Lời mở đầu
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đối với
người lao động, nhằm đảm bảo cuốc sống vật chất, ổn định đời sống cho người lao
động và gia đình họ trong các trường hợp bị ốm đau, thai sản, suy giảm khả năng
lao động, mất việc làm, hết tuổi lao động hoặc chết. Chính sách BHXH ở nước ta
được thực hiện ngay từ những ngày đầu mới thành lập nước, 60 năm qua, trong
quá trình tổ chức thực hiện, chính sách BHXH ngày càng được hoàn thiện và
không ngừng đổi mới, bổ xung cho phù hợp với điều kiện hiện tại của đất nước.
Cùng với quá trình đổi mới của nền kinh tế từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VI của Đảng (12/1986), chính sách BHXH và tổ chức quản lí hoạt động cũng
có nhiều đổi mới tích cực.
Từ việc nghiên cứu quá trình đổi mới của BHXH tôi nhận thấy BHXH thực sự là
một chính sách quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển của đất nước.
BHXH không những góp phần ổn định đời sống của người lao động mà còn
khuyến khích họ tích cực lao động sản xuất tạo ra của cải cho xã hội, xây dựng đất
nước. Trong quá trình thực hiện BHXH đã không ngừng phát triển cả về chất
lượng lẫn số lượng. Số người tham gia ngày càng tăng lên, mở rộng cho các đối
tượng tham gia, hoàn thiện dần hệ thống chính sách BHXH tiến tới thực hiện đủ
các chế độ của Tổ chức lao động quốc tế (ILO). Đặc biệt là sự đổi mới về cơ chế
quản lí từ cơ chế quản lí kế hoạch hoá, tập chung, bao cấp, hoàn toàn do NSNN
đảm bảo đã chuyển sang cơ chế thực hiện có thu và quỹ hoạt động trên nguyên tắc
cân bằng thu chi. Cách thực hiện như vậy không những giảm được gánh nặng cho
NSNN mà còn thể hiện trách nhiệm của cả người sử dụng lao động đối với người
lao động. Nhà nước nước đóng vai trò tổ chức thực hiện và quản lí thông qua
BHXH Việt Nam, là hệ thống ngành dọc được tổ chức từ Trung ương đến địa
phương.
Bên cạnh những mặt đạt được, BHXH Việt Nam cũng còn rất nhiều tồn tại cần
sớm được khắc phục cả về nội dung chính sách, tổ chức quản lí hoạt động. Đây là
những đòi hỏi cấp thiết cần được nghiên cứu để góp phần hoàn thiện chính sách và
tổ chức quản lí hoạt động của BHXH Việt Nam. Trong đó quản lí tài chính BHXH
dân không có đất phải di cư ra thành phố làm thuê cho các nhà máy ngày càng
nhiều và dần trở thành công nhân. Đặc biệt đến thời kì cách mạng công nghiệp thì
lực lượng ngày càng đông đảo và trở thành giai cấp công nhân. Nhìn chung họ
sống không ổn định, cuộc sống chỉ dựa vào công việc với đồng lương ít ỏi, mất
việc làm, ốm đau, tai nạn lao động đều có thể đe doạ cuộc sống của họ. Tình
đoàn kết tương thân tương ái giữa họ đã nảy nở, cùng với đó là sự ra đời của các
nghiệp đoàn, các hiệp hội giúp đỡ các thành viên khi bị ốm đau bệnh tật trong quá
trình sản xuất. Bên cạnh Hội tương tế còn có Quỹ tiết kiệm được Nhà nước
khuyến khích thành lập. Tiếp đó những quy định bắt buộc người sử dụng lao động
phải chu cấp cho người lao động thuộc quyền quản lí khi họ gặp phải ốm đau, tai
nạn lao động, mất việc Giai cấp công nhân càng đông đảo thì sức ép đối với
những đòi hỏi đảm bảo cuộc sống cho họ ngày càng ảnh hưởng đến đời sống chính
trị của mỗi nước. Trước tình cảnh đó Chính Phủ mỗi nước không thể không quan
tâm đến tình cảnh của người lao động. Những yêu cầu giảm giờ làm, cải thiện điều
kiện lao động, đảm bảo cuộc sống của người lao động dần được quy định thành
các chính sách bắt buộc đối với mỗi nước.
Điển hình là vào năm 1850, dưới thời Thủ tướng Bismark của Đức đã giúp các
địa phương thành lập quỹ do người công nhân đóng góp để được trợ cấp lúc rủi ro.
Nguyên tắc bảo hiểm bắt buộc bắt nguồn từ đây, người được bảo hiểm phải tham
gia đóng phí. Sau đó sáng kiến này được áp dụng rộng rãi trên khắp thế giới.
BHXH ngày càng được hoàn thiện, thực hiện rộng khắp các nước và được Tổ chức
Lao động Quốc tế ( ILO) thông qua trong Công ước số 102 vào tháng 4 năm 1952.
BHXH ở nước ta đa manh nha hình thành từ thời thực dân Pháp thống trị. Sau
cách mạng tháng Tám, Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà đã ban hành
sắc lệnh 29/ SL ngày 12/3/1947 về việc thực hiện bảo hiểm ốm đau, tai nạn lao
động, hưu trí. Đây là những viên gạch đầu tiên xây dựng nên hệ thống BHXH Việt
Nam như hiện nay.
2. Khái niệm BHXH.
Qua quá trình hình thành chúng ta có thể nhận thấy, lúc khởi đầu, BHXH chỉ
mang tính chất tự phát, phạm vi hoạt động nhỏ hẹp, trước nhu cầu của thực tiễn thì
nhập gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già, tàn tật và chết. Hơn nữa,
BHXH còn phải bảo vệ cho việc chăm sóc y tế, sức khoẻ và trợ cấp cho các gia
đình khi cần thiết.”
Từ định nghĩa trên chúng ta thấy mục tiêu của BHXH là hướng tới sự phát triển
của mỗi cá nhân và toàn xã hội. BHXH thể hiện sự đảm bảo lợi ích của xã hội đối
với mỗi thành viên từ đó gắn kết mỗi cá nhân với xã hội đó.
3. Bản chất và chức năng của BHXH.
3.1. Bản chất của BHXH.
Có thể hiểu BHXH là sự bù đắp một phần thu nhập bị mất của người lao động khi
gặp phải những biến cố như ốm đau, tai nan lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc tuổi
già làm mất, giảm khả năng lao động, từ đó giúp ổn định cuộc sống của bản thân
người lao động và gia đình họ. BHXH hiện nay được coi là một chính sách xã hội
lớn của mỗi quốc gia, được nhà nước quan tâm và quản lí chặt chẽ. BHXH xét về
bản chất bao gồm những nội dung sau đây:
BHXH là sự cần thiết tất yếu khách quan gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế.
Đặc biệt đối với nền kinh tế hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan
hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động ngày càng phát triển. Do vậy
trình độ phát triển của nền kinh tế quyết định đến sự đa dạng và tính hoàn thiện
của BHXH. Vì vậy có thể nói kinh tế là yếu tố quan trọng quyết định tới hệ thống
BHXH của mỗi nước.
BHXH, bên tham gia BHXH, bên được BHXH là ba chủ thể trong mối quan hệ
của BHXH. Bên tham gia BHXH gồm người lao động và người sử dụng lao động
(bên đóng góp), bên BHXH là bên nhận nhiệm vụ BHXH, thông thường thì do cơ
quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và bảo trợ, bên được BHXH chính là người
lao động và gia đình họ khi có đủ điều kiện cần thiết. Từ đó họ được đảm bảo
những nhu cầu thiết yếu, giúp họ ổn định cuộc sống, góp phần ổn đình xã hội.
Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động của người lao động có thể là
những rủi ro ngẫu nhiên( tai nạn, ốm đau, bệnh nghề nghiệp ), cũng có thể là các
rủi ro không hoàn toàn ngẫu nhiên( tuổi già, thai sản, ). Đồng thời các biến cố
này có thể xảy ra trong quá trình lao động hoặc ngoài lao động. Phần thu nhập của
quả nhất vì đã giải quyết những khó khăn về đời sống của người lao động và góp
phần ổn định sản suất, ổn định kinh tế - xã hội.
4. Nguyên tắc hoạt động của BHXH.
Nhìn chung hệ thống BHXH được thực hiện dựa trên các nguyên tắc sau:
Thứ nhất là nguyên tắc đóng hưởng chia sẻ rủi ro; lấy số đông bù số ít, lấy của
người đang làm việc bù đắp cho người nghỉ hưởng chế độ BHXH. Đây là nguyên
tắc hoạt động chung của ngành bảo hiểm là quỹ góp chung của số đông bù cho số
ít là những người thiếu may mắn gặp phải những rủi ro trong cuộc sống, trong lao
động sản xuất. Phần thể hiện tính chính sách của Nhà nước là việc rủi ro trong
BHXH không chỉ là những rủi ro thuần tuý như trong bảo hiểm thương mại mà
còn có cả những rủi ro không mang tính ngẫu nhiên như: tuổi già, thai sản,
Thứ hai là mức hưởng phải thấp hơn tiền lương làm căn cứ đóng BHXH, nhưng
phải đảm bảo được mức sống tối thiểu cho người hưởng khoản trợ cấp đó. Việc
quy định trên là hoàn toàn hợp lí và cũng là quy định chung cho tất cả các nước,
song thấp bao nhiêu còn tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi
nước trong mỗi thời kì khác nhau.
Thứ ba là phải tự chủ về tài chính, đây là nguyên tắc quan trọng trong chính sách
BHXH của các nước. Nếu chỉ hoàn toàn phụ thuộc vào Ngân sách Nhà nước
(NSNN) giống như giai đoạn trước cải cách năm 1995 của nước ta thì đây thực sự
là một gánh nặng lớn của đất nước. Việc thành lập quỹ BHXH do các bên tham
gia BHXH đóng góp và có sự hỗ trợ của Nhà nước là hoàn toàn phù hợp. Quỹ này
có thể quản lí theo các cách thức khác nhau song độc lập với NSNN , NSNN chỉ
bù thiếu hoặc tài trợ một phần tuỳ thuộc vào quy định của mỗi nước khác nhau.
5. Các chế độ của BHXH.
Đối với mỗi nước có những hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau nên
BHXH được tổ chức thực hiện theo những quy định riêng khác nhau. BHXH được
xây dựng dựa vào các nguyên tắc trên một cách thống nhất trên toàn thế giới và
phải tuân thủ các quy định sau của tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về hệ thống
chính sách BHXH. Trong Công ước 102 được ILO thông qua ngày 4/6/1952 có
quy định những quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội đã đưa ra 9 chế độ sau:
đổi của điều kiện kinh tế -xã hội.
6. Quỹ BHXH và phân loại quỹ BHXH.
6.1. Quỹ BHXH.
Như chúng ta đã tìm hiểu trong phần 1 ở trên thì sự ra đời của quỹ BHXH là một
bước ngoặt lớn đối với ngành BHXH trên toàn thế giới. Quỹ BHXH là một quỹ tài
chính độc lập, tập chung nằm ngoài NSNN và được hình thành từ các nguồn sau
đây:
- Người sử dụng lao động đóng góp,
- Người lao động đóng góp,
- Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm,
- Các nguồn khác (như cá nhân và tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi từ các hoạt
động đầu tư quỹ nhàn rỗi).
Trách nhiệm tham gia đóng góp BHXH cho người lao động được phân chia cho cả
người lao động và người sử dụng lao động trên cơ sở quan hệ lao động. Điều này
không phải sự chia sẻ rủi ro, mà là lợi ích giữa hai bên. Sự đóng góp một phần quỹ
của người sử dụng lao động cho người lao động sẽ tránh được những thiệt hại kinh
tế do phải chi ra một khoản tiền lớn khi có rủi ro xảy ra đối với người lao động mà
mình thuê mướn. Đồng thời, nó còn góp phần giảm bớt mâu thuẫn, kiến tạo mối
quan hệ tốt đẹp giữa chủ- thợ. Về phía người lao động, sự đóng góp của họ vừa thể
hiện sự tự gánh chịu chính những rủi ro của chính mình, vừa có ý nghĩa ràng buộc
nghĩa vụ và quyền lợi một cách chặt chẽ.
Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các nguồn nêu
trên. Tuy nhiên, phương thức đóng góp và mức đóng góp của các bên tham gia
BHXH có khác nhau tuỳ thuộc quy định của mỗi nước. Hiện nay mức đóng góp
BHXH của người lao động và người sử dụng lao động hiện vẫn còn hai quan
điểm. Quan điểm thứ nhất cho rằng, phải căn cứ vào mức lương cá nhân và quỹ
lương cơ quan, doanh nghiệp. Quan điểm thứ hai lại cho rằng, phải căn cứ vào
mức thu nhập cơ bản của người lao động được cân đối chung trong toàn bộ nền
kinh tế quốc dân để xác định mức đóng góp. Về mức đóng góp BHXH, mỗi nước
lại có những quy định khác nhau. Một số nước quy định người sử dụng lao động
1. Khái niệm chung về quản lí tài chính BHXH.
Trước tiên chúng ta cần hiểu khái niệm về quản lí. Quản lí là những hoạt động
nhằm tác động một cách có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lí vào một
đối tượng quản lí nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con
người từ đó có thể duy trì được tính ổn định của đối tượng. Đối tượng của quản lí
ở đây là tài chính BHXH, tài chính BHXH là một thuật ngữ thuộc phạm trù tài
chính chỉ một mắt khâu tài chính tồn tại độc lập trong hệ thống tài chính quốc gia.
Tài chính BHXH tham gia vào quá trình phân phối và sử dụng các nguồn tài chính
nhằm đảm bảo cuộc sống cho người lao động và gia đình họ khi gặp rủi ro từ đó
đảm bảo sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội. Như vậy, nhìn rộng ra thì quản lí
tài chính BHXH là việc sử dụng tài chính BHXH như một công cụ quản lí xã hội
của Nhà nước. Nhà nước thông qua hoạt động tài chính BHXH để thực hiện mục
tiêu quản lí xã hội đó là đảm bảo ổn định cuộc sống cho nhân dân trước những rủi
ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động hay khi về già, giúp người lao động yên
tâm lao động sản xuất, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển. BHXH thể hiện tính
ưu việt của mỗi quốc gia, mỗi thể chế xã hội . Còn hiểu theo nghĩa hẹp thì quản lí
tài chính BHXH là quản lí thu chi BHXH. Như vậy quản lí tài chính BHXH chủ
yếu liên quan tới việc làm thế nào để hoạt động thu chi quỹ BHXH được thực hiện
một cách bình thường trước những biến động của môi trường. Biến động ở đây là
những biến động về đối tượng tham gia, đối tượng hưởng, biến động của môi
trường sống, môi trường kinh tế , những biến động tác động trực tiếp đến đời
sống của người lao động, đến việc thu chi quỹ BHXH, ảnh hưởng tới sự đầu tư
tăng trưởng quỹ BHXH. Nội dung của quản lí tài chính BHXH chủ yếu là sự lựa
chọn và xác định các chính sách, chế độ, quy chế về tài chính BHXH một cách
hợp lí và lấy đó làm căn cứ để ra quyết định cụ thể của thu chi BHXH thực hiện
mục tiêu của Nhà nước đặt ra.
Khi thực hiện quản lí tài chính BHXH cần chú ý hai nguyên tắc chủ yếu sau:
- Quá trình quản lí tài chính BHXH phải luôn được tính toán, so sánh và cân
đối trong trạng thái động: Bởi vì lượng tiền mặt của quỹ biến động theo từng chế
độ trợ cấp BHXH khác nhau, lượng lao động biến động một cách thường xuyên
động đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH khác với các hoạt động đầu tư khác với mục
tiêu lợi nhuận làm đầu vì BHXH chính là một chính sách quan trọng trong hệ
thống An sinh xã hội của mỗi nước.
2. Nội dung quản lí tài chính BHXH.
Nhìn chung, quản lí tài chính BHXH bao gồm bốn nội dung cơ bản sau:
- Quản lí thu BHXH.
- Quản lí chi BHXH.
- Quản lí hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ.
- Quản lí cân đối quỹ BHXH.
2.1. Quản lí thu BHXH.
Quản lí thu giữ vai trò quan trọng và quyết định đến sự thành công của quá trình
thu BHXH, từ đó quyết định đến sức mạnh quỹ BHXH để đảm bảo cho việc chi
trả cho các chế độ trợ cấp. Trước tiên chúng ta phải nắm được nội dung thu gồm
hai khoản thu từ người lao động và người sử dụng lao động. Đây là khoản thu lớn
nhất và đóng vai trò quan trọng, quyết định. Các khoản thu khác như: thu từ các
quỹ của các tổ chức, cá nhân từ thiện hay sự hỗ trợ của NSNN là nhỏ, NSNN chỉ
bù đắp cho những trường hợp cần thiết. Hơn nữa đây là khoản thu mà tổ chức
BHXH cũng không thể tự điều chỉnh được vì nó mang tính thụ động. Do vậy mà
công tác quản lí thu chỉ tập chung vào nguồn thu từ hai đối tượng chính người lao
động và người sử dụng lao động. Nội dung của quản lí thu lại tập chung vào ba đối
tượng chính sau đây:
Quản lí đối tượng tham gia BHXH: Đây là việc đầu tiên mà mỗi tổ chức BHXH
khi thực hiện quan tâm đến, thường các đối tượng này được quy định rõ trong các
văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước. Hơn thế nữa BHXH cũng hoạt động
trên nguyên tắc san sẻ rủi ro và tuân theo quy luật số đông bù số ít nên việc tham
gia đầy đủ của các đối tượng tham gia BHXH là việc rất quan trọng. Quản lí đối
tượng tham gia cần thực hiện các công việc sau:
+ Quản lí số lượng đăng kí tham gia BHXH.
+ Quản lí đối tượng bắt buộc tham gia BHXH theo quy định.
+ Quản lí công tác cấp sổ BHXH: Vì đây là căn cứ xác định quá trình đóng góp,
chế độ BHXH. Đối tượng có thể hưởng các chế độ chính là bản thân người lao
động hoặc người thân trong gia đình họ. Đối tượng được hưởng các chế độ trợ cấp
là những người lao động tham gia đóng phí BHXH và gặp phải những rủi ro làm
mất hoặc giảm khả năng lao động dẫn đến mất hoặc giảm thu nhập của họ. Các
điều kiện hưởng được quy định cụ thể trong các văn bản, thường thì mức trợ cấp,
loại trợ cấp và thời gian trợ cấp thì phụ thuộc vào mức đóng góp, thời gian đóng
góp, mức độ hay tỉ lệ thương tật, và chính biến cố mà người lao động gặp phải.
BHXH Việt Nam muốn quản lí tốt cần có những văn bản quy định rõ ràng và hợp
lí về các điều kiện hưởng của các loại chế độ, dựa trên cơ sở đó để xử lí các trường
hợp cho công bằng. Đối tượng hưởng cần được xem xét và kiểm tra nhằm tránh
tình trạng chi sai hoặc chi không hợp lí. Quản lí chi cho các chế độ cũng cần được
phân loại và phân cấp quản lí để dễ quản lí và thực hiện chi trả cho thuận tiện.
Quản lí chi hoạt động bộ máy: Sau chi cho các chế độ thì đây là khoản chi lớn thứ
hai cần được quản lí. Chi quản lí có thể hiểu đơn giản là khoản chi cho bộ máy tức
là trả lương cho cán bộ, chi cho đầu tư xây dựng cơ bản, chi mua sắm thiết bị và
những tài sản cố định nhằm duy trì hoạt động của tổ chức BHXH. Mức chi này có
thể được quy định trong điều lệ BHXH hoặc cũng có thể được lập trong NSNN.
Khoản chi này cần được quản lí tránh những lang phí không cần thiết. Một số
nước khoản chi này được NSNN chi trả, một số nước lại do quỹ BHXH đảm bảo.
Song nhìn chung thì chi phí quản lí là phải phù hợp tránh những lãng phí không
cần thiết, song chi phí quản lí cũng phải đủ lớn để đảm bảo cơ sở cho hoạt động
quản lí của BHXH được thực hiện dễ dạng. Hơn nữa lương cho cán bộ nhân viên
của ngành BHXH phải cân bằng với các ngành khác.
2.3. Quản lí hoạt động đầu tư nhằm bảo toàn và tăng trưởng quỹ.
Quỹ BHXH tại một thời điểm thường có số tiền kết dư rất lớn, đây là cơ sở của
những yêu cầu cần bảo toàn và phát triển quỹ. Như chúng ta đã biết thì quỹ thu
trước, chi sau, đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế thị trường với những cơ hội
cũng như những rủi ro có thể xảy ra bất cứ lúc nào nên việc bảo toàn và phát triển
quỹ lại trở thành nhu cầu bức thiết. Nếu quỹ không chú trọng đến vấn đề đầu tư có
thể sẽ đứng trước tình trạng bội chi hay nói cách khác là chi vượt quá thu. Nếu đầu
động trực tiếp tới hoạt động quản lí. Môi trường kinh tế như GDP, thu nhập bình
quân đầu người, giá cả, tình trạng nền kinh tế tăng trưởng hay khủng hoảng, mức
sống tối thiểu, các dịch vụ công cộng . Đây là các yếu tố tác động tới thu chi, cân
đối quỹ BHXH sao cho phù hợp đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động.
Bên cạch đó còn có các yếu tố như văn hoá, lối sống, truyền thống, trình độ nhận
thức, nó tác động đến mức độ chấp nhận, sự đồng tình thực hiện của mỗi cá nhân
trong xã hôi. Chẳng hạn như ở nước ta có truyền thống “lá lành đùm là rách, lá
rách ít đùm lá rách nhiều” rất phù hợp với mục đích triển khai BHXH nên được
mọi người đồng tình thực hiện. Tất cả những yếu tố kể trên tác động tới nội dung
của những quy định trong các quy chế quản lí tài chính BHXH Việt Nam.
Những tác động của bản thân các yếu tố bên trong hệ thống như ý thức tự giác của
các đối tượng tham gia là người lao động và đặc biệt là chủ sử dụng lao động. Yếu
tố trình độ của các cán bộ trong ngành BHXH, điều kiện làm việc, trang thiết bị
phục vụ công tác, cũng ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lí tài chính
BHXH. Trình độ cán bộ càng cao, cơ sở vật chất kĩ thuật cang đầy đủ và hiện đại
thì công tác quản lí tài chính BHXH càng thuận lợi, thực hiện càng có hiệu quả.
III. Kinh nghiệm của một số nước về quản lí tài chính BHXH.
Tính đến năm 1993, trên thế giới đã có 163 nước thực hiện chính sách BHXH,
trong đó số các nước thực hiện chế độ hưu trí, tai nạn lao động, ốm đau, thai sản là
nhiều nhất lên tới 155 nước, chiếm khoảng 95%, ít nhất là chế độ thất nghiệp là có
khoảng 63 nước, chiếm 38,6%. Việc thực hiện các chế độ là tuỳ thuộc vào điều
kiện tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi nước. Tuy nhiên xu hướng chung
hiện nay là đang dần thực hiện ngày càng đầy đủ hơn các chế độ. Đối với lịch sử
phát triển của ngành BHXH trên thế giới thì BHXH Việt Nam còn rất mới, như
vậy chúng ta cần học hỏi kinh nghiệm của các nước đi trước.
1. Quản lí tài chính BHXH ciủa Cộng hoà Liên bang Đức.
So với các nước trên thế giới, Cộng hoà Liên bang Đức là nước có lịch sử phát
triển được coi như sớm nhất. Điều luật BHXH đầu tiên đã ra đời và thực hiện từ
những năm 1850. Cho đến nay, chính sách BHXH ở Đức bao gồm 6 chế độ sau:
+ Bảo hiểm thất nghiệp.
loại chế độ nhất định. Điểm đáng lưu ý ở nước này là những công chức Nhà nước