là các nước nhập khẩu
các yếu tố này. Điều này được thể hiện qua việc mẫu này thực hiện loại trừ
đánh thuế trùng thông qua đòi hỏi các quốc gia nguồn từ bỏ một phần hoặc
toàn bộ quyền thu thuế đối với một số loại thu nhập nhất định mà đối
tượng cư trú của quốc gia khác thu được từ quốc gia nguồn.
Ví dụ:
Các khoản thu nhập từ đầu tư gồm: lãi từ cổ phần, lãi tiền vay, tiền bản
quyền bị đánh thuế với một giới hạn nhất định tại quốc gia nguồn.
Hiệp định tránh đánh thuế hai lần có tính chất bắt buộc chung đối với cả
hai bên kí kết.
HĐ là một thỏa thuận giữa hai nước về việc phân chia nguồn thu.
Nội dung của Thông tư 133
Giải thích nội dung một số điều của HĐ
Thông tư hướng dẫn chi tiết về thuế đối với các loại thu nhập
Biện pháp tránh đánh thuế hai lần tại Việt Nam
Các quy định về thủ tục thực hiện Hiệp định; trách nhiệm và quyền hạn
của nhà chức trách có thẩm quyền. Bao gồm :
- Thủ tục khấu trừ số thuế đã nộp ở nước ngoài vào số thuế phải nộp tại
Việt Nam đối với các tổ chức, cá nhân là đối tượng cư trú của Việt Nam;
- Thủ tục miễn, giảm thuế phải nộp tại Việt Nam cho tổ chức, cá nhân
nước ngoài;
- Thủ tục xác nhận số thuế đã nộp ở Việt Nam cho tổ chức, cá nhân là đối
tượng cư trú của nước ngoài;
- Thủ tục xác nhận đối tượng cư trú của Việt Nam.
Ngoài ra, TT còn ban hành danh mục các Hiệp định tránh đánh thuế hai
lần giữa Việt Nam với các nước và vùng lãnh thổ; Mẫu đơn đề nghị áp
dụng hiệp định giữa Việt Nam và nước ký kết áp dụng cho tổ chức, cá
nhân là đối tượng cư trú của Việt Nam và mẫu đơn áp dụng cho các tổ
chức, cá nhân là đối tượng cư trú nước ngoài; mẫu giấy xác nhận đã nộp
thuế thu nhập; mẫu giấy chứng nhận cư trú và mẫu bảng kê thu nhập vận
tải áp dụng cho trường hợp doanh nghiệp trực tiếp điều hành phương tiện
vận tải và trường hợp hoán đổi/chia chỗ.
Một số vấn dề dặt ra với Việt Nam trong quá trình thực hiện hiệp định
Trong điều kiện của Việt Nam, các tổ chức, cá nhân nước ngoài là đối
tượng cư trú của các nước ký kết Hiệp định với Việt Nam thuộc đối tượng
được miễn, giảm thuế theo quy định của Hiệp định, cũng như các tổ
chức/công ty có vốn đầu tư nước ngoài cần xác định số thuế đã nộp ở Việt
Nam để được khấu trừ vào số thuế phải nộp ở nước ngoài rất nhiều.
không có đường ray xe lửa và cả nước chẳng có một sân bay nào. Người
đứng đầu Công quốc, Thái tử Alois, nếu muốn ra nước ngoài bằng máy
bay phải lái xe hơi đến sân bay ở nước láng giềng Áo. Tuy nhiên,
Liechtenstein lại nổi tiếng thịnh vượng và giàu có bậc nhất thế giới. Đây là
một trung tâm tài chính toàn cầu với gần 74.000 doanh nghiệp đến từ khắp
nơi trên thế giới đăng ký hoạt động.
Năm 2000, Tổ chức Hợp tác kinh tế và Phát triển OECD công khai bản
danh sách đen bất hợp tác về thuế, trong đó có 33 quốc gia để xảy ra vấn
nạn rửa tiền bị cảnh báo. Hiện nay, danh sách đen chỉ còn lại 3 quốc gia,
đó là Monaco, Liechtenstein và Andorra.
2. Đặc điểm :
* Về thuế suất áp dụng :
- Mức thuế suất áp dụng rất thấp
VD: Tại Liechtenstein- một quốc gia nhỏ ở Tây Âu,nằm giữa Thụy Sĩ và
Áo, thuế áp đặt cho các công ty rất ưu đãi. Mức thuế tối đa là 18%, so với
mức trung bình của châu Âu có thể lên tới 30%
- Nếu có, chỉ áp thuế trên danh nghĩa
VD : trước đây, khi còn bị coi là 1 thiên đường trốn thuế, Gibraltar - nằm
giữa Tây Ban Nha và Anh, các công ty ở đây hàng năm chỉ phải nộp có
mỗi một khoản thuế lợi tức là 400 EUR, thấp đến mức gần như không
đáng kể. Sau khi bị dư luận phê phán và bị coi là không phù hợp với luật
thuế của EU, chính sách thuế đã được thay đổi lại là: không áp thuế theo
doanh thu hay lợi nhuận mà theo số nhân công làm việc cho công ty đó với
mức 4.500 EUR/đầu người. Nhưng vì đại đa số - nếu như không nói là gần
hết - các công ty ở đây không hầu như không có nhân viên làm việc và
thường chỉ do một văn phòng luật sư ở Gibraltar quản lý nên quy định mới
về thuế này chỉ là danh nghĩa.
- Không áp nhiều loại thuế
VD : Andorra - quốc gia nằm giữa biên giới Pháp và Tây Ban Nha, không
thu thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập hay thuế tài sản
Tuy nhiên, công ty B lại là 1 công ty con của công ty A. Tại thiên đường
thuế, công ty B bán sản phẩm trên với giá >10$ là đã có lãi. Thu nhập thu