Xây dựng điều lệ công ty những vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 20

MỤC LỤC
Tiểu luận tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Cùng với dòng chảy phát triển của nền kinh tế toàn cầu, kinh tế Viêt Nam cũng đang
không ngừng phát triển, đặc biệt từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO,
thực hiện chính sách mở cửa, tăng cường giao lưu, mở rộng các mối quan hệ về mọi mặt
từ kinh tế, văn hóa, giáo dục.
Để đáp ứng được sự vận động chung đó, đòi hỏi mỗi chủ thể kinh tế mà mũi nhọn là
các doanh nghiệp trong nước cần có những bước đột phá không ngừng nhằm tạo nên
động lực chung cho nền kinh tế quốc gia. Và một trong những phương tiện để giúp các
pháp nhân có cơ sở vững chắc để phát triên đó là Điều lệ Công ty.
Vai trò của Điều lệ đối với một công ty có thể ví như Luật riêng của một quốc gia. Nó
là công cụ để những “người cầm quyền” quản lý được hoạt động của công ty nói chung
và củng cố sự ổn định về quyền lực của những người nắm giữ nói riêng. Xuất phát từ vai
trò mang tính nội bộ đó, Điều lệ còn thể hiện một cách gián tiếp vai trò mang tính vĩ mô
khi tác động đến các chủ thể thứ ba, cũng như cả môi trường kinh doanh của nền kinh tế
nói chung.
Với đề tài “Xây dựng Điều lệ Công ty – những vấn đề lý luận và thực tiễn”, trong
phạm vi của một bài tiểu luận tác giả xin được trình bày một cách khái quát nhất về lý
luận và thực tiễn của việc xây dựng và thực hiện Điều lệ của các công ty, từ đó xác định
nguyên nhân và đề ra giải pháp nhằm hoàn thiện, khắc phục những hạn chế còn tồn tại.
Với mong muốn có thể hướng đến những khía cạnh mới, mở ra những vẫn đề lý luận
cho những công trình nghiên cứu ở quy mô rộng hơn.
Tiểu luận tốt nghiệp 2
CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
I.1 Khái niệm
Pháp luật Việt Nam đã quy định xây dựng Điều lệ là một trong những điều kiện bắt
buộc cho sự tồn tại hợp pháp của một số loại hình công ty nhất định. Đây không chỉ là
điều kiện mang tính pháp lý mà còn là điều kiện mang tính kinh tế, bởi lẽ nó có vai trò
quan trong trong việc quản lý hoạt động cũng như góp phần thúc đẩy sự phát triển chung
của công ty. Vậy điều lệ công ty là gì?

Như vây, xét ở các khía cạnh khác nhau thì Điều lệ có thể được định nghĩa theo những
cách khác nhau, tuy nhiên trước hết ta nên hiểu một cách cơ bản Điều lệ Công ty được
xem như một bản hợp đồng được đồng ý bởi các bên trong công ty mang tính chất quy
định. Nó được xây dựng dựa trên các khuôn khổ, hành lang pháp lý mà pháp luật đề ra
mặt khác lại cho doanh nghiệp được phép tự do chỉnh sửa, miễn là không trái với quy
định của pháp luật.
I.2 Vai trò
Điều lệ Công ty là một trong những văn bản quan trọng nhất trong việc quản trị, quản
lý và điều hành Công ty.
Cùng với các quy định của Pháp luật mà Công ty phải tuân thủ, chấp hành thì Điều lệ
Công ty là một trong những văn bản quan trọng nhất trong việc điều hành và quản lý,
thậm chí có thể coi là bản "Điều luật riêng" của một Công ty. Điều lệ quy định những vấn
đề cốt lõi và nền tảng cho sự vận hành của Công ty như cơ cấu tổ chức quản lý, thẩm
quyền và thể thức thông qua các quyết định của bộ máy điều hành, nguyên tắc phân chia
Tiểu luận tốt nghiệp 4
lợi nhuận, xử lý lỗ và giải quyết tranh chấp nội bộ. Luật sửa đổi và bổ sung Luật Doanh
nghiệp 2009 đã dành Điều 22 nêu về Nội dung Điều lệ công ty.
Bản Điều lệ thực sự có vai trò không thể thay thế trong quá trình hoạt động của Công
ty. Thành viên, cổ đông sẽ nhìn vào Bản Điều lệ để biết được quyền lợi và nghĩa vụ của
mình. Người ngoài có thể đọc Bản Điều lệ để biết được công ty làm gì, đại diện theo
pháp luật của nó là ai? thẩm quyền của Công ty được ấn định ra sao để có thể ký hợp
đồng với Công ty mà không sợ ký kết sai người có thẩm quyền Nếu muốn trở thành
thành viên, cổ đông của Công ty, hoặc chuyển nhượng, nhận chuyển nhượng phần vốn
góp, cổ phần thì tiến hành theo các bước nào? Việc tổ chức, cơ cấu lại Công ty, thậm chí
cả việc giải thể doanh nghiệp được tiến hành như thế nào? Bản Điều lệ chính là nơi các
đối tượng liên quan với Công ty tìm thấy quyền lợi và nghĩa vụ của mình.
Trong toàn bộ các văn kiện cấu thành Công ty thì Điều lệ đóng một vai trò thực sự
quan trọng khi Công ty hoạt động, bởi lẽ:
Thứ nhất, về thứ tự ưu tiên áp dụng.
Trong Luật sửa đổi, bổ sung Luật doanh nghiệp 2009, rất nhiều nội dung quy định

Nếu muốn chuyển nhượng cổ phần thì tiến hành theo các bước nào? Bản Điều lệ chính là
nơi các đối tượng liên quan với Công ty tìm thấy quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Thông
qua đó, ta thấy Điều lệ có thể được xem như một kênh thông tin cung cấp những thông
tin cụ thể mang tính pháp lý của Công ty, cung cấp cho chính các thành viên của Công ty
trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, cũng như các đối tác trong quá trình
hợp tác kinh doanh, các cơ quan chức năng trong quá trình quản lý.
Thứ tư, Điều lệ và ý tưởng của người sáng lập.
Bản Điều lệ quy định quyền lợi nghĩa vụ của các thành viên trong công ty, nhưng thực
sự, nó lại chính là sự sắp đặt mà người sáng lập Công ty đưa ra nhằm cân bằng quyền lợi
Tiểu luận tốt nghiệp 6
trong Công ty cũng như tạo cơ chế vận hành để công ty phát triển. Đồng thời, Bản Điều
lệ thường nhằm thu hút được nhiều người khác bỏ vốn mà vẫn giữ được quyền kiểm soát
cho cổ đông sáng lập. Bản Điều lệ do vậy, thực chất là thể hiện ý đồ của những người
sáng lập trong tương quan của họ với những cổ đông khác. Và theo ý nghĩa này, thực
chất, Bản Điều lệ là một nghệ thuật sắp xếp trong hành lang luật pháp của người sáng lập
hay người nắm số vốn lớn nhất để thực hiện ý đồ kinh doanh của mình. Do đó, ta có thể
hiểu, Điều lệ chính là hiện thân cho ý chí của người sáng lập, là công cụ để quản lý đảm
bảo sự vận hành công ty luôn nằm trong sự kiểm soát, cũng như bảo vệ quyền lực của họ
trong chính công ty đó. Nhưng không vì thế mà việc xây dựng Điều lệ là chuyện riêng
của những người sáng lập, xuất phát từ Điều lệ là sự thể hiện ý chí của người sáng lập
nên các thành viên mới tuy không tạo ra Điều lệ nhưng khi gia nhập Công ty luôn phải
thông qua hoặc cam kết tuân thủ Điều lệ – ấn định những nguyên tắc về tổ chức nội bộ,
hoạt động, giải thể của Công ty, từ đó điều chỉnh các quyền, nghĩa vụ của các thành viên
trong Công ty. Tránh việc để những người sáng lập lạm dụng quyền hạn của mình.
Tóm lại, Cùng với quy định của pháp luật, Điều lệ là một trong những văn bản quan
trọng nhất trong việc điều hành, quản lý, giải quyết các vấn đề phát sinh, tranh chấp trong
một Công ty. Điều lệ quy định những vấn đề cốt lõi và nền tảng như cơ cấu tổ chức quản
lý, thẩm quyền và thể thức thông qua các quyết định của bộ máy điều hành, nguyên tắc
phân chia lợi nhuận, xử lý lỗ và giải quyết tranh chấp nội bộ Điều lệ chính là bản hợp
đồng giữa các thành viên, cổ đông Công ty với nhau và giữa Công ty với các thành viên,

đặc biệt là cổ đông nhỏ.
Tiểu luận tốt nghiệp 8
Như vậy, việc bắt buộc xây dựng Điều lệ trong các pháp nhân đã thể hiện Pháp luật
không chỉ tạo điều kiện cho các chủ thể chủ động tự do trong kinh doanh mà còn mang
tính định hướng chung cho các Công ty vận động và phát triển để tạo nên tính đồng bộ
cho toàn bộ nền kinh tế nói chung.
I.3.2 Nguyên tắc xây dựng Điều lệ
Điều lệ Công ty trước hết có thể xem là một bản hợp đồng được đồng ý bởi các bên
trong công ty mang tính chất quy định. Nó được xây dựng dựa trên các khuôn khổ, hành
lang pháp lý mà pháp luật đề ra mặt khác lại doanh nghiệp được phép tự do chỉnh sửa,
miễn là không trái pháp luật.
Xét về mặt điều hành, Điều lệ Công ty được hiểu như là “pháp luật của doanh nghiệp”
trong đó Doanh nghiệp có thể tự điều chỉnh hoạt động của mình một cách có ý chí riêng
mà lại không trái pháp luật. Xét về mặt kinh doanh, Điều lệ đóng một vai trò quan trọng
không kém vì nó cho biết cơ cấu, nội dung Doanh nghiệp, cách thức kinh doanh, hoạt
động mà Doanh nghiệp đề ra cho người mong muốn góp vốn hay giao dịch với Công ty.
Cũng bởi lẽ đó mà những đối tác đầu tư, những khách hàng luôn quan tâm, tìm hiểu kĩ về
Điều lệ trước khi cam kết điều gì. Bên cạnh đó, khách hàng cũng cần biết ai sẽ là người
kí kết hợp đồng với họ, bởi thông qua Điều lệ Công ty, pháp luật có quy định ai là người
đại diện.
Để hoạt động suôn sẻ, tránh được những tranh chấp phát sinh và rắc rối với pháp luật,
doanh nghiệp cần quan tâm một số điểm cơ bản trong cách soạn thảo thành lập điều lệ
công ty như sau:
Điều lệ không được trái với các quy định của pháp luật và không xâm phạm quyền lợi
của bên thứ ba;
Điều lệ Công ty là một hợp đồng nhiều bên dựa trên nguyên tắc tự nguyện, thỏa thuận
để quy định quyền và nghĩa vụ của các bên, tổ chức quản lý, hoạt động của Công ty;
Tiểu luận tốt nghiệp 9
Điều lệ phải có đủ các nội dung chủ yếu quy định tại Điều 22 Luật sửa đổi, bổ sung
Luật Doanh nghiệp 2009

1. Tên, địa chỉ trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện.
2. Ngành, nghề kinh doanh.
3. Vốn điều lệ; cách thức tăng và giảm vốn điều lệ.
4. Họ, tên, địa chỉ, quốc tịch và các đặc điểm cơ bản khác của các thành viên hợp danh
đối với công ty hợp danh; của chủ sở hữu công ty, thành viên đối với công ty trách nhiệm
hữu hạn; của cổ đông sáng lập đối với công ty cổ phần.
5. Phần vốn góp và giá trị vốn góp của mỗi thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu
hạn và công ty hợp danh; số cổ phần của cổ đông sáng lập, loại cổ phần, mệnh giá cổ
phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán của từng loại đối với công ty cổ phần.
6. Quyền và nghĩa vụ của thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp
danh; của cổ đông đối với công ty cổ phần.
7. Cơ cấu tổ chức quản lý.
8. Người đại diện theo pháp luật đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần.
9. Thể thức thông qua quyết định của công ty; nguyên tắc giải quyết tranh chấp nội bộ.
10. Căn cứ và phương pháp xác định thù lao, tiền lương và thưởng cho người quản lý và
thành viên Ban kiểm soát hoặc Kiểm soát viên.
Tiểu luận tốt nghiệp 11
11. Những trường hợp thành viên có thể yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp đối với
công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc cổ phần đối với công ty cổ phần.
12. Nguyên tắc phân chia lợi nhuận sau thuế và xử lý lỗ trong kinh doanh.
13. Các trường hợp giải thể, trình tự giải thể và thủ tục thanh lý tài sản công ty.
14. Thể thức sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty.
15. Họ, tên, chữ ký của các thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh; của người đại
diện theo pháp luật, của chủ sở hữu công ty, của các thành viên hoặc người đại diện theo
uỷ quyền đối với công ty trách nhiệm hữu hạn; của người đại diện theo pháp luật, của các
cổ đông sáng lập, người đại diện theo uỷ quyền của cổ đông sáng lập đối với công ty cổ
phần.
16. Các nội dung khác do thành viên, cổ đông thoả thuận nhưng không được trái với quy
định của pháp luật.
Lưu ý thêm rằng: xuyên suốt Luật sửa đổi, bổ sung Luật Doanh nghiệp 2009 có để

ty hợp danh, Công ty TNHH, của cổ đông Công ty cổ phần (khoản 6 điều 22). Trường
hợp này trên cơ sở tại các điều luật về quyền và nghĩa vụ của các thành viên Công ty mà
chủ đầu tư tiến hành xây dựng các quyền và nghĩa vụ cụ thể cho các thành viên công ty
mình. Tuy nhiên, nội dung các quyền này bắt buộc phải tuân thủ đầy đủ các quy định tại
Điều 41, 42 đối với thành viên Công ty TNHH; Điều 79, 80 đối với cổ đông Công ty cổ
phần; Điều 134, 140 đối với thành viên Công ty hợp danh. Chủ đầu tư có thể thỏa thuận
với nhau để quyết định các quyền và nghĩa vụ cụ thể cho phù hợp với điều kiện của các
chủ đầu tư và loại hình doanh nghiệp mình dự định thành lập theo hướng mở rộng hoặc
thu hẹp phạm vi quyền và nghĩa vụ của thành viên công ty, miễn sao phải tuân thủ đầy đủ
các quy định của pháp luật.
Tiểu luận tốt nghiệp 13
Thứ hai, về thể thức thông qua quyết định của công ty; nguyên tắc giải quyết tranh
chấp nội bộ (khoản 9, điều 22). Trừ loại hình doanh nghiệp tư nhân và công ty TNHH
một thành viên cá nhân làm chủ sở hữu thì các loại hình doanh nghiệp khác đều phải có
quy định này trong điều lệ của doanh nghiệp. Tỷ lệ số phiếu thông qua các vấn đề quan
trọng của doanh nghiệp sẽ tuân thủ quy định của Luật Doanh nghiệp. Ví dụ như quy định
tại Điều 52 Luật sửa đổi, bổ sung Luật Doanh nghiệp 2009 tại khoản 2, 3 quy định:
“2. Quyết định của Hội đồng thành viên được thông qua tại cuộc họp trong các trường
hơp sau đây:
a. Được số phiếu đại diện ít nhất 65% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp chấp
thuận; tỷ lệ cụ thể do điều lệ công ty quy định.
b. Được số phiếu đại diện ít nhất 75% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp chấp
thuận đối với quyết định bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài
sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn
quy định tại Điều lệ công ty, sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty, tổ chức lại, giải thể công
ty; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định.
3. Quyết định của Hội đồng thành viên được thông qua dưới hình thức lấy ý kiến bằng
văn bản khi được số thành viên đại diện ít nhất 75% vốn điều lệ chấp thuận; tỷ lệ cụ thể
do Điều lệ công ty quy định”.
Theo như quy định này thì Pháp luật đã dành quyền rất lớn cho các sáng lập viên của

2
.
2 Những nội dung cơ bản của Luật Doanh nghiệp 2005, Nhà xuất bản Tư pháp.
Tiểu luận tốt nghiệp 15
Với những đòi hỏi thực tế của công cuộc đổi mới, những quy định của Luật Công ty
và Luật Doanh nghiệp tư nhân ban hành trước đây đã bộc lộ những điểm không phù hợp
với những nói dung tương ứng của một số Luật khác có lien quan như Luật Dân sự, Luật
Thương mại. Sự sửa đổi hai đạo luật này và xây dựng một Luật thống nhất điều chỉnh
các loại hình công ty và doanh nghiệp tư nhân theo hướng mở rộng thêm các loại hình
doanh nghiệp khác, phù hợp với thực tiễn, nhằm tang cường tính linh hoạt cho các nhà
đầu tư phù hợp với khả năng của họ đồng thời tang cường vai trò quản lý nhà nước, giám
sát bằng pháp luật đối với doanh nghiệp.
Luật Doanh nghiệp chủ yếu điều chỉnh các mối quan hệ giữa các bên có liên quan
trong quá trình thành lập, tổ chức quản lý doanh nghiệp, sáp nhập, hợp nhất, chia tách,
giải thể đối với các loại hình doanh nghiệp.
Trước khi có Luật Doanh nghiệp các doanh nghiệp của các tổ chức chịnh trị, chính trị
xã hội, tổ chức xã hội chưa rõ hoạt động theo luật nào. Và việc ban hành Luật Doanh
nghiệp, đặc biệt là quy định về công ty TNHH là căn cứ pháp lý để các doanh nghiệp
thuộc các tổ chức nói trên đăng ký và hoạt động theo Luật này.
Do tính chất và địa vị pháp lý của từng loại hình doanh nghiệp là khác nhau nên cơ
cấu tổ chức pháp lý cũng không giống nhau. Mục tiêu của Luật Doanh nghiệp là:
Thứ nhất, thiết lập các nguyên tắc tổ chức, quản lý thông tin rõ ràng, minh bạch thông
qua việc xây dựng cơ cấu cơ bản trong tổ chức quản lý nội bộ công ty.
Thứ hai, bảo đảm sự giám sát nội bộ đối với hoạt động sản xuất kinh doanh.
Thứ ba, quy định rõ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thể lien quan đến
quản lý, điều hành doanh nghiệp, thể thức làm việc và thông qua quyết định của các cơ
quan.
Luật Doanh nghiệp bảo đảm nguyên tắc chung phổ biến trên đó là việc áp dụng mô
hình tổ chức quản lý, phương thức điều hành doanh nghiệp theo hướng coi đó là công
việc nội bộ cua chủ sở hữu doanh nghiệp, các nhà đầu tư. Luật chỉ đưa ra “khung cơ bản”

cũng là một trong những công cụ để các công ty khắc phục được các lý do đổ vỡ trên
3
.
Quy định về Điều lệ đóng một vai trò quan trọng đối với các nhà đầu tư lựa chọn loại
hình doanh nghiệp là Công ty. theo quy định của Luật Doanh nghiệp: Điều lệ Công ty là
bản cam kết của tất cả các thành viên về thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của công
ty. Điều lệ đầu tiên của Công ty TNHH phải được tất cả thành viên sáng lập chấp thuận.
Điều lệ đầu tiên của Công ty cổ phần phải được tất cả cổ đông sáng lập chấp thuận. Như
vây, Điều lệ công ty đóng vài trò quan trọng trong quá trình thành lập - một điều kiện để
nộp hồ sơ Đăng ký kinh doanh; quản lý và hoạt động, vì các quy định của Điều lệ là căn
cứ quan trọng trong việc tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp và đây thuộc về trách
nhiệm của thành viên sáng lập. Luật doanh nghiệp quy định: Nội dung Điều lệ Công ty
không được trái với quy định của Luật Doanh nghiệp và các văn bản Pháp luật khác có
liên quan.
Theo Điều 123 Luật Doanh nghiệp 2002, các công ty TNHH và công ty cổ phần được
thành lập và hoạt động trước ngày 1/1/2000 sẽ phải sửa đổi lại Điều lệ. Thời hạn cuối
cùng phải sửa đổi là 31/12/2001. Trong trường hợp công ty TNHH và công ty cổ phần
này không sửa đổi lại Điều lệ của mình thì Điều lệ đó được coi là không có giá trị pháp
luật từ ngày 1/1/2002, hồ sơ đăng ký kinh doanh được coi là không hợp lệ, mọi tranh
chấp phát sinh sau đó sẽ được xử lý theo Luật Doanh nghiệ. Các Công ty không sửa đổi
Điều lệ thì Điều lệ đó được coi là không hợp lệ và bị vô hiệu đối với những nội dung trái
với Luật Doanh nghiệp. Các cơ quan Đăng ký kinh doanh có quyền yêu cầu Công ty sửa
đổi Điều lệ, nếu Công ty không chấp hành thì có thể bị xử phạt vi phạm hành chính và
hậu quả pháp lý khác theo quy định tại Điều 16, NĐ 02/2000/NĐCP.
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp riêng đối với Điều lệ của công ty TNHH và
CTCP đã được thành lập trước ngày 1/1/2000 thì phải sửa đổi lại theo Luật Doanh
nghiệp; kể từ ngày 1/1/2002 tất cả Điều lệ thuộc diện phải sửa đổi nói trên mà chưa được
3 Tiếng nói doanh nghiệp, NXB Tư pháp.
Tiểu luận tốt nghiệp 18
thay đổi thì Điều lệ không còn giá trị pháp lý. Trong trường hợp công ty chưa sửa đổi

định nào? Bên cạnh đó, nó còn có ý nghĩa định hướng cho các Công ty trong việc xây
dựng Điều lệ cho mình. Bởi lẽ, xét cho cùng Luật pháp cũng được xây dựng từ thực tế xã
hội, việc tuân thủ nó cũng chính là đang hướng theo một sự vận động chung. Còn có thể
phát triển đến đâu lại phụ thuộc vào bản thân của các Công ty trong việc nắm bắt linh
hoạt vào tình hình của Công ty mình.
Trên thực tế, khi soạn thảo Điều lệ những người sáng lập Công ty sắp xếp ý muốn của
họ đi theo các khuôn khổ luật định mà đã được “cắt đẽo”, thêm bớt theo nguyên tắc
“không trái pháp luật” để thực hiện việc đầu tư của mình. Về cơ bản, họ không muốn chia
sẻ quyền quản lý và điều hành Công ty của mình với ai; nhưng vì cần tiền của người khác
nên họ phải làm trái đi một cách bất đắc dĩ. Vậy vấn đề là chia sẻ thế nào, nhượng bớt
những gì để mình không mất nhiều mà những người mình muốn họ hùn hạp chấp nhận và
nằm trong khuôn khổ của luật pháp đã được vận dụng. Ngoài ra còn phải tính đến chủ
trương của luật; nó đứng về phe nào trong số các đối tượng được điều chỉnh. Chẳng hạn,
Luật Doanh Nghiệp năm 2005 chủ trương bảo vệ cổ đông ít vốn hơn Luật Doang nghiệp
năm 2000. Khả năng xoay trở trong khuôn khổ “không trái pháp luật” mà những người
sáng lập có thể làm được nằm ở cách thức và thời gian góp vốn, cơ cấu tổ chức của Công
ty, thủ tục họp hành, thể thức quyết định, để làm sao đạt được mục đích của mình.
Vì lẽ trên, Điều lệ phải du nhập vào nó những điều khoản của Luật Doanh nghiệp đã
“được cắt gọt” để những người sáng lập vận hành được công ty. Nó là sự cụ thể hóa Luật
doanh nghiệp vào hoàn cảnh cụ thể của một công ty. Công việc ấy đòi hỏi người sáng lập
không chỉ phải thực tế, mà còn cần hiểu biết tâm lý để đừng dại dột trói tay mình chặt
hơn luật đòi hỏi.
Ví dụ, luật quy định “Cuộc họp Hội đồng quản trị được tiến hành khi có từ ba phần tư
tổng số thành viên trở lên dự họp.Thành viên không trực tiếp dự họp có quyền biểu quyết
thông qua bỏ phiếu bằng văn bản. Phiếu biểu quyết phải đựng trong phong bì kín và phải
Tiểu luận tốt nghiệp 20
được chuyển đến Chủ tịch Hội đồng quản trị chậm nhất một giờ trước giờ khai mạc.
Phiếu biểu quyết chỉ được mở trước sự chứng kiến của tất cả những người dự họp. Quyết
định của Hội đồng quản trị được thông qua nếu được đa số thành viên dự họp chấp
thuận; trường hợp số phiếu ngang nhau thì quyết định cuối cùng thuộc về phía có ý kiến

nguyên đơn sẽ chỉ ra bị đơn vi phạm một điều nào đó trong bản hợp đồng - luật cụ thể,
chứ không phải theo điều số mấy của luật thương mại - luật tổng quát. Khi xét xử, chỉ khi
nào luật cụ thể thiếu hay không rõ tòa mới chiếu vào luật tổng quát, và nếu luật ấy thiếu
tòa sẽ chiếu vào tập tục. Trong tương quan giữa Điều lệ và Luật Doang nghiệp thì nó
cũng giống như hợp đồng mua bán đối với luật thương mại. Vậy khi các cổ đông cãi nhau
thì họ tranh chấp về một điều khoản nhất định nằm trong Điều lệ chứ không phải trong
Luật Doanh nghiệp. Đối với Luật Doanh nghiệp, họ bị buộc phải tuân thủ. Họ tranh chấp
với nhau về một điều khoản trong Điều lệ mà họ đã đồng ý với nhau là sẽ tuân thủ và đã
ký tên vào đó. Họ không hề ký để nói rằng chúng ta cùng tuân thủ Luật Doanh nghiệp.
Bởi thế, khi các cổ đông của một Công ty tranh chấp thì phải căn cứ vào Điều lệ trước hết
để xem xét ai đúng ai sai, nếu Điều lệ thiếu thì mới xem đến Luật Doanh nghiệp.
Như vây, chính từ sự cụ thể hóa đó của Điều lệ nên có thế xem nó cũng như một
mảnh ghép phản chiếu thực tế, cho việc đánh giá hiệu quả, tính phù hợp của các quy định
trong Luật Doanh nghiệp. Điều lệ Công ty chính là sự cụ thể hóa Luật Doanh nghiệp vào
hoàn cảnh cụ thể của một công ty. Từ những thuận lợi, vướng mắc của việc áp dụng có
thể thấy được điểm hay, điểm dở của Pháp luật, để có hướng điều chỉnh sao cho phù hợp
với điều kiện chung.
Tóm lại, xét về bản chất, cả Luật Doanh nghiệp và Điều lệ công ty đều là những “quy
tắc” yêu cầu các công ty cần phải tuân thủ, chúng có mối quan hệ tác động qua lại, bổ
sung cho nhau. Và để thật sự phát huy được hiệu quả áp dụng của cả hai “luât” này thì
trước hết phải đảm bào được sự đồng bộ thống nhất, từ đó giúp các Công ty có thể hiểu,
áp dụng pháp luật một cách chính xác, đi đúng hướng theo tinh thần của pháp luật, đồng
Tiểu luận tốt nghiệp 22
thời cũng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các cơ quan chức năng trong việc kiểm soát và
quản lý.
CHƯƠNG II. NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN VỀ PHÁP LUẬT VÀ QUÁ
TRÌNH ÁP DỤNG.
II.1 Thực trạng quy định pháp luật về việc xây dựng và áp dụng Điều lệ Công ty.
Đã 7 năm kể từ khi Luật Doanh nghiệp 2005 có hiệu lực, không thể phủ nhận những
giá trị to lớn kể từ khi văn bản này ra đời, tuy nhiên, cùng với sự thay đổi, phát triển của

Quang Chiêu), mỗi thành viên góp 50% vốn điều lệ nhưng điều lệ, vốn điều lệ của công
ty vẫn không thay đổi.
Trong quá trình hoạt động đến năm 2003, giữa các thành viên với công ty phát sinh mâu
thuẫn về việc phân chia lợi nhuận, sau đó các bên không tự giải quyết được, phát sinh
tranh chấp và bà Nguyễn Thị Bích Đào đã khởi kiện công ty ra TAND TPHCM để yêu
cầu được rút phần vốn góp hoặc chuyển nhượng cho thành viên khác theo giá thỏa thuận,
nếu không chuyển nhượng được thì giải thể công ty.
Ông Lê Quang Chiêu – thành viên còn lại của công ty không đồng ý cho bà Nguyễn Thị
Bích Đào chuyển nhượng cho người ngoài công ty, cũng không mua và không giới thiệu
ai mua.
Tại bản án kinh tế sơ thẩm số 243/XX-KTST ngày 28-9-2004, TAND TPHCM chấp nhận
yêu cầu của nguyên đơn và yêu cầu Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố có trách nhiệm
thực hiện việc thay đổi đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp theo quyết định của Tòa án.
Ông Lê Quang Chiêu có đơn kháng cáo. Bản án kinh tế phúc thẩm số 72/KTPT ngày 24-
12-2004, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TPHCM quyết định bác đơn yêu cầu của bà
Tiểu luận tốt nghiệp 24
Nguyễn Thị Bích Đào do căn cứ vào điều lệ công ty (điểm b, điều 7, quy định: “Việc
chuyển nhượng phần hùn vốn được ưu tiên thực hiện giữa các thành viên, nếu chuyển
nhượng cho người ngoài công ty thì phải được đa số thành viên tiêu biểu ít nhất là 80%
vốn công ty ưng thuận”).
Ngày 12-9-2005, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ra Quyết định kháng nghị
số 04/KN-AKT kháng nghị bản án phúc thẩm.
Ngày 4-4-2006, Hội đồng thẩm phán TAND tối cao ra Quyết định giám đốc thẩm số
01/2006/KDTM-GĐT tuyên điều 7 điều lệ Công ty Toàn Thịnh vô hiệu do: (i) không còn
phù hợp với Luật Doanh nghiệp 1999 về quy định việc chuyển nhượng phần vốn góp kể
từ ngày 12-6-2001 và (ii) quy định này không còn khả thi. Quyết định giám đốc thẩm
cũng tuyên phần phán quyết của bản án sơ thẩm về việc thay đổi danh sách thành viên
góp vốn và yêu cầu Sở Kế hoạch và Đầu tư TPHCM có trách nhiệm thực hiện việc thay
đổi đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp theo quyết định của tòa án là không có căn cứ
vì tòa án chỉ giải quyết việc được hay không được chuyển nhượng vốn ra ngoài công ty,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status