Luận văn :T HỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN NGÀNH NÔNG LÂM NGHIỆP THUỶ SẢN TỈNH VĨNH PHÚC part 5 - Pdf 20


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
52
thành và ổn định tập quán sản xuất 3 vụ/năm trên diện tích canh tác cây hàng
năm; bước đầu xuất hiện vùng sản xuất hàng hoá với một số cây trồng có thị
trường tiêu thụ như rau, hoa, cây ăn quả, cây dược liệu, cây thức ăn gia súc
Nhiều mô hình trang trại chuyên canh và sản xuất kinh doanh tổng hợp được
hình thành và phát triển. Kết quả trồng trọt cụ thể đạt được như sau:
a - Nhóm cây lương thực có hạt (lúa, ngô)
Là nhóm cây trồng chủ lực trên diện tích gieo trồng cây hàng năm của
tỉnh. Từ năm 2002 đến nay, diện tích gieo trồng cây lương thực của tỉnh có xu
hướng giảm dần, nguyên nhân do một phần diện tích đất nông nghiệp chuyển
mục đích sử dụng để phát triển các ngành kinh tế khác; Một phần do chuyển
dịch cơ cấu cây trồng sang các cây trồng khác có hiệu quả kinh tế cao hơn.
Nhờ áp dụng có hiệu quả các biện pháp kỹ thuật trong thâm canh nên mặc dù
diện tích gieo trồng giảm nhưng năng suất, sản lượng cây lương thực của tỉnh
không ngừng tăng năm sau cao hơn năm trước. Tổng sản lượng lương thực có
hạt tăng từ 39,7 vạn tấn năm 2002 lên 43,67 vạn tấn năm 2004; năm 2005 đạt
41,3 vạn tấn. Sản lượng lương thực tăng, vừa đảm bảo an ninh lương thực
trên địa bàn, dành một phần phục vụ phát triển chăn nuôi và bước đầu có hàng
hoá phục vụ nhu cầu của các tỉnh, thành phố lân cận như Hà Nội, Việt Trì,
Sơn Tây,
Kết quả đạt được như sau :
- Cây lúa: diện tích gieo cấy bình quân đạt 68-70 ngàn ha/năm; Do tích
cực áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới về giống, kỹ thuật canh tác và đặc biệt
do chuyển đổi cơ cấu mùa vụ từ chính vụ sang gieo cấy trà xuân muộn, mùa
sớm nên năng suất lúa đã tăng từ 46,7 tạ/ha năm 2002 lên 50,53 tạ/ha năm
2005, năm 2007 đạt 45,77 tạ/ha. Nhờ vậy, sản lượng lúa không ngừng tăng
qua các năm, năm 2004 đạt cao nhất là 36,45 vạn tấn[3].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Ngàn
ha
122,81
118,85
111,06
-1,44
II
Sản lƣợng lƣơng thực có hạt
ngàn
tấn
421,2
412,8
367,8
-1,56
III
Giá trị sản xuất/1 ha đất cây
hàng năm (Giá thực tế)
Triệu
đồng
25,76
29,17
35,44
8,77
IV
Cây lƣơng thực
ngàn ha
101,3
86,0
84,2
-3,00

2
Cây ngô
+ Diện tích
Ngàn
ha
18,72
16,49
15,24
-0,64

+ Năng suất
tạ/ha
34,0
37,38
33,86
0,20

+ Sản lượng
Ngàn
tấn
63,6
61,6
51,6
-0,44

ngàn tấn/năm; hành tỏi 13-14 ngàn tấn/năm, dưa chuột 10-11 ngàn tấn/năm,
cải bắp 9-10 ngàn tấn/năm, xu hào 8-9 ngàn tấn/năm, cà chua 10-11 ngàn
tấn/năm, Từ năm 2003, tỉnh Vĩnh Phúc đã quan tâm đầu tư xây dựng vùng
rau sạch, rau an toàn, đẩy mạnh việc ứng dụng và chuyển giao các tiến bộ kỹ
thuật trong sản xuất rau, nhất là quản lý dịch hại tổng hợp trên rau (IPM), nên
năng suất, chất lượng rau ngày càng được nâng cao. Bước đầu tỉnh đã xây
dựng được vùng rau an toàn với quy mô trên 600 ha ở Vĩnh Yên, Vĩnh Tường
và Yên Lạc.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
55
Đối với đậu các loại, diện tích trung bình đạt 600-700 ha/năm, năng
suất tăng nhờ đầu tư thâm canh, nhưng diện tích gieo trồng có xu hướng giảm
do nhu cầu thị trường giảm.

Bảng 2.9: DIỆN TÍCH, NĂNG SUẤT SẢN LƢỢNG CÂY THỰC PHẨM
TỈNH VĨNH PHÚC GIAI ĐOẠN 2003-2007 STT
Chỉ tiêu
Đơn vị
Thực hiện
Bình quân

8496,20
8626
8469,5
0,14

+ Năng suất
tạ/ha
162,3
171,96
170,38
2,07

+ Sản lượng
Ngàn tấn
137,9
148,3
144,3
2,21
2
Đậu các loại
+ Diện tích
Ha
909,7
827,8

sản lượng lạc tăng khá, đặc biệt là lạc gieo trồng vụ đông. Năm 2007, diện
tích đạt 4,11 ngàn ha, năng suất 15,99 tạ/ha (tăng 7,3% so năm 2002), sản
lượng 6,21 ngàn tấn (tăng 53% so năm 2002).
+ Cây đậu tương: Là cây công nghiệp được phát triển khá và được
trồng chủ yếu trong vụ đông. Nhờ thâm canh và tăng cường sử dụng giống tốt
nên năng suất, sản lượng đậu tương tăng nhanh. Năm 2005, diện tích cao nhất
đạt 8,47 ngàn ha, năng suất 15,56 tạ/ha (tăng 17,5% so năm 2002); sản lượng
đạt 13,2 ngàn tấn. Vụ đông năm 2006-2007 do mưa đá và lốc xoáy làm thiệt
hại gần 3 ngàn ha đậu tương nên diện tích đậu tương giảm còn 4,3 ngàn ha,
sản lượng đạt 6,35 ngàn ha.
d - Hoa, cây cảnh và cây hàng năm khác
+ Hoa, cây cảnh: Là những cây trồng mới phát triển mạnh trong những
năm gần đây; Từ năm 2003-2007, diện tích gieo trồng hàng năm đạt trên 1
ngàn ha, năm 2007 đạt 1.241 ha, trong đó có gần 400 ha đất chuyên canh hoa
hồng; giá trị thu nhập từ trồng hoa khá cao (Năm 2006-2007 đạt 70 – 80 triệu
đồng/ha/năm, cá biệt đạt trên 300 triệu/ha- giá thực tế). Tuy nhiên, sản xuất
hoa ở Vĩnh Phúc còn chủ yếu theo phương pháp truyền thống, chưa có sự đầu
tư theo công nghệ sản xuất hiện đại nên chất lượng hoa của Vĩnh Phúc chưa
cao, chưa đủ khả năng cạnh tranh với hoa Đà Lạt và hoa nhập ngoại.
+ Cây dược liệu: chủ yếu là thanh hao hoa vàng cung cấp nguyên liệu
cho các cơ sở chế biến Artermisin trên địa bàn. Năm 2002 diện tích cây dược
liệu mới chỉ đạt 257,3 ha, năm 2006 do giá thu mua cao, người nông dân thấy
hiệu quả từ trồng thanh hao cao hơn các loại cây trồng khác nên đã chuyển
sang trồng thanh hao, đưa diện tích cây thanh hao tăng lên 4.144 ha. Tuy
nhiên sau đó sản phẩm dư thừa, giá thu mua giảm mạnh, diện tích cây thanh
hao hoa vàng hiện nay giảm, năm 2007 chỉ còn 430,7 ha.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
57
Bảng 2.10: DIỆN TÍCH, NĂNG SUẤT, SẢN LƢỢNG CÂY CÔNG NGHIỆP HÀNG NĂM
+ Diện tích
Ha
5659,0
8478,6
4343,5
-5,94

+ Năng suất
tạ/ha
13,36
15,56
14,63
2,97

+ Sản lượng
tấn
7560,4
13192
6354,5
-3,15
2
Cây lạc


+ Cây làm thuốc
ha
209,2
300
430,7
10,85

+ Cây thức ăn gia súc
ha
662,2
800
1545,9
37,71

+ Hoa, cây cảnh
ha
1106,1
1400
1241
3,81

+ Cây hàng năm khác
ha
231,5
1000
84
-22,67

Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc

lượng quả đạt 75 ngàn tấn, trong đó chủ yếu là chuối 34,82 ngàn tấn, nhãn vải
20,877 ngàn tấn, dứa 2,41 ngàn tấn và cam, chanh quýt 1,06 ngàn tấn, xoài
1,8 ngàn tấn, Hiện nay một số loại cây ăn quả đem lại thu nhập khá là chuối
18,8 triệu đồng/ha, nhãn 31,6 triệu đồng/ha, vải 10-15 triệu đồng/ha, dứa 10,3
triệu đồng/ha (tính toán chi tiết tại phụ lục số 2). Sản phẩm cây ăn quả trên địa
bàn tỉnh bước đầu đã đáp ứng được nhu cầu thị trường trong tỉnh và cung cấp
cho các tỉnh lân cận.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
59
Bảng 2.11: DIỆN TÍCH, SẢN LƢỢNG MỘT SỐ CÂY ĂN QUẢ
TỈNH VĨNH PHÚC GIAI ĐOẠN 2003-2007
Năm
Diện tích cho
sản phẩm (ha)
Sản lƣợng (tấn)
Tổng số
Chuối
Cây có
múi
Dứa
Nhãn,
vải
2003
4.804,9
63.503
31.715
2.492
1.882
10.112


Tuy nhiên, nhìn chung cây ăn quả của Vĩnh Phúc không có tính đặc
trưng, chất lượng không cao. Việc triển khai các dự án trồng cây ăn quả trước
đây ở các địa phương có tính phong trào, chủng loại và chất lượng giống
không được kiểm soát chặt chẽ, nên nhiều diện tích cây sinh trưởng kém. Bên
cạnh đó, cây ăn quả chủ yếu được trồng trên đất vườn tạp, diện tích nhỏ lẻ,
phân tán, không được chú trọng đầu tư thâm canh nên năng suất, chất lượng
quả thấp, chưa tạo ra khối lượng hàng hoá lớn. Từ năm 2002 đến nay, diện
tích trồng mới cây ăn quả giảm dần do đã trồng hết diện tích, mặt khác hiệu
quả từ trồng cây ăn quả có năm giảm rất thấp do tình trạng “được mùa, rớt
giá”, nhất là đối với quả vải. Vì vậy, để duy trì ổn định diện tích và sản lượng
các loại cây ăn quả trên thì việc nâng cao chất lượng sản phẩm, đầu tư công
nghệ bảo quản, chế biến sản phẩm đồng thời làm tốt công tác dự báo thị
trường là rất quan trọng.
- Cây dâu:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
60
Trồng dâu nuôi tằm là nghề truyền thống ở Vĩnh Phúc. Tuy nhiên từ
năm 2002 đến nay, diện tích cây dâu ngày càng giảm, bình quân giảm
24,9%/năm. Nguyên nhân do dịch bệnh trên cây dâu và tằm, đồng thời giá kén
xuống thấp, sản xuất dâu tằm tơ chịu thiệt hại lớn, thu nhập của người trồng
dâu nuôi tằm sa sút, nhiều hộ nông dân đã phá bỏ diện tích dâu đã trồng. Năm
2007, diện tích dâu toàn tỉnh còn 528 ha, năng suất 270 tạ/ha, sản lượng lá dâu
14,25 ngàn tấn, sản lượng kén tằm 431,3 tấn.
Thời gian tới, đối với vùng đất bãi ven sông khó nước, dâu tằm vẫn là
cây trồng có hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần tập trung
tháo gỡ những tồn tại trong trồng dâu, nuôi tằm hiện nay bằng cách tăng
cường công tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật sản xuất; Đưa các giống dâu mới
chất lượng tốt trồng thay thế các giống dâu cũ để tăng năng suất và chất lượng

quy mô từ 20 – 40 con, 41 trang trại chăn nuôi gia cầm có quy mô trên 1000
con. Hiệu quả chăn nuôi theo hình thức này bước đầu đạt khá, đã tạo được
khối lượng hàng hoá lớn, tập trung, hiện đang được hộ nông dân quan tâm
đầu tư mở rộng sản xuất gắn với áp dụng kỹ thuật - công nghệ tiên tiến như
chuồng lồng, hệ thống làm mát, xây dựng bể Biogas vừa tạo khí đốt, vừa làm
sạch môi trường. Kết quả cụ thể như sau:
a - Chăn nuôi lợn
Chăn nuôi lợn là thế mạnh truyền thống của Vĩnh Phúc. Từ năm 2002,
trên địa bàn tỉnh đã triển khai một số dự án cải tạo giống và phát triển chăn
nuôi lợn hướng nạc, sản xuất giống và chăn nuôi lợn ngoại bước đầu thu được
kết quả tốt, đã xuất hiện nhiều mô hình chăn nuôi công nghiệp với quy mô
hàng trăm nái có thu nhập cao. Tổng đàn lợn năm 2007 đã đạt 551,6 ngàn con
(tăng 18,1% so với năm 2002). Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng tăng mạnh,
giai đoạn 2003 – 2007 có tốc độ tăng bình quân 15,9%/năm; năm 2007 đạt

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
62
61,8 ngàn tấn, gấp 2,1 lần so với năm 2002. Mỗi năm Vĩnh Phúc đã cung cấp
từ 30-35 ngàn tấn thịt lợn hơi cho các thị trường lân cận[2],[3].

Bảng 2.12: KẾT QUẢ NGÀNH CHĂN NUÔI TỈNH VĨNH PHÚC
GIAI ĐOẠN (2003-2007)
STT

Chỉ tiêu

Đơn vị
tính
Năm
2003


trong đó : bò lai
"
34,27
80,1
102,126
30,17

Tỷ lệ
%
28,2%
53,5%
61,4%
19,46

+ Bò sữa

908
994
718
3,15
3
Tổng đàn lợn
ngàn con
496,2
549
551,57
3,39
4
Tổng đàn gia cầm

42290
52900,5
61808
15,92
4
Thịt gia cầm
"
11151
13292
14523,7
14,52

Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc
b - Chăn nuôi trâu, bò
Những năm gần đây, đàn trâu trên địa bàn tỉnh có xu hướng giảm dần
do tỷ lệ cơ giới hoá trong khâu làm đất tăng, nhu cầu sức kéo giảm và hiệu
quả chăn nuôi trâu không cao. Năm 2007 toàn tỉnh có 26,7 ngàn con trâu,
giảm 20% so năm 2002; trong đó, trâu trưởng thành chiếm 70,6% tổng đàn,
trọng lượng bình quân đạt 250 kg/con, sản lượng thịt trâu xuất chuồng năm
2007 đạt 1.079 tấn, tăng bình quân 10,8%/năm.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
63
Đàn bò: được xác định là một trong các con vật nuôi chủ lực trong quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đàn bò đã phát triển mạnh ở
hầu hết các huyện, thành, thị trong tỉnh. Giai đoạn 2003–2007, tổng đàn bò
tăng bình quân 9%/năm, năm 2007 đạt 166,2 ngàn con, tăng 53,6% (=58 ngàn
con) so với năm 2002; Sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng tăng 27,25%/năm,
năm 2007 đạt 4,21 ngàn tấn, tăng 3,3 lần so năm 2002. Thời gian qua, cùng
với việc gia tăng về số lượng, chất lượng đàn không ngừng được nâng cao về

Cùng với sự phát triển các lĩnh vực sản xuất, hoạt động dịch vụ cũng
có sự tăng trưởng khá. Giai đoạn 2003 – 2007, giá trị sản xuất dịch vụ nông
nghiệp tăng bình quân 7,3%/năm; Kết quả một số hoạt động dịch vụ cụ thể
như sau:
- Dịch vụ làm đất: Do tình trạng ruộng đất manh mún còn phổ biến nên
việc áp dụng cơ giới hoá trong khâu làm đất còn rất thấp. Năm 2007, mới chỉ
có 48,7 ngàn ha gieo trồng được thực hiện dịch vụ làm đất, chiếm 43,4% tổng
diện tích gieo trồng, còn 62,3 ngàn ha gieo trồng vẫn được bà con nông dân tự
làm. Giá trị sản xuất của dịch vụ làm đất mới chỉ chiếm 23% trong giá trị sản
xuất ngành dịch vụ sản xuất nông nghiệp [4].
- Sản xuất, kinh doanh giống cây trồng, vật nuôi được thực hiện tốt
trong thời gian qua. Các đơn vị được giao đã cung ứng đủ giống tốt phục vụ
sản xuất. Công tác quản lý nhà nước về giống cây trồng, vật nuôi được tăng
cường nên chất lượng các loại giống cây, con trên địa bàn tỉnh được đảm bảo.
- Dịch vụ tiêu thụ nông sản hàng hoá: Do hoạt động của HTX dịch vụ
nông nghiệp còn yếu, vốn ít, mới chỉ thực hiện được một số khâu dịch vụ như
thuỷ lợi, điện, bảo vệ sản xuất… chưa tổ chức được dịch vụ tiêu thụ sản phẩm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
65
cho nông dân, nên việc tiêu thụ nông sản hàng hoá trên địa bàn tỉnh chủ yếu
thông qua các doanh nghiệp, hộ kinh doanh trong tỉnh.
- Công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư trên địa bàn luôn được
các cấp, các ngành chú trọng, coi đây là lĩnh vực quan trọng thúc đẩy sản xuất
phát triển. Toàn bộ các xã trên địa bàn tỉnh đều thành lập các tổ khuyến nông
cơ sở, mỗi tổ 3 người, phụ cấp do ngân sách tỉnh chi trả (200 ngàn
đồng/người/tháng). Hoạt động của khuyến nông cơ sở những năm qua đã đi
vào nề nếp và hoạt động có hiệu quả, góp phần tích cực trong thực hiện
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển nông nghiệp - nông thôn. Tuy nhiên,
trong quá trình hoạt động, khuyến nông cơ sở đã bộc lộ một số khó khăn như:

quá trình phát triển nông nghiệp những năm tới.
2.4.2. Kết quả sản xuất ngành lâm nghiệp
Sản xuất lâm nghiệp trong những năm gần đây có xu hướng giảm sút,
bình quân giai đoạn 2003–2007 giá trị sản xuất giảm 2,9%/năm, trong đó
giảm mạnh nhất là giá trị sản xuất trồng và nuôi rừng (-7,1%/năm), khai thác
gỗ và lâm sản giảm 4,4%/năm. Năm 2007, giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt
37,4 tỷ đồng, trong đó, trồng và nuôi rừng 4,13 tỷ đồng, khai thác lâm sản
26,27đồng, dịch vụ lâm nghiệp 7 tỷ đồng. Tỷ trọng lâm nghiệp trong cơ cấu
giá trị sản xuất ngành nông lâm nghiệp thuỷ sản giảm từ 2,2% năm 2002
xuống còn 1% năm 2007(giá thực tế)[3].
Nguyên nhân do những năm trước đây, công tác trồng và nuôi trừng
được Nhà nước đầu tư qua chương trình 327 và chương trình 5 triệu ha rừng,
diện tích trồng mới và chăm sóc, bảo vệ rừng đạt kết quả khá. Đến nay, diện
tích đất lâm nghiệp chưa có rừng do tỉnh quản lý chỉ còn 2.216 ha ở những
nơi không thuận lợi, do vậy, việc trồng mới rừng gần đây giảm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status