ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
PHẠM VĂN LONG
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
TẠI BỆNH VIỆN TỈNH HÀ TĨNH LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
1.1. Quản lý tài chính bệnh viện 6
1.2. Nội dung quản lý tài chính bệnh viện 8
NHÂN VIÊN B. VIỆN 8
1.2.1. Lập dự toán thu chi 9
1.2.2. Thực hiện dự toán 14
1.2.3. Quyết toán 16
1.2.4. Thanh tra, kiểm tra, đánh giá 17
1.3. Những nhân tố cơ bản tác động đến quản lý tài chính bệnh viện 18
1.3.1. Nhân tố bên ngoài 18
1.3.2. Nhân tố bên trong 20
1.4. Những đổi mới trong cơ chế quản lý tài chính bệnh viện của nƣớc ta 22
1.5. Kinh nghiệm của một số nƣớc trong quản lý tài chính bệnh viện 26
1.5.1 Mô hình bệnh viện công của Trung Quốc 26
1.5.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 27
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI BỆNH VIỆN
TỈNH HÀ TĨNH 29
2.1. Khái quát bệnh viện tỉnh Hà Tĩnh 29
HỘI ĐỒNG TƢ VẤN 31
-HỘI ĐÔNG KHOA HỌC 31
2.2. Thực trạng quản lý tài chính tại bệnh viện tỉnh Hà Tĩnh 32
2.2.1. Đặc điểm quản lý tài chính bệnh viện: 32
2.2.2. Thực trạng việc khai thác các nguồn tài chính phục vụ hoạt động
của Bệnh viện tỉnh Hà Tĩnh. 33
2.2.3. Thực trạng sử dụng các nguồn tài chính của Bệnh viện tỉnh Hà Tĩnh.
41
2.2.4. Đánh giá việc khai thác và sử dụng nguồn tài chính tại Bệnh viện
3
NSNN
Ngân sách nhà nƣớc
4
XDCB
Xây dựng cơ bản
ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT
Bảng
Nội dung
Trang
1
Bảng 2.1
Tình hình thực hiện các nhiệm vụ chuyên
môn từ năm 2009 đến 2013
29
2
Bảng 2.2
Tỷ lệ chi NSNN cho y tế so với GDP từ năm
2003 đến 2013
32
3
Bảng 2.3
Kinh phí NSNN cấp cho Bệnh viện tỉnh Hà
42
10
Bảng 2.10
Tình hình tài chính của BVTHT qua một số
chỉ tiêu đánh giá tài chính
44 1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm vừa qua, cũng nhƣ nhiều địa phƣơng khác trong cả
nƣớc; sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân của tỉnh Hà
Tĩnh đã đạt đƣợc nhiều thành tựu quan trọng. Hệ thống y tế từng bƣớc đƣợc
kiện toàn từ tuyến tỉnh đến tuyến cơ sở huyện và xã; nhiều dịch bệnh nguy
hiểm đƣợc khống chế và kiểm soát; các loại hình dịch vụ y tế phát triển ngày
càng đa dạng; cơ sở vật chất, điều kiện làm việc của nhân viên y tế từng bƣớc
đƣợc nâng cấp; việc cung ứng thuốc và trang thiết bị y tế đã đáp ứng đƣợc
nhu cầu thiết yếu của các lĩnh vực khám chữa bệnh và dự phòng; trình độ của
đội ngũ cán bộ y tế ở các tuyến ngày càng đƣợc nâng cao. Ngƣời dân ở hầu
hết các vùng, miền trong tỉnh đã đƣợc thụ hƣởng những dịch vụ chăm sóc sức
khỏe với độ bao phủ ngày càng rộng khắp và chất lƣợng ngày càng đảm bảo
hơn. Nhờ vậy, nhiều chỉ tiêu về tình trạng sức khoẻ dân cƣ trên địa bàn đã
không ngừng đƣợc cải thiện.
Tuy nhiên, hoạt động bảo vệ chăm sóc và nâng cao sức khẻo nhân dân
của tỉnh Hà Tĩnh hiện vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức:
hệ thống y tế chậm đổi mới chƣa theo kịp tốc độ phát triển của kinh tế thị
Đầu tƣ cho y tế không phải là tiêu phí mà là đầu tƣ cơ bản, đầu tƣ cho
phát triển. Theo quan điểm mới, bệnh viện là một đơn vị kinh tế dịch vụ
nhƣng khác với các đơn vị kinh doanh dịch vụ bởi hoạt động cung cấp dịch
vụ của bệnh viện không đặt mục tiêu lợi nhuận làm mục tiêu quan trọng nhất.
Đơn vị kinh tế dịch vụ thông qua các hoạt động dịch vụ của mình để có thu
nhập và tích cực hoạt động không vì doanh lợi.
Xuất phát từ quan niệm mới trên, Đảng và Nhà nƣớc ta đã có những thay
đổi căn bản trong cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu
trong chƣơng trình nghị sự cải cách tài chính công. Đó là:
3
Thứ nhất, thay cho việc cấp kinh phí theo số lƣợng biên chế nhƣ hiện
nay bằng việc tính toán kinh phí căn cứ vào kết quả và chất lƣợng hoạt động,
hƣớng vào kiểm soát đầu ra, chất lƣợng chi tiêu theo mục tiêu cho đơn giản
hơn, tăng quyền chủ động cho đơn vị sử dụng ngân sách.
Thứ hai, xoá bỏ cơ chế cấp phát theo kiểu “ Xin- Cho”, thực hiện chế độ
tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp trên cơ sở xác định nhiệm vụ phải
thực hiện, mức hỗ trợ tài chính từ ngân sách và phần còn lại do đơn vị tự
trang trải.
Thứ ba, khuyến khích các nhà đầu tƣ trong và ngoài nƣớc phát triển
trong các lĩnh vực giáo dục, y tế. Khuyến khích liên doanh và đầu tƣ trực tiếp
của nƣớc ngoài vào lĩnh vực này.
Thực tế trên đòi hỏi quản lý tài chính trong bệnh viện vừa phải đảm bảo
các mục tiêu tài chính vừa đảm bảo tính hiệu quả, công bằng trong chăm sóc
sức khoẻ. Quản lý tài chính bệnh viện trở thành chìa khoá quyết định sự thành
công hay thất bại trong việc quản lý bệnh viện; quyết định sự tụt hậu cũng
nhƣ phát triển của bệnh viện.
kỹ thuật thống kê, tổng hợp, phân tích , sơ đồ, biều đồ, đồ thị, bảng biểu để
phân tích xử lý số liệu.
Ngoài ra thông qua việc phân tích, xử lý thông tin, trên cơ sở tham khảo
ý kiến của các nhà khoa học kinh tế, các nhà quản lý tài chính trong gành y tế
và kiến thức của bản thân để đƣa ra các giải pháp nhằm tăng cƣờng quản lý
tài chính tại Bệnh viện tỉnh Hà Tĩnh.
5
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm ba chƣơng:
Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về quản lý tài chính bệnh viện
Chƣơng 2: Thực trạng quản lý tài chính tại Bệnh viện tØnh Hµ TÜnh
Chƣơng 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại
Bệnh viện tØnh Hµ TÜnh
6
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH BỆNH VIỆN
1.1. Quản lý tài chính bệnh viện
Quản lý tài chính bệnh viện theo nghĩa rộng là sự tác động liên tục có
Từng bƣớc tiến tới hạch toán chi phí và giá thành khám chữa bệnh.
Mục tiêu của quản lý tài chính trong bệnh viện
Hiệu quả thực hiện của tài chính kế toán là mục tiêu quan trọng của
quản lý tài chính bệnh viện. Các yếu tố của mục tiêu này bao gồm:
Duy trì cán cân thu chi: đây là điều kiện tiên quyết và bắt buộc của
quản lý tài chính bệnh viện và cũng là tiêu chuẩn cho sự thành công
trong cơ chế quản lý mới – tiến tới hạch toán chi phí.
Bệnh viện phải cải thiện chất lƣợng thông qua một số chỉ tiêu
chuyên môn nhƣ: tỉ lệ tử vong, …
Nhân viên hài lòng với bệnh viện: đời sống cán bộ công nhân viên
đƣợc cải thiện, cải thiện phƣơng tiện làm việc, xây dựng văn hóa
Bệnh viện.
Bệnh viện phát triển cơ sở vật chất, phát triển các chuyên khoa.
Công bằng y tế: chất lƣợng phục vụ nhƣ nhau cho toàn bộ các đối tƣợng
8 Nhƣ vậy, quản lý tài chính bệnh viện phải đáp ứng cùng lúc bốn đối
1.2.1. Lập dự toán thu chi
Lập dự toán thu chi các nguồn kinh phí của bệnh viện là thông qua các
nghiệp vụ tài chính để cụ thể hoá định hƣớng phát triển, kế hoạch hoạt động
ngắn hạn của bệnh viện, trên cơ sở tăng nguồn thu hợp pháp và vững chắc,
đảm bảo đƣợc hoạt động thƣờng xuyên của bệnh viện, đồng thời từng bƣớc
củng cố và nâng cấp cơ sở vật chất của bệnh viện, tập trung đầu tƣ đúng mục
tiêu ƣu tiên nhằm đạt hiệu quả cao, hạn chế tối đa lãng phí và tiêu cực, từng
bƣớc tính công bằng trong sử dụng các nguồn đầu tƣ cho bệnh viện.
Khi xây dựng dự toán thu chi của bệnh viện cần căn cứ vào:
- Phƣơng hƣớng nhiệm vụ của đơn vị
- Chỉ tiêu, kế hoạch có thể thực hiện đƣợc
- Kinh nghiệm thực hiện các năm trƣớc
- Khả năng ngân sách nhà nƣớc cho phép
- Khả năng cấp vật tƣ của Nhà nƣớc và của thị trƣờng
- Khả năng tổ chức quản lý và kỹ thuật của đơn vị
Các nguồn tài chính của bệnh viện
Ngân sách nhà nước cấp (Bao cấp công cộng)
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về ngân sách Nhà nƣớc cấp cho bệnh
viện ở Việt Nam. Nhìn chung, các nguồn đầu tƣ kinh phí cho bệnh viện thông qua
kênh phân bổ của Chính phủ đƣợc coi là NSNN cấp cho bệnh viện. Theo đó, ngân
10
sách cho bệnh viện có thể bao gồm chi sự nghiệp và đầu tƣ xây dựng cơ bản từ
NSNN, chi từ bảo hiểm y tế, thu viện phí và viện trợ nƣớc ngoài… Tuy nhiên,
nguồn NSNN cấp cho bệnh viện ở đây đƣợc định nghĩa là khoản chi cho bệnh
viện từ NSNN cấp cho sự nghiệp y tế, cân đối từ nguồn thuế trực thu và thuế gián
thu. Bao gồm các khoản chi đầu tƣ, chi vận hành hệ thống.
chi phí thực tế sử dụng trực tiếp cho ngƣời bệnh. Đối với khám chữa bệnh
theo yêu cầu thì mức thu đƣợc tính trên cơ sở mức đầu tƣ của bệnh viện và
cũng phải đƣợc cấp có thẩm quyền phê duyệt. Đối với ngƣời có thẻ Bảo hiểm
y tế thì cơ quan bảo hiểm thanh toán viện phí của bệnh nhân cho bệnh viện.
Tuy nhiên ở Việt Nam mới chỉ phổ biến loại hình bảo hiểm y tế bắt buộc áp
dụng cho các đối tƣợng công nhân viên chức làm công ăn lƣơng trong các cơ
quan Nhà nƣớc và các doanh nghiệp. Các loại hình bảo hiểm khác chƣa đƣợc
triển khai một cách phổ biến.
Hiện nay, với chủ trƣơng xã hội hoá các hoạt động chăm sóc sức khoẻ
của Đảng và Nhà nƣớc, các loại hình bệnh viện và cơ sở y tế bán công ngoài
công lập ra đời với cơ chế tài chính chủ yếu dựa vào nguồn thu viện phí và
bảo hiểm y tế.
Nguồn viện trợ và các nguồn thu khác
Nguồn viện trợ và các nguồn thu khác cũng đƣợc Chính phủ Việt Nam
quy định là một phần ngân sách của Nhà nƣớc giao cho bệnh viện quản lý và
sử dụng. Tuy nhiên bệnh viện thƣờng phải chi tiêu theo định hƣớng những nội
dung đã định từ phía nhà tài trợ. Nguồn kinh phí này đáp ứng khoảng 20-30%
chi tối thiểu của bệnh viện.
Chi
Nhóm I: Chi cho con người
Bao gồm các khoản chi về lƣơng, phụ cấp lƣơng (đƣợc tính theo chế độ
hiện hành, kể cả nâng bậc lƣơng hàng năm trong từng đơn vị hành chính sự
12
nghiệp) và các khoản phải nộp theo lƣơng : bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội.
Đây là khoản bù đắp hao phí sức lao động, đảm bảo duy trì quá trình tái sản
xuất sức lao động cho bác sỹ, y tá, cán bộ công nhân viên của bệnh viện. Theo
chuyên môn có liên hệ chặt chẽ với chất lƣợng săn sóc bệnh nhân và mục tiêu
phát triển bệnh viện.
Vấn đề đặt ra trong việc quản lý nhóm chi này là do những quy định
không quá khắt khe đòi hỏi các nhà quản lý phải biết sử dụng đúng mức và
thích hợp, tránh làm mất cân đối thu chi đặc biệt là thuốc nhƣng vẫn giữ dƣợc
chất lƣợng điều trị và nhất là tiết kiệm đƣợc kinh phí, tránh lãng phí: chi thuốc
không quá 50% nhóm chi chuyên môn.
Nhóm IV: Chi mua sắm, sửa chữa tài sản cố định
Hàng năm do nhu cầu hoạt động, do sự xuống cấp tất yếu của tài sản cố
định dùng cho hoạt động chuyên môn cũng nhƣ quản lý nên thƣờng phát sinh
nhu cầu kinh phí để mua sắm, trang bị thêm hoặc phục hồi giá trị sử dụng cho
những tài sản cố định đã xuống cấp. Có thể nói đây là nhóm chi mà các bệnh
viện đều quan tâm vì nhóm này có thể làm thay đổi bộ mặt của bệnh viện và
thay đổi công nghệ chăm sóc bệnh nhân theo hƣớng phát triển từng giai đoạn.
Tỷ lệ chi nhóm này nên ở mức trên 20% với bốn mục tiêu chính:
- Duy trì và phát triển cơ sơ vật chất
- Duy trì và phát triển tiện nghi làm việc
- Duy trì và phát triển trang thiết bị
- Duy trì và phát triển kiến thức, kỹ năng nhân viên
* Về sửa chữa
Nhìn chung các bệnh viện của Việt Nam đều xuống cấp và đòi hỏi phải
sửa chữa, nâng cấp, mở rộng đặc biệt là trong tình trạng quá tải bệnh nhân
nhƣ hiện nay. Nhƣng đây là nhóm đƣợc quy định rất chặt chẽ trong từng phần
14
vụ: sửa chữa nhỏ và sửa chữa lớn. Vấn đề đặt ra là phải sửa chữa đúng mức,
đầy đủ, đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh; đòi hỏi phát huy năng lực quản lý trong
với việc tăng
cƣờng quản lý Nhà nƣớc bằng pháp luật, một hệ thống các văn bản quy
phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý tài chính ngày càng đƣợc
hoàn thiện. Việc chấp hành dự toán thu chi ngày càng đƣợc luật hoá,
tạo điều kiện cho đơn vị chủ động thực hiện theo đúng chức năng,
nhiệm vụ của mình.
Khả năng nguồn tài chính có thể đáp ứng nhu cầu hoạt động của bệnh
viện.
Chính sách, chế độ chi tiêu và quản lý tài chính hiện hành của Nhà
nƣớc.
Yêu cầu của công tác thực hiện dự toán
Đảm bảo phân phối, cấp phát, sử dụng nguồn kinh phí một cách hợp
lý, tiết kiệm và hiệu quả.
Đảm bảo giải quyết linh hoạt về kinh phí. Do sự hạn hẹp của nguồn
kinh phí và những hạn chế về khả năng dự toán nên giữa thực tế diễn ra
trong quá trình chấp hành và dự toán có thể có những khoảng cách nhất
định đòi hỏi phải có sự linh hoạt trong quản lý. Nguyên tắc chung là chi
theo dự toán nhƣng nếu không có dự toán mà cần chi thì có quyết định
kịp thời, đồng thời có thứ tự ƣu tiên việc gì trƣớc, việc gì sau. Khi thực
hiện dự toán bệnh viện cần phải chú ý:
+ Khâu vệ sinh phòng dịch
+ Thuốc men đảm bảo khám và chữa bệnh
+ Trang thiết bị
16
+ Tiền lƣơng và phụ cấp cho cán bộ công nhân viên
+ Sửa chữa, nâng cấp bệnh viện
Thực hiện báo cáo quý sau 15 ngày và báo cáo năm sau 45 ngày theo
quy định của Nhà nƣớc.
1.2.4. Thanh tra, kiểm tra, đánh giá
Việc thực hiện kế hoạch không phải bao giờ cũng đúng nhƣ dự kiến. Do
vậy, đòi hỏi phải có sự thanh tra, kiểm tra thƣờng xuyên để phát hiện sai sót,
uốn nắn và đƣa công tác quản lý tài chính đi vào nền nếp. Việc kiểm tra giúp
đơn vị nắm đƣợc tình hình quản lý tài chính nhằm đảm bảo hiệu quả đầu tƣ.
Cùng với việc thanh tra, kiểm tra, công tác đánh giá rất đƣợc coi trọng
trong quá trình quản lý tài chính. Đánh giá để xem việc gì đạt hiệu quả, những
việc gì không đạt gây lãng phí để có biện pháp động viên kịp thời cũng nhƣ
rút kinh nghiệm quản lý. Tuy nhiên các tiêu chí đánh giá hiện nay chƣa thống
nhất và còn nhiều tranh luận và càng khó khăn do tính đặc thù của mình, hoạt
động kinh tế của bệnh viện gắn bó hữu cơ với mục tiêu “công bằng trong
cung cấp dịch vụ y tế cho nhân dân”. Hiện nay ngƣời ta thƣờng dùng ba nội
dung để đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính của bệnh viện. Đó là:
Chất lượng chuyên môn: liên quan đến cơ cấu tổ chức, phƣơng pháp
tiến hành hoạt độngvà tình trạng bệnh nhân khi xuất viện.
Hạch toán chi phí bệnh viện: liên quan đến chi phí kế toán và chi phí
kinh tế.
Mức độ tiếp cận các dịch vụ bệnh viện: của nhân dân trên địa bàn.
18
1.3. Những nhân tố cơ bản tác động đến quản lý tài chính bệnh viện
1.3.1. Nhân tố bên ngoài
Công cuộc đổi mới đất nƣớc đã tạo nên sự chuyển biến quan trọng trong
tất cả các các lĩnh vực hoạt động của xã hội. Quá trình đổi mới này đã tạo
thuận lợi cho sự phát triển của hệ thống y tế nói chung và bệnh viện nói riêng.
Về chính trị
Việt Nam từng bƣớc xây dựng nhà nƣớc pháp quyền, mở rộng dân chủ,
ổn định chính trị. Chính sách ngoại giao “ mở cửa” giúp Việt Nam từng bƣớc
hội nhập với khu vực và thế giới, thoát khỏi sự cô lập và bao vây kinh tế,
quan hệ quốc tế ngày càng đƣợc mở rộng. Những tiến bộ chính trị này tạo
điều kiện thuận lợi cho các bệnh viện hợp tác quốc tế, thu hút nguồn viện trợ
nƣớc ngoài cũng nhƣ tiếp cận các tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Trong môi
trƣờng mở cửa, việc hợp tác với các tổ chức y tế thế giới cũng nhƣ nhận các
khoản viện trợ không hoàn lại của bệnh viện gặp nhiều thuận lợi và không
ngừng tăng.
Môi trường pháp lý
Nhà nƣớc đã chú ý đến đầu tƣ phát triển văn hoá xã hội nhằm từng bƣớc
nâng cao chất lƣợng cuộc sống của nhân dân, cố gắng thực hiện công bằng xã
hội. Với chính sách “xã hội hoá, đa dạng hoá” đã tạo điều kiện tăng các nguồn
lực để phát triển các mặt xã hội và kết quả bƣớc đầu đã có nét khởi sắc. Chính
sách này cho phép các bệnh viện đa dạng hoá việc khai thác các nguồn tài
chính phục vụ cho công tác khám chữa bệnh của mình: phát triển thành bệnh
viện bán công; xây dựng khoa khám và điều trị tự nguyện…
Cùng với các chính sách mới về kinh tế, xã hội, trong những năm qua
Nhà nƣớc đã ban hành một hệ thống các chính sách để củng cố, phát triển hệ
thống y tế, nâng cao chất lƣợng các dịch vụ y tế đồng thời đảm bảo công bằng
và hiệu quả trong công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân nói chung và các