MỞ ĐẦU
Với mục tiêu thoát khỏi nước kém phát triển trước năm 2010 và cơ bản
trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, nước ta đòi
hỏi phải có một lượng vốn đầu tư khổng lồ. Trước nhu cầu đó thì ngoài việc
thu hút vốn đầu tư trong nước còn phải thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Vốn
đầu tư nước ngoài có nhiều nguồn: nguồn đầu tư trực tiếp (FDI), nguồn vốn
đầu tư hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), nguồn đầu tư gián tiếp thông qua
thị trường chứng khoán … Trong các nguồn vốn đầu tư nước ngoài, nguồn
ODA tuy có lãi suất thấp, thời gian vay dài nhưng đó thực chất là nguồn vốn
đi vay nên nếu sử dụng không có hiệu quả thì nợ nần sẽ để lại cho thế hệ sau
này. Nguồn đầu tư gián tiếp thông qua thị trường chứng khoán là nguồn tài
chính ngắn hạn, đưa vào nhanh nhưng cũng rút đi rất nhanh điều này có thể
làm bất ổn định trong thị trường vốn. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI) là nguồn đầu tư dài hạn, nhà đầu tư tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi, đóng
góp vào nền kinh tế về vốn, về thu hút lao động làm việc, đóng góp vào ngân
sách, chuyển giao công nghệ… Từ đó ta thấy dòng vốn FDI có một ý nghĩa
quan trọng, nó không những giúp ta giải quyết được vấn đề thiếu vốn đầu tư
mà còn có tác dụng nhiều mặt như: giải quyết việc làm, lao động; mở rộng
các mặt hàng trên thị trường và đây là một kênh có hiệu quả để thực hiện
chiến lược chuyển giao công nghệ ở Việt Nam. Trước những ý nghĩa quan
trọng của dòng vốn FDI như vậy em đã quyết định nghiên cứu đề tài: Kế
hoạch thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giai đoạn 2006 –
2010 của Việt Nam.1
NỘI DUNG
Chương I. Cơ sở lý lụân và thực tiễn về kế hoạch vốn FDI.
I. Tổng qua vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
1.Các khái niệm.
Vốn đầu tư là các chi phí bỏ ra để làm gia tăng quy mô của vốn sản xuất.
nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn,
có tư cách pháp nhân theo pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư.
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của
nhà đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước
ngoài (tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài ) do nhà đầu tư nước ngoài thành lập
tại nước tiếp nhận đầu tư, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản
xuất, kinh doanh.
II. Các lợi ích của vốn FDI.
1. FDI bổ sung nguồn vốn trong nước.
Cũng như các nước đang phát triển và có nền kinh tế chuyển đổi, Việt
Nam đang đứng trước hai vấn đề quan trọng có liên quan đến có liên quan
đến vốn đầu tư để đảm bảo tốc độ tăng trưởng. Tỷ lệ huy động vốn trong
nước thông qua kênh tiết kiệm và các khoản thu của Nhà nước không đáp ứng
được nhu cầu vốn đầu tư. Để giải quyết vấn đề thiếu vốn đầu tư trên bằng
cách thu hút vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có vốn FDI.
Nhiều công trình nghiên cứu của thế giới đã chỉ ra rằng, FDI nói chung
và nhất là FDI từ các công ty xuyên quốc gia có tác động: Kích thích các công
ty khác tham gia đầu tư vào nước chủ nhà; Là một tác nhân để thu hút vốn
viện trợ phát triển (ODA) từ các nước và các tổ chức quốc tế; Gia tăng tốc độ
tăng trưởng kinh tế và do đó tăng tỷ lệ huy động vốn trong nước.
So với đầu tư gián tiếp và vay thương mại thì FDI là dòng vốn ổn định
hơn lại được các nhà đầu tư cam kết lâu dài, mà vịêc trả các khoản tiền vay
quốc tế cũng thuận lợi hơn đối với nước chủ nhà.
3
Hoạt động FDI cũng có quan hệ với thị trường vốn trong nứơc. FDI cung
cấp phương tiện để kích thích thị trường vốn hoạt động, đồng thời hoạt động
của các doanh nghiệp FDI thúc đẩy thương mại quốc tế, tạo ra các nguồn
ngoại tệ thặng dư cho thị trường vốn trong nước; hơn nữa, nếu có chính sách
đúng đắn, cho các doanh nghiệp FDI tham gia vào thị trường chứng khoán sẽ
xuất khẩu.
Trong những năm đầu thời kỳ đổi mới và mở cửa, phần lớn các doanh
nghiệp FDI trong lĩnh vực chế tạo có khuynh hướng sản xuất cho thị trường
trong nước. Thời kỳ 1988-1990, chỉ có khoảng 20% dự án được phê chuẩn có
tỷ lệ sản phẩm xuất khẩu trên 50%; Thời kỳ 1991-1997, tỷ lệ này tăng dần và
sau năm 1997 đã đạt đến trên 70% dự án FDI có sản phẩm xuất khẩu từ 50%
trở lên.
4. FDI với việc làm và nguồn nhân lực.
Việt Nam đã có trên 45 vạn người lao động có việc làm trực tiếp trong
các doanh nghiệp FDI với mức thu nhập trung bình cao hơn 2 lần so với các
doanh nghiệp khác cùng nghành nghề. Đó là chưa kể hàng triệu việc làm
được tạo ra trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, dịch vụ cung ứng hàng hoá, phân
phối sản phẩm, tiếp thị … Vấn đề có liên quan đến việc làm là tạo nguồn
nhân lực cho đất nước trong quá trình công nghiệp hoá. Con số trên 45 vạn
người chưa phải là nhiều so với nhu cầu cần có việc làm mỗi năm từ 1.2 -1.3
triệu người ở Việt Nam. Nhưng quan trọng hơn là só lao động này được tiếp
cận với công nghệ hiện đại, đáp ứng được yêu cầu của phương thức sản xúất
tiên tiến, có kỷ luật lao động cao, một số chuyên gia trong nước đã có thể thay
thế dần và có hiệu quả trong quản trị doanh nghiệp, trong tiếp thị, làm chủ các
quy trình công nghệ …
5. FDI với hiệu quả kinh tế - xã hội tổng quát
FDI còn có tác động đến những chỉ tiêu tổng quát về kinh tế - xã hội,
như tăng năng suất lao động xã hội, cán cân thanh toán quốc tế, các định chế
tiền tệ, tín dụng, đóng góp vào nguồn thu của ngân sách, góp phần làm thay
đổi phương thức làm việc, cải thiện môi trường sống của xã hội.
5
Đối với các nước đang phát triển như nước ta thì FDI có tác động đến
cán cân thanh toán quốc tế lớn hơn nhiều so với các nước công nghiệp phát
triển. FDI đóng vai trò kích thích việc cải cách và hoàn thiện thể chế tiền tệ,
b. Những chính sách đã áp dụng nhằm khuyến khích đầu tư trực tiếp
nước ngoài vào Trung Quốc
* Mở rộng địa bàn thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từng bước,
nhiều tầng, ra mọi hướng.
Trung Quốc đã tiến hành mở cửa từng khu vực, bắt đầu từ việc thành lập
5 lập đặc khi kinh tế, sau đó là việc mở cửa thành phố ven biển, 13 thành phố
ven biên giới nhằm mở rộng thương mại và đầu tư vùng biên.
* Môi trường luật pháp.
Cho đến nay Trung Quốc đã ban hành trên 500 văn bản gồm các bộ luật
và pháp quy liên quan đến thương mại và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Luật pháp được xây dựng trên nguyên tắc: Bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng
tập quán quốc tế.
* Tạo dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho các hoạt động đầu tư
trực tiếp nước ngoài.
Các chủ trương, biện pháp được hướng vào cải tạo cơ sở hạ tầng, thực
hiện các ưu đãi ( như ưư đãi thuế đối với khu vực đầu tư, ưu đãi thuế theo kỳ
hạn kinh doanh và ưu đãi thuế trong tái đầu tư), đa dạng hoá các hình thức
đầu tư và chủ đầu tư.
2. Vận dụng kinh nghiệm của Trung Quốc vào việc hoàn thiện chính
sánh thu hút FDI của Việt Nam.
* Mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài từng bước, theo từng lĩnh vực.
Trung Quốc đã thực hiện mở cửa dần từng bước theo liệu pháp “dò đá
qua sông”, dễ trước khó sau, tiến dần từng bước, giảm bớt rủi ro nên tránh
được những va chạm lớnvà sự phân hoá hai cực nhanh.
Từ bài học kinh nghiệm này và muốn cho hoạt động FDI của Việt Nam
trong những năm đầu gia nhập WTO đạt hiệu quả, thì ta cũng nên mở dần
từng bước, theo từng lĩnh vực và điều cần chu ý tránh nhận đầu tư ồ ạt sẽ gây
7
nóng, vượt qua sự kiểm soát của cơ quan chính quyền. Điều này sẽ ảnh hưởng
Về cải cách thủ tục hành chính, Trung Quốc thực hiện chế độ phân cấp
ra quyết định đầu tư cho các tỉnh, thành phố, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho
các nhà đầu tư về thời gian, chi phí trong việc làm thủ tục xin đầu tư. Mặt trái
của sự phân cấp này là phát sinh mâu thuẫn giữa lợi ích địa phương và lợi ích
quốc gia, tạo nên nạn quan liêu trì trệ, hối lộ tham nhũng trong hàng ngũ cán
bộ làm công tác đầu tư. Vì vậy, cần nâng cao vai trò hiệu lực và hiệu quả của
nhà nứơc trong việc kiểm tra, kiểm soát, giám sát mọi hoạt động liên quan
đến đầu tư nước ngoài.
Chính phủ Việt Nam cần phải thường xuyên cải thiện môi trừong đầu tư
như: Luật đầu tư nước ngoài và các bộ luật khác có liên quan; xây dựng và
hoàn thiện cơ sở hạ tầng kinh tế, ổn định môi trường chính trị - xã hội, các
vấn đề thuộc chính sách thuế, tài chính, ngân hàng, thị trường và tiêu thụ sản
phẩm…
9
Chương II thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt
Nam giai đoạn 2001-2005
I . Kết quả thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam
giai đoạn 2001-2005
1. Đặc điểm tình hình chung của giai đoạn 2001-2005
1.1. Thuận lợi
* Về trong nước:
- Tình hình kinh tế chính trị xã hội nước ta tiếp tục ổn định và nền kinh
tế tiếp tục tăng trưởng nhanh đã tạo ra thế và lực mới cho nền kinh tế Việt
Nam. Giai đoạn này, nền kinh tế Việt Nam vẫn duy trì được tốc độ tăng
trưởng khá cao. GDP tăng bình quân 7.4% /năm, riêng năm 2005 đạt mức
tăng trưởng 8.4%, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 16.5%, giá trị sản xuất
ngành dịch vụ tăng 8.7%, tổng khả năng xuất khẩu tăng 20% , tạo thêm được
1.6 triệu việc lam mới. Năm 2005, khu vực kinh tế này đóng góp khoảng
15.5%GDP, 37%giá trị sản xuất công nghiệp và 55%khả năng xuất khẩu của
- Vốn FDI đã chuyển mạnh sang các nền kinh tế đang phát triển, đặc biệt
là các nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh, và các nền kinh tế mới nổi để
giảm chi phí đầu tư và tiếp cận đến các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang
tăng giá đột biến trên thị trường thế giới để khai thác phục vụ cho quá trình
sản xuất kinh doanh tại các nền kinh tế đó.
1.2. Khó khăn
* Về trong nước
- Là giai đoạn đầu thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-
2010. Mục tiêu phát triển đặt ra trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai
đoạn này khó thực hiện hơn giai đoạn trước vì những yếu tố phát triển nền
kinh tế theo chiều sâu.
- Là giai đoạn Việt Nam hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế khu vực và
toàn cầu. Mức độ cạnh tranh ở thị trường trong nước ngày càng gay gắt, gây
bất lợi cho các doanh nghiệp FDI.
11
- Thiên tai dịch bệnh ảnh hưởng không nhò đến hoạt động kinh doanh
của các doanh nghiệp FDI.
- Một số Nghị định của Chính phủ ban hành và có hiệu lực ban hành
trong thời gian gần đây đã bắt đầu gây ra một số khó khăn cho hoạt động FDI
.
* Về quốc tế
- Sức ép cạnh tranh quốc tế gia tăng cùng với tiến trình hội nhập là thách
thức to lớn đối với nền kinh tế còn yếu về tiềm lực kinh tế và sức cạnh tranh
như Việt Nam.
- Biến động bất thường của thị trường thế giới về giá cả một số nguyên
liệu nhập khẩu đã ảnh hưởng khá lớn đến kết quả kinh doanh của các doanh
nghiệp FDI.
Những đặc điểm trên cũng ảnh hưởng đồng thời lên hoạt động thu hút và
triển khai các dự án FDI ở Việt Nam.
%tỏng
vdt xh
% 17.6 17.3 16.3 16.1 16.3
nguồn: kế hoạch phát triển kt –xh 5 năm 2006-2010
Vốn đăng ký (vdk) năm 2001 bằng 123% so với năm 2000. Hai năm tiếp
theo vốn tiếp tục giảm: năm 2002 vdk chỉ bằng 88% so với năm 2001, năm
2003 chỉ bằng 96.6% so với năm 2002. Chỉ sang năm 2004 FDI mới thực sự
bắt đầu phục hồi đạt hơn 4.2 tỷ USD nhưng vẫn chưa đạt được con số của
năm 1998, và đến cuối năm 2005, FDI tăng gần 40% đạt 5.9 tỷ USD nhưng
vẫn chỉ xấp xỉ con số của năm 1997 (đây là năm FDI chịu tác động rõ rệt của
cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực). Giai đoạn 2001-2005, cả nước
đã thu hút được khoảng gần19.3 tỷ USD vốn FDI mới, giảm 24% so với
25.37 tỷ USD giai đoạn 1996-2000. Trong đó, vốn cấp mới chỉ bằng có 60%
giai đoạn 1996-2000, tăng vốn gấp 1.7 lần và vốn giải thể chỉ bằng 75%so với
giai đoạn trước. Vốn còn hiệu lực tính cho đến cuối năm 2005 là khoảng 50 tỷ
USD. Nếu tính chung cho cả vốn cấp mới và tăng vốn thì thời kỳ 2001-2005
chỉ hơn thời kỳ 1996-2000 gần 3%. Sản xuất công nghiệp của khu vực có vốn
FDI năm 2005 tằng 21%, cao hơn mức tăng trưởng chung của công nghiệp cả
nước là 16.5%. Thành quả này có được chủ yếu là do thị trường xuất khẩu của
một số sản phẩm công nghiệp được mở rộng, giá dầu thô tăng cao và có thêm
nhiều doanh nghiệp FDI mới đi vào hoạt động. Trong giai đoạn này khu vực
có vốn FDI xuất siêu khoảng 5.8 tỷ USD(riêng năm 2005 Xuất siêu khoảng
13
2.8 tỷ USD). Tỷ trọng đóng của FDI vào GDP bình quân giai đoạn 2001-2005
đạt 14.36% , trong khi giai đoạn 1996-2000 bình quân chỉ đạt 10.2%. Nộp
ngân sách giai đoạn 2001-2005 gấp 2.38 lần giai đoạn 1996-2000.
Riêng năm 2005, trên địa bàn cả nước có 922 dự án FDI mới được cấp
giấy phếp đầu tư với số vốn đầu tư đăng ký đạt hơn 4 tỷ USD, tăng 24% số dự
án và 61.2% vốn đầu tư so với năm 2004. Đó là sự tăng trưởng đột biến trong
nghiệp
789 13.08 3774878 7.4 1427350
dịch vụ 1188 19.7 16202102 31.76 7698540
(Nguồn Cục ĐTNN, Bộ kế hoạch và đầu tư)
14