báo cáo thực tập môn học tại công ty cổ phần đầu tư amp; thương mại tng thái nguyên - khoa kế toán- trường đại học kinh tế và quản trị kinh doanh thái nguyên - Pdf 20

Trường ĐH KT & QTKD  &  Khoa Kế toán
LỜI MỞ ĐẦU
Trong điều kiện nền kinh tế mở cửa hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới,
môi trường cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp mở rộng và phát
triển thị trường, giảm chi phí, nâng cao lợi nhuận. Kế toán quản trị là công cụ hữu hiệu
cho phép các nhà quản trị kiểm soát quá trình sản xuất, đánh giá hiệu quả hoạt động
của từng bộ phận trong doanh nghiệp để có các quyết định phù hợp và hiệu quả.
Mọi doanh nghiệp hoạt động vì mục đích lợi nhuận đều hướng đến mục tiêu tối
đa hóa lợi nhuận, trong đó mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận (C – V – P)
với các biến số có quan hệ hữu cơ với nhau luôn là nỗi trăn trở của các nhà quản lý
trong quá trình điều hành doanh nghiệp. Khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ là
yếu tố đầu tiên tạo nên sự thay đổi của chi phí và gây nên hiệu ứng thay đổi của lợi
nhuận. Phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận có ý nghĩa quan trọng
trong việc khai thác khả năng tiềm tàng của công ty, là cơ sở để đưa ra các quyết định
như: chọn dây chuyền sản xuất, định giá sản phẩm, chiến lược bán hàng…
Trong thời gian thực tế tại công ty cổ phần đầu tư và thương mại TNG Thái
Nguyên, dựa trên tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh thực tế kết hợp với các kiến
thức đã học, em chọn đề tài “Phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận”
để nghiên cứu. Bằng phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu… kết hợp tham khảo
tài liệu, em sẽ phân tích mối quan hệ nội tại của các nhân tố: giá bán, sản lượng, chi
phí khả biến, chi phí bất biến và kết cấu mặt hàng, đồng thời xem xét sự ảnh hưởng
của các nhân tố đó đến lợi nhuận của công ty, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện công
tác kiểm soát chi phí và nâng cao lợi nhuận của công ty.
GVHD: Th.S Nguyễn Phương Thảo 1 Nhóm 0_ K5KTTH
Trường ĐH KT & QTKD  &  Khoa Kế toán
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ
CHI PHÍ – SẢN LƯỢNG – LỢI NHUẬN
1. KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1. Khái niệm và bản chất của kế toán quản trị.
1.1.1. Khái niệm
Xuất phát điểm của kế toán quản trị là kế toán chi phí, nghiên cứu chủ yếu về quá

- Mục đích sử dụng thông tin là để hoạch định và kiểm soát các hoạt động của
tổ chức, đơn vị.
Từ đó có thể đưa ra khái niệm chung về kế toán quản trị là:
Kế toán quản trị là một khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp những thông tin định
lượng về hoạt động của đơn vị một cách cụ thể, giúp các nhà quản lý trong quá trình ra
các quyết định liên quan đến việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và
đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của đơn vị.
Như vậy, kế toán quản trị ra đời từ khi xuất hiện nền kinh tế thị trường. Kế toán
quản trị là loại kế toán dành cho những người làm công tác quản lý, nó được coi như
một hệ thống trợ giúp cho các nhà quản lý ra quyết định, là phương tiện để thực hiện
kiểm soát quản lý trong doanh nghiệp.
1.1.2. Bản chất của kế toán quản trị
- Kế toán quản trị không chỉ thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin về
nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh đã thực sự hoàn thành, đã ghi chép hệ thông hóa
trong sổ sách kế toán mà còn xử lý và cung cấp các thông tin phục vụ cho việc lập các
dự toán, quyết định các phương án kinh doanh.
- Kế toán quản trị chỉ cung cấp các thông tin về các hoạt động tài chính trong
phạm vi yêu cầu quản lý nội bộ của doanh nghiệp. Những thông tin đó chỉ có ý nghĩa
đối với những bộ phận, những người điều hành, quản lý doanh nghiệp, không có ý
nghĩa đối với những đối tượng bên ngoài. Vì vậy, kế toán quản trị được hiểu là loại kế
toán dành cho những người làm công tác quản lý của một doanh nghiệp.
- Kế toán quản trị là một bộ phận của công tác kế toán nói chung và là một bộ
phận không thể thiếu được để kế toán thực sự trở thành công cụ quản lý.
1.2. Vai trò, mục đích và nguyên tắc của kế toán quản trị.
1.2.1. Vai trò của kế toán quản trị trong việc thực hiện chức năng quản lý ở doanh
nghiệp.
GVHD: Th.S Nguyễn Phương Thảo 3 Nhóm 0_ K5KTTH
Trường ĐH KT & QTKD  &  Khoa Kế toán
Trách nhiệm của nhà quản trị các cấp trong doanh nghiệp là điều hành và quản lý
các mặt hoạt động của doanh nghiệp. Các chức năng cơ bản của quản lý doanh nghiệp,

1.2.1.2. Trong giai đoạn tổ chức thực hiện
Trong khâu tổ chức thực hiện, các nhà quản trị phải biết cách liên kết tốt nhất
giữa các yếu tố, tổ chức, con người và các nguồn lực sao cho kế hoạch được thực hiện
ở mức cao nhất và hiệu quả nhất.
Kế toán quản trị có vai trò thu thập và cung cấp các thông tin đã và đang thực
hiện để phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh của nhà quản trị và chỉ đạo thực
hiện các quyết định ( như các quyết định ngắn hạn: Quyết định loại bỏ hoặc tiếp tục
duy trì kinh doanh một bộ phận nào đó; quyết định tự sản xuất hay mua; quyết định
nên bán ngay nửa thành phẩm hay tiếp tục chế biến… hoặc các quyết định dài hạn
khác…). Ngoài ra, còn thu thập thông tin thực hiện để phục vụ cho việc kiểm tra đánh
giá sau này.
1.2.1.3. Trong giai đoạn kiểm tra và đánh giá
Nhà quản trị sau khi đã lập kế hoạch đầy đủ và hợp lý, tổ chức thực hiện kế
hoạch, đòi hỏi phải kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch. Phương pháp thường
dùng là so sánh số liệu thực hiện với số liệu của kế hoạch và dự toán, xác định những
sai biệt giữa kết quả đạt được với các mục tiêu đã đề ra. Do đó, kế toán quản trị có vai
trò cung cấp thông tin thực hiện từng bộ phận; giúp nhà quản lý nhận diện và đánh giá
kết quả thực hiện; những vấn đề còn tồn tại và cần có tác động của quản lý; đồng thời
phục vụ cho việc lập kế hoạch, dự toán tiếp kỳ sau.
1.2.1.4. Trong khâu ra quyết định
Phần lớn thông tin do kế toán quản trị cung cấp nhằm giúp các nhà quản trị ra
quyết định. Đó là một chức năng quan trọng, xuyên suốt các khâu quản trị doanh
nghiệp, từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, đến kiểm tra, đánh giá.
Kế toán quản trị có vai trò cung cấp thông tin, soạn thảo các báo cáo phân tích số
liệu, thông tin; thực hiện việc phân tích số liệu, thông tin thích hợp giữa các phương án
đưa ra để lựa chọn; tư vấn cho nhà quản trị lựa chọn phương án, quyết định phù hợp và
tối ưu nhất.
Kế toán quản trị giúp các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định không chỉ
bằng cách cung cấp thông tin thích hợp mà còn bằng cách vận dụng các kỹ thuật phân
GVHD: Th.S Nguyễn Phương Thảo 5 Nhóm 0_ K5KTTH

đích mà doanh nghiệp theo đuổi với các nguồn lực mà doanh nghiệp có thể huy động
với việc tiêu dùng các nguồn lực này ( thể hiện các chi phí ).
GVHD: Th.S Nguyễn Phương Thảo 7 Nhóm 0_ K5KTTH
Xác định mục tiêu
Lập kế hoạch
Tổ chức thực hiện
Kiểm tra, đánh giá
Chính thức hóa
thành các chỉ tiêu
kinh tế
Lập dự toán
chung và các bản
dự toán chi tiết
Thu thập kết quả
thực hiện
Soạn thảo báo cáo
thực hiện
Quá trình kế toán
Trường ĐH KT & QTKD  &  Khoa Kế toán
Mục đích mà doanh nghiệp theo đuổi có thể là:
 Bán được một khối lượng sản phẩm nào đó.
 Tôn trọng và thực hiện một thời hạn giao hàng cụ thể.
 Khả năng giải quyết vấn đề nào đó tại hiện trường trong một khoảng thời
gian nhất định…
1.2.2.2. Mục tiêu tìm cách tối ưu hóa mối quan hệ chi phí với giá trị ( lợi ích ) mà chi
phí đó tạo ra.
Bất kể khi quyết định lựa chọn phương án tối ưu của nhà quản trị, bao giờ cũng
quan tâm đến hiệu quả kinh tế của phương án mang lại, vì vậy, kế toán quản trị phải
tìm cách tối ưu hóa mối quan hệ giữa chi phí và lợi ích của phương án lựa chọn. Tuy
nhiên, không có nghĩa là mục tiêu duy nhất là luôn luôn hạ thấp chi phí.

tình huống, từng đơn vị,
không bắt buộc tuân theo
các nguyên tăc, chuẩn mực
kế toán chung, các quy định
của nhà nước về kế toán
quản trị( nếu có) cũng chỉ là
hướng dẫn.
Tính pháp lý
- Có tính pháo lệnh, tuân
theo quy định thống nhất
của Luật, chế độ kế toán.
- Tùy thuộc đơn vị, mang tính
nội bộ và thuộc thẩm quyền
của nhà quản lý đơn vị.
Đặc điểm thông tin
- Chủ yếu dưới hình thức
giá trị, thông tin thực hiện
về những giao dịch, nghiệp
vụ đã phát sinh.
- Thu thập từ chứng từ ban
đầu, qua quá trình ghi sổ,
tổng hợp báo cáo.
- Cả hình thức giá trị, hiện
vật, lao dộng; thông tin chủ
yếu hướng tới tương lại
(hướng tới những sự kiện
chưa phát sinh – sẽ phát sinh).
- Thông tin thường có sẵn,
nên phải thu thập từ nhiều
nguồn ( dựa vào hệ thông ghi

quản lý. Kế toán tài chính biểu hiện trách nhiệm của người quản lý cao cấp còn kế toán
quản trị biểu hiện trách nhiệm của nhà quản trị các cấp bên trong doanh nghiệp.
1.4. Nội dung của kế toán quản trị trong doanh nghiệp
1.4.1. Nội dung kế toán quản trị theo quá trình quản lý
Việc xác định nội dung của kế toán quản trị là một vấn đề phức tạp và đang có
nhiều ý kiến khác nhau. Tuy nhiên, khi xác định nội dung của kế toán quản trị cần phải
xem xét các yêu cầu cụ thể của nó, đồng thời phải xem xét trong mối tương quan với
kế toán tài chính để đảm bảo cho kế toán quản trị không trùng lặp với kế toán chi tiết
thuộc kế toán tài chính và phát huy được tác dụng đích thực của nó trong công tác
quản trị doanh nghiệp.
1.4.1.1. Xét theo nội dung các thông tin mà kế toán quản trị cung cấp.
Có thể khát quát kế toán quản trị trong doanh nghiệp bao gồm:
GVHD: Th.S Nguyễn Phương Thảo 10 Nhóm 0_ K5KTTH
Trường ĐH KT & QTKD  &  Khoa Kế toán
- Kế toán quản trị các yếu tố sản xuất kinh doanh ( mua sắm, sử dụng đối tượng
lao động – hàng tồn kho; tư liệu lao động – tài sản cố định; tuyển dụng và sử dụng lao
động – lao động và tiền lương…)
- Kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm ( nhận diện, phân loại chi phí,
giá thành; lập dự toán chi phí; tập hợp, tính toán, phân bổ chi phí, giá thành; lập báo
cáo phân tích chi phí theo bộ phận, theo tình huống quyết định…)
- Kế toán quản trị các khoản nợ.
- Kế toán quản trị về các hoạt động đầu tư tài chính.
- Kế toán quản trị các hoạt động khác của doanh nghiệp.
Trong các chỉ tiêu nói trên, trọng tâm của kế toán quản trị là lĩnh vực chi phí. Vì
vây, một số tác giả cho rằng kế toán quản trị là kế toán chi phí.
1.4.1.2. Xét theo quá trình kế toán quản trị trong mối quan hệ với chức năng quản lý
Kế toán quản trị bao gồm các khâu:
- Chính thức hóa các mục tiêu của đơn vị thành các chỉ tiêu kinh tế.
- Lập dự toán chung và các dự toán chi tiết.
- Thu nhập, cung cấp thông tin về kết quả thực hiện các mục tiêu.

Phương trình tổng chi phí:
CP = a + bx
Trong đó: a là tổng định phí, b là biến phí đơn vị,
x là số lượng sản phẩm sản xuất
hoặc tiêu thụ.
Phương trình tổng lợi nhuận:
LN = px – bx – a = ( p – b)x – a
( p là đơn giá bán)
1.4.2.4. Trình bày thông tin dưới dạng đồ thị
Để trình bày thông tin định lượng và mối quan hệ giữa các yếu tố đại lượng liên
quan, thông thường kế toán quản trị sử dụng cách trình bày dạng đồ thị toán học. Đồ
thị là cách thể hiện dễ thấy và rõ ràng nhất mối quan hệ và xu hướng biến thiên mang
tính quy luật của các thông tin do kế toán quản trị cung cấp và xử lý.
GVHD: Th.S Nguyễn Phương Thảo 12 Nhóm 0_ K5KTTH
Trường ĐH KT & QTKD  &  Khoa Kế toán
Đồ thị 01 : Đồ thị biểu diễn mối quan hệ chi phí
và khối lượng sản phẩm.
( 1) Đường tổng CP
(2) Đường biến phí
(3) Đường định phí
1.5. Phân loại chi phí
1.5.1 Khái quát về Chi phí:
1.5.1.1 Chi phí theo quan điểm kế toán tài chính.
Chí phí sản xuất – kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí mà
doanh nghiệp phải tiêu dùng trong một kỳ để thực hiện quá trình sản xuất, tiêu thụ sản
phẩm. Thực chất chi phí là sự chuyển dịch vốn – chuyển dịch giá trị của các yếu tố sản
xuất vào các đối tượng tính giá (sản phẩm, lao vụ, dịch vụ).
1.5.1.2 Chi phí theo kế toán quản trị
Khác với kế toán tài chính, trong kế toán quản trị khái niệm chi phí được sử dụng
theo nhiều cách khác nhau, lý do là vì có rất nhiều loại chi phí khác nhau và những

yếu tạo thành thực thể của sản xuất. Hay nguyên vật liệu trực tiếp là những yếu tố vật
chất tạo nân thành phần chính của sản phẩm sản xuất ra.
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (tài khoản 621) là chi phí của nguyên vật liệu
được xuất ra sử dụng trực tiếp vào việc chế tạo, sản xuất sản phẩm, cấu thành nên thực thể
của sản phẩm.
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp này thường chiếm một tỷ trọng cao trong chi phí
sản phẩm và thường không thể thay thế được trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Ngoài chi phí nguyên vật liệu trực tiếp ( chi phí nguyên vật liệu chính), thì trong
quá trình sản xuất còn phát sinh những chi phí nguyên vật liệu phụ khác, cũng tham
gia trực tiếp trong quá trình sản xuất ra sản phẩm, nó kết hợp với nguyên vật liệu chính
để sản xuất ra sản phẩm, hoặc chỉ tham gia để tạo ra màu sắc, mùi vị của sản phẩm,
hoặc làm rút ngắn chu kỳ sản xuất của sản phẩm. Chẳng hạn như: Nhiên liệu, các chất
phụ gia trong chế biến dầu nhờn, màng nhôm trong sản xuất dược phẩm, sơn trong sản
xuất các dụng cụ cơ khí, vẹc ni dựng để đánh bóng sản phẩm gỗ, đinh vít trong bàn
ghế đồ gia dụng bằng gỗ
GVHD: Th.S Nguyễn Phương Thảo 14 Nhóm 0_ K5KTTH
Trường ĐH KT & QTKD  &  Khoa Kế toán
 Chi phí nhân công trực tiếp (Direct labour costs)
- Nhân công trực tiếp là những người trực tiếp sản xuất sản phẩm, lao động của
họ gắn liền với việc sản xuất ra sản phẩm, sức lao động của họ được hao phí trực tiếp
cho sản phẩm họ sản xuất ra. Khả năng và kỹ năng của lao động trực tiếp sẽ ảnh
hưởng đến số lượng và chất lượng của sản phẩm.
- Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm:
+/ Chi phí về tiền lương của công nhân trực tiếp thực hiện quy trình sản xuất.
+/ Các khoản trích theo lương tính vào chi phí sản xuất của công nhân trực tiếp
thực hiện quy trình sản xuất như: Kinh phí công đoàn, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội.
Chi phí nhân công trực tiếp được tính trực tiếp vào sản phẩm của họ sản xuất ra.
Ngoài lao động trực tiếp, trong quá trình sản xuất sản phẩm còn có những lao động
phụ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất của lao động trực tiếp, những lao
động này là lao động gián tiếp. Những lao động gián tiếp này tuy không trực tiếp sản

Chi phí ngoài sản xuất
Chi phí ngoài sản xuất những chi phí phát sinh ngoài quá trình sản xuất liên quan
đến việc quản lý chung và tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, được chia thành hai loại như sau:
 Chi phí bán hàng (Selling expenses)
Chi phí bán hàng (chi phí lưu thông) là những dòng phí tổn cần thiết liên quan
đến việc dự trữ và tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, để đảm bảo cho việc thực hiện chính
sách bán hàng. Khoản mục chi phí bán hàng thường bao gồm các chi phí cụ thể sau:
- Chi phí về lương và các khoản trích theo lương tính vào chi phí của toàn bộ lao
động trực tiếp hay quản lý trong hoạt động bán hàng, vận chuyển hàng hóa tiêu thụ.
GVHD: Th.S Nguyễn Phương Thảo 16 Nhóm 0_ K5KTTH
Trường ĐH KT & QTKD  &  Khoa Kế toán
- Chi phí về nguyên vật liệu, nhiên liệu dùng trong việc bán hàng, vận chuyển
hàng hóa tiêu thụ.
- Chi phí về công cụ, dụng cụ dùng trong việc bán hàng như: bao bì sử dụng luân
chuyển, các công cụ dụng cụ là đồ dùng, các quầy hàng
- Chi phí khấu hao thiết bị và tài sản cố định dùng trong việc bán hàng như:
Thiết bị đông lạnh, nhà xưởng, phương tiện vận chuyển, cửa hàng, nhà kho
- Chi phí thuê ngoài liên quan đến việc bán hàng như: Chi phí hội chợ, triển lãm,
quảng cáo, bảo trì, bảo hành, khuyến mãi
- Các chi phí khác bằng tiền trong việc bán hàng.
 Chi phí quản lý doanh nghiệp (General and administration expenses)
Chi phí quản lý doanh nghiệp là bao gồm toàn bộ những khoản chi phí chi ra cho
việc tổ chức và quản lý sản xuất chung trong toàn doanh nghiệp bao gồm những khoản
mục chi phí sau:
- Chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương tính vào chi phí của người lao
động, quản lý ở các bộ phận, phòng ban của doanh nghiệp.
- Chi phí vật liệu, năng lượng, nhiên liệu dùng trong hành chính, quản lý văn phòng
- Chi phí công cụ, dụng cụ dùng trong công việc hành chính, quản trị văn phòng.
- Chi phí khấu hao thiết bị, tài sản cố định khác dùng trong công việc hành
chính, quản trị văn phòng.

x : mức độ hoạt động
Ta có đồ thị tổng quát về chi phí khả biến như sau:
Đồ thị 02: Đồ thị tổng quát về chi phí khả biến
 Chi phí khả biến thực thụ (biến phí tỷ lệ) - True variable costs
Chi phí khả biến thực thụ là những chi phí có sự biến động cùng tỷ lệ với mức độ
hoạt động.
GVHD: Th.S Nguyễn Phương Thảo 18 Nhóm 0_ K5KTTH
Y= ax
ĐỒ THỊ TỔNG BIẾN PHÍ
Tổng
biến
phí
Biến
phí
đơn
vị
Y = a
ĐỒ THỊ BIẾN PHÍ ĐƠN VỊ
Trường ĐH KT & QTKD  &  Khoa Kế toán
Đồ thị 03 : Đồ thị chi phí khả biến thực thụ và
chi phí khả biến dạng so sánh
Đây là loại chi phí khả biến mà sự biến động của chúng thực sự thay đổi tỷ lệ
thuận với mức độ hoạt động như: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công
trực tiếp, giá vốn hàng bán, chi phí bao bì đóng gói, chi phí hoa hồng bán hàng
 Chi phí khả biến cấp bậc (Step variable costs)
- Khác với chi phí khả biến thực thụ, chi phí khả biến cấp bậc chỉ có sự thay đổi
khi mức độ hoạt động đạt đến một giới hạn nhất định.
- Thực tế có những chi phí không biến động liên tục so với sự biến động liên
tục của mức độ hoạt động. Sự hoạt động phải đạt được ở mức độ nào đó mới dẫn đến
sự biến động về chi phí, như: Chi phí về thợ bảo trì máy móc thiết bị, chi phí điện

bậc
Trường ĐH KT & QTKD  &  Khoa Kế toán
Đồ thị 05: Đồ thị dạng phi tuyến và phạm vi phù hợp

Chi phí bất biến (Định phí) – Fixed costs
Chi phí bất biến là những chi phí mà tổng số của nó không thay đổi khi mức độ
hoạt động thay đổi.
Hay chi phí bất biến là những chi phí ít thay đổi hoặc không thay đổi theo mức
độ hoạt động của đơn vị. Nếu xét trên tổng chi phí, chi phí bất biến không thay đổi;
ngược lại nếu quan sát chúng trên một đơn vị mức độ hoạt động, chi phí bất biến tỷ lệ
nghịch với mức độ hoạt động.
Như vậy, doanh nghiệp có hoạt động hay không hoạt động thì vẫn tồn tại chi phí
bất biến. Khi doanh nghiệp gia tăng mức độ hoạt động thì chi phí bất biến trên mức độ
hoạt động sẽ giảm dần. Gọi Y là tổng chi phí bất biến, b là chi phí bất biến, ta có
phương trình chi phí bất biến Y = b và có đồ thị như sau :
GVHD: Th.S Nguyễn Phương Thảo 21 Nhóm 0_ K5KTTH
Trường ĐH KT & QTKD  &  Khoa Kế toán
Đồ thị 06: Đồ thị tổng định phí và định phí đơn vị
 Chi phí bất biến bắt buộc (Committed fixed costs)
Chi phí bất biến bắt buộc là những dòng chi phí có liên quan đến những máy
móc, thiết bị, nhà xưởng, cơ sở hạ tầng, chi phí ban quản lý, chi phí lương văn phòng,
chi phí khấu hao tài sản dài hạn, chi phí sử dụng tài sản dài hạn, chi phí liên quan đến
lương của các nhà quản trị gắn liền với cấu trúc tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh
của một doanh nghiệp.
Chi phí bất biến bắt buộc thường có hai đặc điểm sau:
- Có bản chất lâu dài : Chi phí bất biến bắt buộc, chúng tồn tại lâu dài trong
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Giả sử có một quyết định mua sắm hoặc xây dựng các loại tài sản cố định được
đưa ra thì nó sẽ liên quan, gắn liền đến việc kinh doanh của đơn vị trong nhiều năm.
- Chúng không thể cắt giảm đến bằng không ( trong thời gian ngắn ), cho dù

là các chi phí bất biến có bản chất không bắt buộc.
Đồ thị 09 : Đồ thị chi phí bất biến và phạm vi phụ thuộc

Chi phí hỗn hợp (Mixed costs)
GVHD: Th.S Nguyễn Phương Thảo 24 Nhóm 0_ K5KTTH
Trường ĐH KT & QTKD  &  Khoa Kế toán
- Ngoài những khái niệm về chi phí khả biến và chi phí bất biến đã nghiên cứu
ở trên còn một khái niệm quan trọng nữa là chi phí hỗn hợp (Mixed costs). Loại chi
phí này cũng chiếm một tỷ lệ cao khi quá trình sản xuất kinh doanh phát triển.
- Chi phí hỗn hợp là chi phí bao gồm cả yếu tố bất biến và yếu tố khả biến. Ở
mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thường thể hiện đặc điểm của chi phí bất
biến, ở mức độ hoạt động vượt quá mức căn bản nó thể hiện đặc điểm của yếu tố khả
biến. Sự pha trộn giữa phần bất biến và khả biến có thể theo những tỷ lệ nhất định.
- Như vậy, cần phải phân tích chi phí hỗn hợp để xem trong đó chi phí bất biến
là bao nhiêu và chi phí khả biến là bao nhiêu và xây dựng công thức dự đoán chi phí
như sau :
Phương trình tuyến tính dựng để lượng hoá chi phí hỗn hợp :
Y = ax + b
Trong đó :
Y : Chi phí hỗn hợp
a : Chi phí khả biến đơn vị
b : Tổng chi phí bất biến
x : Mức độ hoạt động
Đồ thị 10: Đồ thị lượng hóa chi phí hỗn hợp
GVHD: Th.S Nguyễn Phương Thảo 25 Nhóm 0_ K5KTTH
Yếu tố khả biến
Yếu tố b biến
Y
X
Đường tổng chi phí


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status