MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU …………………………………………………………………… 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
TRONG DOANH NGHIỆP …………………………………………………… 3
1.1. Tổng quan về phân tích tài chính doanh nghiệp ………………………… 3
1.1.1. Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp ……………………………… 3
1.1.2. Trình tự và các bước tiến hành phân tích tài chính ………………………… 6
1.1.3. Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính ……………………………… 6
1.1.3.1. Thông tin sử dụng trong doanh nghiệp …………………………………… 6
1.1.3.2. Thông tin ngoài doanh nghiệp ……………………………………………. 9
1.1.4. Phương pháp phân tích …………………………………………………… 10
1.1.4.1. Phương pháp so sánh …………………………………………………… 10
1.1.4.2. Phương pháp tỷ số ……………………………………………………… 12
1.1.4.3. Phương pháp phân tích DUPONT ……………………………………… 13
1.2. Nội dung phân tích tài chính ………………………………………………. 13
1.2.1. Phân tích các tỷ số tài chính ……………………………………………… 13
1.2.1.1. Tỷ số khả năng thanh toán ……………………………………………… 14
1.2.1.2. Các tỷ số về khả năng cân đối vốn …………………………………… 15
1.2.1.3. Tỷ số về khả năng hoạt động ……………………………………………. 16
1.2.1.4. Tỷ số về khả năng sinh lãi ……………………………………………… 17
1.2.2. Phân tích diễn biến vốn và sử dụng vốn (Bảng tài trợ)…………………… 19
1.2.3. Phân tích các chỉ tiêu tài chính trung gian ………………………………… 20
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác phân tích tài chính doanh nghiệp … 21
1.3.1 Nhân tố chủ quan ………………………………………………………… 21
1.3.2. Nhân tố khách quan ………………………………………………………
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ THƯƠNG MẠI TNG ………………………………. 24
2.1. Khái quát quá trình hình thành phát triển của Công ty cổ phần đâu tư
và thương mại TNG …………………………………………………………… 24
2.1.1. Qua trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương
mại TNG …………………………………………………………………………. 24
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC VIẾT TẮT
TCDN Tài chính doanh nghiệp
TSCĐ Tài sản cố định
TSLĐ Tài sản lưu động
TSNH Tài sản ngắn hạn
TSDH Tài sản dài hạn
BCTC Báo cáo tài chính
XDCB Xây dựng cơ bản
TNST Thu nhập sau thuế
SXKD Sản xuất kinh doanh
VND Việt Nam đồng
DT Doanh thu
XNK Xuất nhập khẩu
XK Xuất khẩu
VCSH Vốn chủ sở hữu
BĐS Bất động sản
TTS Tổng tài sản
UBND Ủy ban nhân dân
CHXHCNVN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1: Mô hình tổ chức bộ máy quản lý của Công ty ……………… 29
Sơ đồ 2: Tổ chức bộ máy kế toán của Công ty ………………………… 33
Sơ đồ 3: Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm …………………… 37
Bảng 2.1: Bảng cơ cấu tài sản của Công ty …………………………… 39
Bảng 2.2: Bảng cơ cấu nguồn vốn của Công ty ………………………… 42
Bảng 2.3: Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán của Công ty ……… 44
Bảng 2.4: Cơ cấu tài sản của Công ty cổ phần đầu tư và thương mại
TNG ……………………………………………………… 46
Chương 2: Thực trạng tài chính tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương
mại TNG
6
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác tài chính tại Công ty Cổ phần Đầu
tư và Thương mại TNG
Em xin gửi lời cảm ơn tới các cô chú, anh chị phòng Tài chính - Kế toán
Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG đã hướng dẫn giúp đỡ em hoàn thành
bài chuyên đề thực tập này.
7
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Tổng quan về phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp
Trước khi đi vào tìm hiểu khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp ta đi
vào tìm hiểu khái niệm doanh nghiệp và tài chính doanh nghiệp, các mối quan hệ
trong tài chính doanh nghiệp.
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động
kinh doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu. Doanh nghiệp là
một cách thức tổ chức hoạt động kinh tế của nhiều cá nhân. Có nhiều hoạt động kinh
tế chỉ có thể thực hiện được bởi các doanh nghiệp chứ không phải các cá nhân.
Ở Việt Nam, theo luật doanh nghiệp thì doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có
tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy
định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh, tức là thực
hiện một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ
sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
Tài chính doanh nghiệp là những quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp với các
chủ thể trong nền kinh tế trong quá trình phân phối các nguồn tài chính gắn liền với
việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ trong doanh nghiệp. Các quan hệ tài chính
doanh nghiệp chủ yếu bao gồm:
triển thì hoạt động phân tích tài chính càng chứng tỏ được vai trò vô cùng quan
trọng của mình. Phân tích tài chính mà trọng tâm là phân tích các báo cáo tài chính
được nhiều đối tượng quan tâm. Mỗi đối tượng lại quan tâm đến những khía cạnh
khác nhau của tình hình tài chính doanh nghiệp.
Đối với nhà quản trị doanh nghiệp.
Mối quan tâm hàng đầu của chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh
9
nghiệp là khả năng phát triển, tối đa hóa giá trị tài sản chủ sở hữu do đó họ quan tâm
tới mọi hoạt động. Một doanh nghiệp hoạt động tốt là doanh nghiệp có khả năng
sinh lời cao và thanh toán được các khoản nợ. Như vậy, hơn ai hết, các nhà quản trị
doanh nghiệp cần có đủ thông tin để đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp là tốt hay xấu, xác định điểm mạnh, điểm yếu, hiểu rõ thực trạng tài
chính của công ty. Đây chính là cơ sở để nhà quản trị đưa ra những chiến lược, kế
hoạch cũng như những quyết định quản lý phù hợp nhằm đưa doanh nghiệp ngày
càng lớn mạnh, phát triển.
Đối với các nhà đầu tư.
Những người cho vay thường là các Ngân hàng hay các tổ chức tín dụng, các
doanh nghiệp khác. Mối quan tâm chủ yếu của họ là việc nhận biết nhu cầu vay và
khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Vì thế, điều họ đặc biệt quan tâm tới là các tài
sản có tính thanh khoản cao, từ đó đánh giá khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Bên
cạnh đó, sự an toàn của các khoản cho vay cũng là một yếu tố được người cho vay
cân nhắc khi quyết định cho vay. Vì vậy, họ cũng rất quan tâm đến vốn chủ sở hữu
vì đây là sự đảm bảo cho các khoản vay trong trường hợp doanh nghiệp gặp rủi ro.
Phân tích tài chính giúp người cho vay đánh giá được khả năng trả nợ của doanh
nghiệp và mức độ đảm bảo an toàn của các khoản cho vay. Trên cơ sở đó, người cho
vay đưa ra quyết định có nên cho vay hay không, cho vay bao nhiêu và với lãi suất
bao nhiêu là hợp lý…
Đối với các nhà đầu tư khác, họ quan tâm tới các yếu tố rủi ro, lãi suất, khả
năng thanh toán…
Ngoài ra, phân tích tài chính còn là mối quan tâm của các cơ quan quản lý
Quyết định và dự đoán.
Mục tiêu của phân tích tài chính là đưa ra các quyết định tài chính. Bởi vậy,
việc thu thập và xử lý thông tin kế toán là nhằm chuẩn bị những tiền đề và những
điều kiện cần thiết, để phục vụ cho việc ra các quyết định tài chính và dự đoán nhu
cầu tài chính trong tương lai của công ty.
1.1.3 Thông tin sử dụng trong phân tích.
11
1.1.3.1 Thông tin sử dụng trong doanh nghiệp.
Thông tin trong doanh nghiệp là nguồn thông tin đặc biệt cần thiết và mang
tính chất bắt buộc đối với tất cả các doanh nghiệp. Những thông tin này thể hiện một
cách đầy đủ, toàn diện nhất hoạt động của doanh nghiệp trong từng giai đoạn, từng
chu kỳ kinh doanh. Những thông tin này vô cùng quan trọng đối với hoạt động phân
tích tài chính, nó được phản ánh chủ yếu qua các báo cáo tài chính, bao gồm: Bảng
cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Thuyết
minh báo cáo tài chính.
Bảng cân đối kế toán.
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tổng hợp, cho biết tình hình tài chính của
doanh nghiệp tại những thời điểm nhất định.
Bảng cân đối kế toán có 2 phần: phía bên trái là các khoản mục tài sản và bên
phải là các khoản mục nợ và vốn chủ sở hữu. Bảng cân đối kế toán chỉ rõ những tài
sản mà doanh nghiệp sở hữu và cách thức tài trợ cho chúng. Dưới đây là đồng nhất
thức mô tả Bảng cân đối kế toán:
Tài sản = Nợ + Vốn chủ sở hữu.
Ở đây vốn chủ sở hữu được xác định là chênh lệch giữa tài sản và nợ của
doanh nghiệp.
Cơ sở số liệu và căn cứ để lập bảng cân đối kế toán là bảng cân đối kế toán
niên độ trước (hoặc kỳ trước) và các sổ kế toán tổng hợp.
Báo cáo kết quả kinh doanh.
Là một báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh kết quả tình hình doanh thu, chi
phí, lợi nhuận của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 quý hoặc 1
- Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư
- Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính
Thuyết minh báo cáo tài chính.
Thuyết minh các báo cáo tài chính được lập nhằm cung cấp các thông tin về
tình hình sản xuất, kinh doanh chưa có trong hệ thống các báo cáo tài chính, đồng
thời giải thích thêm một số chỉ tiêu mà trong các báo cáo tài chính chưa được trình
13
bày, giải thích một cách rõ ràng và cụ thể.
Tóm lại các báo cáo tài chính doanh nghiệp có mối liên hệ mật thiết với nhau,
mỗi sự thay đổi một chỉ tiêu trong báo cáo này hoặc trực tiếp hay gián tiếp ảnh
hưởng tới báo cáo kia, trình tự đọc hiểu và kiểm tra các báo cáo tài chính phải được
bắt đầu từ báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệ kết hợp với
bảng cân đối kế toán kỳ trước để đọc và kiểm tra bảng cân đối kế toán kỳ này.
1.1.3.2. Thông tin ngoài doanh nghiệp
Việc phân tích tài chính không chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu những bảng
biểu tài chính mà phải tập hợp đầy đủ các thông tin liên quan đến tình hình tài chính
của doanh nghiệp, ví dụ như các thông tin về kinh tế, tiền tệ của quốc gia, các thông
tin về pháp lý đối với doanh nghiệp Có thể kể tới một số yếu tố khách quan tác
động tới doanh nghiệp như sau:
Doanh nghiệp luôn là đối tượng quản lý của các cơ quan Nhà nước, mọi
hoạt động của doanh nghiệp đều bị điều tiết và chi phối bởi cơ chế quản lý tài chính,
hệ thống luật, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến ngành nghề hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Chỉ cần một sự thay đổi nhỏ về chính sách, chuẩn
mực cũng có thể dẫn đến quyết định tài chính là đúng đắn hay sai lầm.
Doanh nghiệp luôn phải đối đầu với công nghệ. Sự phát triển của công
nghệ góp phần làm thay đổi phương thức sản xuất, góp phần làm thay đổi trong
quản lý doanh nghiệp dẫn tới các quyết định tài chính cũng thay đổi theo.
Doanh nghiệp phải đáp ứng được đòi hỏi của các đối tác về mức vốn sở
hữu trong cơ cấu vốn, sự tăng giảm vốn chủ sở hữu có tác động đáng kể tới hoạt
động doanh nghiệp, đặc biệt trong các điều kiện kinh tế khác nhau.
tương đối hoặc là số bình quân.
Để đảm bảo tính chất so sánh được của chỉ tiêu qua thời gian, cần đảm bảo
thỏa mãn các điều kiện so sánh sau đây:
- Phải đảm bảo sự thống nhất về nội dung kinh tế của chỉ tiêu.
- Phải đảm bảo sự thống nhất về phương pháp tính các chỉ tiêu.
- Phải đảm bảo sự thống nhất về đơn vị tính các chỉ tiêu (kể cả hiện vật,
15
giá trị và thời gian).
Khi so sánh mức đạt được trên các chỉ tiêu ở các đơn vị khác nhau, ngoài các
điều kiện đã nêu, cần đảm bảo điều kiện khác như: cùng phương hướng kinh doanh,
điều kiện kinh doanh tương tự như nhau.
Tất cả các điều kiện trên gọi chung là đặc tính “có thể so sánh được” hay tính
chất “so sánh được” của các chỉ tiêu phân tích.
Ngoài ra, cần xác định mục tiêu so sánh trong phân tích các báo cáo tài chính.
Mục tiêu so sánh trong phân tích là nhằm xác định mức biến động tuyệt đối
và mức biến động tương đối cùng xu hướng biến động của chỉ tiêu phân tích (năng
suất tăng, giá thành giảm).
- Mức biến động tuyệt đối là kết quả so sánh trị số của chỉ tiêu giữa hai kỳ.
Kỳ thực tế và kỳ kế hoạch, hoặc kỳ thực tế với kỳ kinh doanh trước,
- Mức biến động tương đối là kết quả so sánh trị số của chỉ tiêu ở kỳ này với
trị số của chỉ tiêu ở kỳ gốc, nhưng đã được điều chỉnh theo một hệ số của chỉ tiêu có
liên quan, mà chỉ tiêu liên quan này quyết định quy mô của chỉ tiêu phân tích.
Nội dung so sánh bao gồm:
So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với số thực tế trên kỳ kinh doanh
trước nhằm xác định rõ xu hướng thay đổi về tình hình hoạt động tài chính của
doanh nghiệp, đánh giá tốc độ tăng trưởng hay giảm đi của các hoạt động tài chính
của doanh nghiệp.
So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với số kỳ kế hoạch nhằm xác định
mức phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch trong mọi mặt của hoạt động tài chính
của doanh nghiệp.
1.1.4.2. Phương pháp tỷ số.
Phương pháp tỷ số là phương pháp trong đó các tỷ số được sử dụng để phân
tích, đó là các tỷ số đơn được thiết lập bởi chỉ tiêu này so với chỉ tiêu khác, đây là
phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện áp dụng ngày càng được bổ
sung và hoàn thiện, bởi lẽ:
17
Thứ nhất: Nguồn thong tin kế toàn và tài chính được cải tiến và được cung
cấp đầy đủ hơn. Đó là cơ sở để hình thành những tỷ lệ tham chiếu tin cậy cho việc
đánh giá một tỷ số của một doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp.
Thứ hai: Việc áp dụng công nghệ tin học cho phép tích lũy dữ liệu và thúc
đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ số.
Thứ ba: Phương pháp phân tích này giúp nhà phân tích khai thác có hiệu quả
những số liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loạt tỷ số theo chuỗi thời gian
liên tục hoặc theo từng giai đoạn.
1.1.4.3. Phương pháp phân tích DUPONT
Bên cạnh hai phương pháp phân tích so sánh và tỷ số nêu trên, các nhà phân
tích còn sử dụng phương pháp phân tích tài chính DUPONT.
Với phương pháp này, các nhà phân tích sẽ nhận biết được các nguyên nhân
dẫn đến các hiện tượng tốt, xấu trong hoạt động của doanh nghiệp. Bản chất của
phương pháp này là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh sức sinh lợi của doanh nghiệp
như thu nhập trên tài sản (ROA), thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE)
thành tích số của chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau. Điều đó cho
phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đó đối với tỷ số tổng hợp.
1.2. Nội dung phân tích tài chính
1.2.1. Phân tích các tỷ số tài chính
Để thực hiện phân tích tài chính, các nhà phân tích sử dụng bốn nhóm tỷ số
chính:
- Tỷ số về khả năng thanh toán: Đây là nhóm chỉ tiêu được sử dụng để đánh
giá khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.
- Tỷ số về khả năng cân đối vốn hoặc cơ cấu vốn: Nhóm chỉ tiêu này phản
19
doanh và khả năng nắm bắt thời cơ thuận lợi của nhiều doanh nghiệp phụ thuộc
phần lớn vào vốn lưu động ròng. Do vậy, sự phát triển của không ít doanh nghiệp
còn được thể hiện ở sự tăng trưởng vốn lưu động ròng.
Tỷ số khả năng thanh toán nhanh: là tỷ số giữa các tài sản quay vòng
nhanh với nợ ngắn hạn. Tài sản quay vòng nhanh là những tài sản có thể nhanh
chóng chuyển đổi thành tiền, bao gồm: Tiền, chứng khoán ngắn hạn, các khoản phải
thu. Tài sản dự trữ (tồn kho) là các tài sản khó chuyển thành tiền hơn trong tổng tài
sản lưu động và dễ bị lỗ nhất nếu được bán.
Tỷ số này cho biết khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn không phụ
thuộc vào việc bán tài sản dự trữ (tồn kho) và được xác định:
Tài sản lưu động – Dự trữ
Khả năng thanh toán nhanh = –––––––––––
Nợ ngắn hạn
Tỷ số dự trữ (tồn kho) trên vốn lưu động ròng: Tỷ số này cho biết dự trữ
chiếm bao nhiêu phần trăm vốn lưu động rũng. Nó được xác định bằng cách chia dự
trữ (tồn kho) cho vốn lưu động ròng.
1.2.1.2. Các tỷ số về khả năng cân đối vốn
Tỷ số này được dùng để đo lường phần vốn góp của các chủ sở hữu doanh
nghiệp so với phần tài trợ của các chủ nợ đối với doanh nghiệp và có ý nghĩa quan
trọng trong phân tích tài chính.
Tỷ số nợ trên tổng tài sản (hệ số nợ): Tỷ số này được sử dụng để xác
định nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp đối với các chủ nợ trong việc góp vốn. Thông
thường, các chủ nợ thích tỷ số nợ trên tổng tài sản vừa phải vì tỷ số này càng thấp
thì khoản nợ càng được đảm bảo trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản. Trong
khi đó, các chủ sở hữu doanh nghiệp ưa thích tỷ số này cao vì họ muốn lợi nhuận gia
tăng nhanh và muốn toàn quyền kiểm soát doanh nghiệp. Nhưng nếu tỷ số nợ quá
cao thì doanh nghiệp dễ bị rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán.
20
Khả năng thanh toán lãi vay hoặc số lần có thể trả lãi: Thể hiện ở tỷ số
đồng tài sản đem lại bao nhiêu đồng doanh thu.
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản = Doanh thu/ Tổng tài sản
1.2.1.4. Tỷ số về khả năng sinh lãi
Tỷ số về khả năng sinh lãi phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả sản xuất, kinh
doanh và hiệu năng quản lý doanh nghiệp.
Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm = TNST/ DT
Nó phản ánh số lợi nhuận sau thuế trong một trăm đồng doanh thu.
Tỷ số thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu ( doanh lợi vốn chủ sở
hữu) ROE
ROE = TNST/ VCSH
Chỉ tiêu doanh lợi vốn chủ sở hữu được xác định bằng cách chia thu nhập
sau thuế cho vốn chủ sở hữu. Nó phản ánh khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu và
được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu tư vào doanh
nghiệp. Tăng mức doanh lợi vốn chủ sở hữu là một mục tiêu quan trọng nhất trong
hoạt động quản lý tài chính doanh nghiệp.
Doanh lợi tài sản: ROA
ROA = TNTT và Lãi/ TS hoặc ROA = TNST/ TS
Đây là một chỉ tiêu tổng hợp nhất được dùng để đánh giá khả năng sinh lợi
của một đồng vốn đầu tư. Tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của doanh nghiệp được
phân tích và phạm vi so sánh mà người ta lựa chọn thu nhập trước thuế và lãi hoặc
thu nhập sau thuế để so sánh với tổng tài sản.
22
Ngoài các tỷ số trên đây, các nhà phân tích cũng đặc biệt chú ý tới việc tính
toán và phân tích những tỷ số liên quan tới các chủ sở hữu và giá trị thị trường.
Chẳng hạn:
Thu nhập sau thuế
-Tỷ lệ hoàn vốn cổ phần = –––––––––
Vốn cổ phần
Thu nhập sau thuế
-Thu nhập cổ phiếu = ––––––––––
Như vậy qua hai lần phân tích, ROE có thể được biến đổi:
ROE = PM x AU x EM
Từ đó ta có thể nhận biết được các yếu tố cơ bản tác động tới ROE của một
doanh nghiệp: Đó là khả năng tăng doanh thu, công tác quản lý chi phí, quản lý tài
sản và đòn bẩy tài chính.
1.2.2. Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn (Bảng tài trợ)
Trong phân tích nguồn vốn và sử dụng vốn, người ta thường xem xét sự thay
đổi của các nguồn vốn và cách thức sử dụng vốn của một doanh nghiệp trong một
thời kỳ theo số liệu giữa hai thời điểm lập Bảng cân đối kế toán.
Mộtt trong những công cụ hữu hiệu của nhà quản lý tài chính là bảng kê
nguồn vốn và sử dụng vốn (Bảng tài trợ). Nó giúp nhà quản lý xác định rừ cỏc
nguồn cung ứng vốn và việc sử dụng các nguồn vốn đó.
Để lập được bảng này, trước hết phải liệt kê sự thay đổi các khoản mục trên
Bảng cân đối kế toán từ đầu kỳ đến cuối kỳ. Mỗi sự thay đổi được phân biệt ở hai
cột: Sử dụng vốn và nguồn vốn theo nguyên tắc:
24
- Nếu các khoản mục bên tài sản tăng hoặc các khoản mục bên nguồn vốn
giảm thì điều đó thể hiện việc sử dụng vốn.
- Nếu các khoản mục bên tài sản giảm hoặc các khoản mục bên nguồn vốn
tăng thì điều đó thể hiện việc tạo nguồn.
Việc thiết lập Bảng tài trợ là cơ sở để chỉ ra những trọng điểm đầu tư vốn và
những nguồn vốn chủ yếu được hình thành để đầu tư.
Ngoài việc phân tích việc sử dụng vốn và nguồn vốn, người ta cũn phõn tích
tình hình tài chính theo luồng tiền để xác định sự tăng (giảm) tiền và nguyên nhân
tăng (giảm) tiền. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp sẽ có những biện pháp quản lý ngân
quỹ tốt hơn.
1.2.3. Phân tích các chỉ tiêu tài chính trung gian
Trong phân tích tài chính, các nhà phân tích thường kết hợp chặt chẽ những
đánh giá về trạng thái tĩnh đối với những đánh giá về trạng thái động để đưa ra một
bức tranh toàn cảnh về tình hình tài chính của doanh nghiệp. Nếu như trạng thái tĩnh