Quốc tế hóa nền kinh tế thế giới và chính sách cho hàng hóa may mặc việt nam - Pdf 20

Lời mở đầu

Đặc trưng quan trọng của tình hình thế giới ngày nay là xu hướng quốc tế hoá. Nền
kinh tế thế giới ngày càng phát triển, mỗi nước dù lớn hay nhỏ đều phải tham gia
vào sự phân công lao động khu vực và quốc tế. Ngày nay không một dân tộc nào có
thể phát triển đất nước mình mà chỉ bằng tự lực cánh sinh. Đặc biệt đối với các
nước đang phát triển như Việt Nam thì việc nhận thức đầy đủ những đặc trưng quan
trọng này và ứng dụng vào tình hình thực tế đất nước có tầm quan trọng hơn bao giờ
hết. ở nước ta, Khi xác định những quan điểm lớn về công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng đã khẳng định “kiên
trì chiến lược hướng mạnh về xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu những sản
phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả, phát huy lợi thế so sánh của đất nước cũng
như của từng vùng, từng nghành, từng lĩnh vực trong từng thời kỳ, không ngừng
nâng cao sức mạnh cạnh tranh trên thị trường trong nước, thị trường khu vực và thị
trường thế giới” .
Thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, trong những năm
qua thương mại Việt Nam đã đạt được những thành tựu bước đầu quan trọng, góp
phần tạo nên những biến đổi sâu sắc nền kinh tế - xã hội nước ta và vị thế mới trên
thị trường quốc tế. Việt Nam đã thiết lập được nhiều mối quan hệ ngoại giao với
nhiều nước, tiếp tục mở rộng hoạt động ngoại thương theo hướng đa dạng hoá, đa
phương hoá, tích cực hội nhập vào nền kinh tế thế giới, tham gia các tổ chức thương
mại quốc tế như ASEAN, AFTA, APEC . Điều này đã đạc biệt làm cho lĩnh vực
xuất nhập khẩu ngay càng trở nên sôi động.
2

Trong số 10 mặt hàng có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, phải
kể đến hàng dệt may. Tuy đứng ở vị trí thứ hai, nhưng đây là mặt hàng có nhiều lợi
thế so sánh và có khả năng phát triển cao. Hơn nữa, với điều kiện tình hình nước ta
hiện nay, tập trung phát triển hàng dệt may là hoàn toàn phù hợp.
Như vậy, cả về mặt lý luận và thực tiễn, đề tài “ Một số biện pháp đẩy mạnh xuất
khẩu hàng may mặc ở Tổng Công ty Dệt May Việt Nam” góp phần giải quyết

của một doanh nghiệp. Hoạt động này được tiếp tục ngay cả khi doanh nghiệp đã đa
dạng hoá hoạt động kinh doanh của mình.
Xuất khẩu hàng hoá nằm trong lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hoá của một
quá trình tái sản xuất mở rộng, nhằm mục đích liên kết sản xuất với tiêu dùng của
nước này với nước khác. Nền sản xuất xã hội phát triển như thế nào phụ thuộc rất
nhiều vào hoạt động kinh doanh này.
2. Các hình thức xuất khẩu thông dụng ở Việt Nam
a/ Xuất khẩu uỷ thác
Trong phương thức này, đơn vị có hàng xuất khẩu là bên uỷ thác giao cho đơn vị
xuất khẩu gọi là bên nhận uỷ thác tiến hành xuất khẩu một hoặc một số lô hàng nhất
định với danh nghĩa của mình (bên nhận uỷ thác) nhưng với chi phí của bên uỷ thác.
Về bản chất, chi phí trả cho bên nhận uỷ thác chính là tiền thu lao trả cho đại lý.
4

Theo nghị định 64-HĐBT, chi phí uỷ thác xuất khẩu không cao hơn 1% của tổng số
doanh thu ngoại tệ về xuất khẩu theo điều kiện FOB tại Việt Nam.
Ưu nhược điểm của xuất khẩu uỷ thác:
-Ưu điểm: Công ty uỷ thác xuất khẩu không phải bỏ vốn vào kinh doanh, tránh được
rủi ro trong kinh doanh mà vẫn thu được một khoản lợi nhuận là hoa hồng cho xuất
khẩu. Do chỉ thực hiện hợp đồng uỷ thác xuất khẩu nên tất cả các chi phí từ nghiên
cứu thị trường, giao dịch đàm phán ký kết hợp đồng và thực hiện hợp đồng không
phải chi, dẫn tới giảm chi phí trong hoạt động kinh doanh của Công ty.
-Nhược điểm: do không phải bỏ vốn vào kinh doanh nên hiệu quả kinh doanh thấp
không bảo đảm tính chủ động trong kinh doanh. Thị trường và khách hàng bị thu
hẹp vì Công ty không có liên quan tới việc nghiên cứu thị trường và tìm khách hàng.
b/ Xuất khẩu trực tiếp:
Trong phương thức này, đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp ký kết hợp
đồng ngoại thương, với tư cách là một bên phải tổ chức thực hiện hợp đồng đó. Hợp
đồng ký kết giữa hai bên phải phù hợp với luật lệ quốc gia và quốc tế, đồng thời bảo
đảm được lợi ích quốc gia và đảm bảo uy tín kinh doanh của doanh nghiệp. Để thực

3.Vị trí, vai trò của hoạt động xuất khẩu.
Xuất khẩu hàng hoá là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm vi quốc tế. Nó
6

không phải là hành vi mua bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán
trong một nền thương mại có tổ chức cả bên trong và bên ngoài nhằm bán sản phẩm,
hàng hoá sản xuất trong nước ra nước ngoài thu ngoại tệ, qua đó có thể đẩy mạnh
sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế ổn định từng bước nâng cao
mức sống nhân dân. Do vậy, xuất khẩu là hoạt động kinh tế đối ngoại để đem lại
những hiệu quả đột biến cao hoặc có thể gây thiệt hại vì nó phải đối đầu với một hệ
thống kinh tế khác từ bên ngoài mà chủ thể trong nước tham gia xuất khẩu không dễ
dàng khống chế được.
Xuất khẩu hàng hoá nằm trong lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hoá của
một quá trình tái sản xuất mở rộng, nhằm mục đích liên kết sản xuất với tiêu dùng
của nước này với nước khác. Nền sản xuất xã hội phát triển như thế nào phụ thuộc
rất nhiều vào hoạt động kinh doanh này.
Đối với nước ta, nền kinh tế đang bước đầu phát triển, cơ sở vật chất kỹ thuật còn
thấp kém, không đồng bộ, dân số phát triển nhanh nên việc đẩy mạnh xuất khẩu thu
ngoại tệ cải thiện đời sống và phát triển kinh tế là cực kỳ quan trọng. Đảng và Nhà
nước ta chủ trương phát triển quan hệ đối ngoại và kinh tế đối ngoại đặc biệt hướng
mạnh vào xuất khẩu hàng hoá là một chủ chương đúng đắn phù hợp với quy luật
kinh tế khách quan. Hơn bao giờ hết, xuất khẩu hàng hoá thực sự có vai trò quan
trọng, cụ thể là:
Thứ nhất: Hoạt động xuất khẩu tạo nguồn vốn ngoại tệ quan trọng để đảm bảo nhu
cầu nhập khẩu.
Trong kinh doanh quốc tế, xuất khẩu không phải là chỉ để thu ngoại tệ về, mà là với
mục đích đảm bảo cho nhu cầu nhập khẩu hàng hoá dịch vụ khác nhằm thoả m•n
7

nhu cầu tiêu dùng, tăng trưởng nền kinh tế và tiến tới xuất siêu (xuất khẩu > nhập

việc khai thác đó có hiệu quả hơn vì khi xuất khẩu, các doanh nghiệp xuất nhập
khẩu có ngoại tệ để nhập máy móc, thiết bị tiên tiến đưa năng suất lao động lên cao.
Các lợi thế cần khai thác ở nước ta là nguồn lao động dồi dào, cần cù, giá thuê rẻ,
nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và địa thế địa lý đẹp.
Thứ ba: Hoạt động xuất khẩu góp phần làm chuyển dịch cơ cấu sản xuất, định
hướng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Chúng ta biết rằng có hai xu hướng xuất khẩu: xuất khẩu đa dạng và xuất khẩu mũi
nhọn.
Xuất khẩu đa dạng là có mặt hàng nào xuất khẩu được thì xuất khẩu nhằm thu được
nhiều ngoại tệ nhất, nhưng với mỗi mặt hàng thì lại nhỏ bé về quy mô, chất lượng
thấp (vì không được tập trung đầu tư) nên không hiệu quả.
Xuất khẩu hàng mũi nhọn: Tuân theo quy luật lợi thế so sánh của David Ricardo tức
là tập trung vào sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng mà mình có điều kiện nhất,
có lợi thế so sánh hay chính là việc thực hiện chuyên môn hoá và phân công lao
động quốc tế. Khi đó, nước ta có khả năng chiếm lĩnh thị trường, trở thành "độc
quyền" mặt hàng đó và thu lợi nhuận siêu ngạch. Xuất khẩu mũi nhọn có tác dụng
như đầu của một con tàu, tuy nhỏ bé nhưng nó có động cơ, do đó nó có thể kéo cả
9

đoàn tàu tiến lên. Hiện nay, đây là hướng xuất khẩu chủ yếu của nước ta, có kết hợp
với xuất khẩu đa dạng để tăng thu ngoại tệ.
Và khi mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn đem lại hiệu quả cao thì các doanh nghiệp sẽ
tập trung đầu tư để phát triển ngành hàng đó, dẫn đến phát triển các ngành hàng có
liên quan. Ví dụ: Khi ngành may xuất khẩu phát triển làm cho ngành dệt cũng phát
triển để cung cấp nguyên vật liệu cho ngành may dẫn đến ngành trồng bông, đay
cũng phát triển để cung cấp nguyên vật liệu cho ngành dệt.
Hơn nữa, xu hướng xuất khẩu là mũi nhọn làm thay đổi cơ cấu các ngành sản xuất
trong nền kinh tế vì cơ cấu một nền kinh tế chính là số lượng các ngành sản xuất và
tỷ trọng của chúng so với tổng thể.
Rõ ràng, tỷ trọng ngành hàng mũi nhọn là tăng lên và tăng mạnh còn trong nội bộ

tác, liên doanh
Tóm lại : phát triển hoạt động xuất khẩu là một chiến lược để phát triển nền kinh tế
nước ta.
II. Vai trò của xuất khẩu hàng may mặc đối với việt nam.
Trước khi tìm hiểu vai trò của xuất khẩu chúng ta phải xác định được nhiệm vụ của
chúng đó là:
- Phải biết khai thác có hiệu quả lợi thế của đất nước, kích thích các ngành kinh tế
11

phát triển.
- Phải góp phần tăng tích luỹ, mở rộng sản xuất tăng thu nhập cho nền kinh tế quốc
dân.
- Xuất khẩu là cải thiện đời sống nhân dân thông qua việc tạo công ăn việc làm, tạo
nguồn thu nhập.
- Phải biết khai thác những thị trường hiện có và quan tâm tới thị trường chưa được
khai thác.
- Lợi dụng khối lượng mua hàng lớn lao của nước ngoài.
- Tìm thị trường cho sản phẩm khi lượng bán giảm sút.
- Mở rộng nền tảng bán hàng để trải rộng chi phí bán hàng.
- Sử dụng năng lực sản xuất thừa.
- Biết được những phương pháp kỹ thuật tiên tiến được sử dụng ở nước ngoài.
- Theo dõi sự cạnh tranh của các đối thủ có sản phẩm cùng loại trên thị trường.
Ngoài ra hoạt động kinh doanh xuất khẩu còn phải có nhiệm vụ góp phần thực hiện
tốt chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước: “Đa dạng hoá và đa phương hoá
quan hệ quốc tế, tăng cường hợp tác khu vực “.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ kể trên thì công tác xuất khẩu phải nhận rõ các vai trò
quan trọng sau:
- Thu ngoại tệ về cho đất nước, đây là nguồn vốn quan trọng để thoả m•n nhu cầu
nhập khẩu và tích luỹ phát triển sản xuất. Thật vậy, nhập khẩu cũng như vốn đầu tư
của một nước thường dựa vào ba nguồn chủ yếu là viện trợ, đi vay, xuất khẩu.

III. thị trường cho hàng may mặc và xu hướng nhập khẩu hàng may mặc trên thế
giới.
1. Về thị trường may mặc Việt Nam.
1.1. thị trường EU:
Thị trường EU với dân số 340 triệu là nơi tiêu thụ lớn và đa dạng các loại quần áo.
Mức tiêu thụ thị trường này là khá cao: 17 kg / người / năm. ở đây, người ta có thấy
đủ loại hàng hoá từ các nước như Mỹ, Trung Quốc, Nhật, Hồng Kông, Đài Loan.
Hàng năm EU nhập khoảng 63 tỷ USD quần áo vừa qua hạn ngạch mà EU dành cho
công nghệ là 22 nghìn tấn hàng dệt may giá trị khoảng 450 triệu USD và hiệp định
ký cho giai đoạn tới 1998-200 giá trị sẽ tăng 40% và so với giá trị hiệp định cũ (chi
giai đoạn 1993-1997). Đây là thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam và EU ký
hiệp định buôn bán dệt may từ năm 1992 trong đó có hạn ngạch gia công thuần tuý
(TPP). Có nghĩa là khách hàng gửi nguyên phụ liệu từ một nước thứ ba thuê gia
công tại Việt Nam, sau đó xuất sang EU. Còn nếu khách hàng EU gửi nguyên phụ
liệu từ EU sang gia công tại Việt Nam, sau đó xuất ngược lại sang EU thì không
tính vào hạn ngạch. Qua 5 năm thực hiện hiệp định buôn bán hàng dệt may với EU
sản xuất hàng may mặc của Việt Nam sang thị trường này đã có bước tiến vững
chắc. Năm 1993 tổng kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc Việt Nam vào EU đạt
được khoảng 250 triệu USD, năm 1996 đạt 400 triệu USD và dự kiến năm 1998 sẽ
đạt 650 triệu USD.
Cũng như các năm trước đây mặt hàng áo Jacket luôn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ
cấu xuất khẩu may mặc đi EU và thường chiếm 50% trong tổng kim ngạch. Chất
14

lượng hàng may mặc Việt Nam đã được khách hàng chấp nhận, chỉ tính riêng năm
1996 hàng dệt-may Việt Nam đã xuất sang tất cả các nước EU với giá trị hàng trăm
triệu USD, đứng đầu là Đức ( 150 triệu USD), Pháp (60 triệu USD), Tây Ban Nha (
16 triệu USD), Bỉ ( 10 triệu USD), Thuỵ Điển (7,5 triệu USD), Bồ Đào Nha ( 1,3
triệu USD)
Thị trường may mặc EU có tiềm năng và triển vọng rất lớn đối với các doanh

Với dân số khoảng 120 triệu người và mức thu nhập bình quân đầu người 26 nghìn
USD/năm thì nhu cầu về may mặc là không nhỏ, hàng năm Nhật Bản nhập khẩu
khoảng 7-8 tỷ USD hàng may mặc. Năm 1994 hàng may Việt Nam xuất sang Nhật
xấp xỉ 130 triệu USD, năm 1996 xuất sang Nhật chiếm 90% kim ngạch của mảng thị
trường không hạn ngạch và đạt 500 triệu USD. Mặt khác, xuất sang Nhật thường là
áo Jacket, quần áo sơ mi do các đơn vị phía Bắc gia công, áo Kimono do các đơn vị
phía Nam thực hiện.
Đây tuy là thị trường đòi hỏi cao song cũng đầy hứa hẹn, neus như đầu tư tốt, nâng
cao được chất lượng, mẫu mã phong phú, màu sắc đa dạng, nắm vững thị hiếu thì có
khả năng hàng may mặc của ta sé phát triển mạnh ở thị trường này.
1.3. Thị trường Hoa Kỳ và Bắc Mỹ
Mỹ là thị trường khá hấp dẫn, lý tưởng của ngành dệt-may vì dân số Mỹ khá đông,
16

hiện có 253 triệu người, đa số sống ở thành thị có mức thu nhập quốc dân cao. Do
đó người Mỹ có sức mua lớn và nhu cầu đa dạng. Riêng hàng dệt may nhu cầu nhập
khẩu hàng năm lên tới 30-36 tỷ USD như năm 1996 là 34 tỷ USD. Nguồn nhập chủ
yếu là từ các nước Châu á:
Bảng 6: Một số nguồn nhập khẩu chính về hàng may mặc tại Châu á của Hoa Kỳ.
Nước Giá trị ( tỷ USD)
Trung Quốc 6,1
Hồng Kông 5
Hàn Quốc 1,8
Đài Loan 2,3
Các nước ASEAN khác 4,5
(Nguồn: Tổng Công ty dệt may Việt Nam.)
Tháng 2/1994 Mỹ bỏ cấm vận với Việt Nam, tháng 8/1994 Mỹ bỏ cấm vận viện trợ
và tháng 7/1995 Mỹ bình thường hoá mối quan hệ với Việt Nam. Tuy nhiên, chúng
ta đang mong chờ được hưởng quy chế tối huệ quốc (MFN-The Most Favourel
Nation) cho hàng nhập khẩu từ Mỹ vào Việt Nam. Đây cũng là điều kiện chìa khoá

do các thương gia buôn theo từng chuyến còn về phía doanh nghiệp thì chỉ mức thấp
do chưa tìm được phương thức thanh toán hợp lý thây thế cho phương thức hàng đổi
18

hàng trước đây.
Như vậy có thể nói, với Việt Nam đây là thị trường truyền thống mà mấy năm vừa
qua chúng ta để vượt khỏi tầm tay. Cần nhanh chóng tìm ra giải pháp cần thiết để
nối lại quan hệ với thị trường không kém phần hấp dẫn này. Các doanh nghiệp cần
mạnh dạn triển khai phương thức thanh toán mới phát huy lợi thế vốn có của ta
trong nhiều năm qua trên thị trường này.
1.5. Thị trường các nước ASEAN
Việt Nam đã là thành viên chính thức của ASEAN và đang trên tiến trình thực hiện
AFTA, bên cạnh những cơ hội lớn mở ra cũng còn nhiều thách thức. Phải tiến hành
cắt giảm thuế quan và hàng hoá được lưu chuyển tự do giữa các nước ASEAN tạo
nên sự cạnh tranh gay gắt đối với hàng hoá Việt Nam, buộc các doanh nghiệp Việt
Nam phải nỗ lực cải tiến công nghệ, áp dụng phương thức quản lý hiện đại và phải
tạo được cho mình một nền tảng vững chắc về mọi mặt để trụ vững trên thương
trường. Sản phẩm có được thị trường chấp nhận hay không quyết định đến sự tốn tại
của Công ty. Dưới sức ép đó sẽ xoá bỏ đi được các Công ty làm ăn trì trệ. Tuy
nhiên về phía Việt Nam chắc chắn sẽ có nhiều Công ty cần phải “lột xác “.
Bù lại, thị trường ASEAN với 430 triệu dân, thu nhập bình quân đầu người hàng
năm 1.608 USD, tốc độ phát triển bình quân 6-8%/ năm, thì đây quả là một thị
trường lớn cho hàng may mặc. ASEAN còn là một thị trường có nền văn hoá tương
đồng lẫn nhau. Do đó thị hiếu, lối sống cũng tương đối giống nhau, điều này là điều
kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp may mặc Việt Nam xâm nhập dế ràng hơn.
1.6. Thị trường trong nước
Chúng ta chủ yếu chú trọng đến sản xuất hàng may xuất khẩu và đã có những đóng
19

góp đáng kể cho nền kinh tế quốc dân. Song chúng ta đã để lại khoảng trống sau

vụ tiêu thụ
Hoạt động của các thể chế quốc tế và khu vực đã đưa lại hiệu quả giúp cho thương
mại quốc tế được ổn dịnh và phát triển. Trong tương lai các định chế này sẽ không
thể không tham gia một cách tích cực vào các định chế thế giới và khu vực nói trên.
Với cơ chế hoạt động của thị trường thế giới như vậy đã ảnh hưởng tới việc sản xuất
và tiêu thụ hàng dệt may trên thế giới. Như khu vực EU đã có các mức thuế ưu đãi
đối với hàng dệt may của các nước đang phát triển xuất khẩu vào thị trường này.
Hiệp định các nước EU đã có hiệp định về hàng may mặc với từng nước cụ thể,
dưới các quy định các sản phẩm Dệt may của Trung Quốc.
Với các định chế này, nó tạo ra sự công bằng giữa các nước có nền công nghiệp
may phát triển và các nước đang phát triển.
Trong bối cảnh chung của thị trường thế giới như hiện nay, tình hình sản xuất và
xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam cũng có nhiều biến động và nổi lên một số đặc
điểm sau:
+ Năm 1997 đã kết thúc hiệp định buôn bán hàng dệt may với EU hạn ngạch 22
nghìn tấn dệt may đạt giá trị 450 triệu. Gần đây, Việt Nam đã ký hiệp định trong
lĩnh vực này cho giai đoạn 1998-2000, điều đó sẽ mở ra một triển vọng to lớn về
21

xuất khẩu hàng dệt may của nước ta.
+ Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ được cải thiện một cách cơ bản, song quy chế tối
huệ quốc cho Việt Nam vẫn còn là một câu hỏi chưa chính xác. Nếu chế độ này
được áp dụng thì đây sẽ là cơ hội lớn về thị trường hàng dệt may cho Việt Nam.
+ Kinh tế khu vực phát triển chận lại : việc trao trả Hồng Kông cho Trung Quốc vào
1/7/1997 vừa qua có thể ảnh hưởng đến kinh tế thị trường khu vực. Hiện nay một số
khách hàng Hồng Kông đang đặt gia công hàng may mặc tại Việt Nam như vậy sẽ ít
nhiều bị biến động. Bên cạnh đó cuộc khủng hoảng kinh tế ở Châu á vừa qua làm
ảnh hưởng nặng nề tới việc tiêu thụ cũng như khả năng sản xuất trên thị trường các
mặt hàng nói chung và hàng may mặc nói riêng.
+ Trước đây khách hàng EU tập trung vào thuê gia công áo Jacket ba lớp (cat 21) và

là 1,1 tỷ USD thì quả là xuất khẩu kiểu này không mấy hiệu quả.
Hiện nay năng lực sản xuất hàng may mặc xuất khẩu của Việt Nam có thể đạt 2,15
tỷ USD. Đó là kết quả của sự đầu tư không ngừng của các doanh nghiệp, xí nghiệp
Việt Nam - hầu hết các địa phương đều có xí nghiệp may ra đời, các xí nghiệp may
như : Công ty may 10, Công ty may Việt Tiến, Công ty may Đức Giang, Công ty
may Nhà Bè không ngừng cải tiến trang thiết bị, đào tạo đội ngũ quản lý, công
nhân phục vụ quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm chất lượng cao.
23

Hiệp hội các xí nghiệp may của Việt Nam hoạt động tích cực, mới đây đã thành lập
Viện mốt với nhiệm vụ tạo mốt, mẫu mã kỹ thuật phục vụ các Công ty may sản xuất
có hiệu quả. Bên cạnh sự đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam các Công ty nước
ngoài cũng đã tham gia đáng kể trong việc đầu tư vào ngành may mặc, nhiều liên
doanh trong lĩnh vực may mặc đã đi vào hoạt động thu kết quả khả quan. Tất cả đã
tạo ra một năng lực sản xuất mới cho ngành may mặc Việt Nam. Quy mô sản xuất
được mở rộng, tay nghề công nhân không ngừng được nâng lên, mẫu mã được cải
tiiến phong phú, đa dạng. Các yếu tố này gây nên sự hấp dẫn đối với các khách
hàng có ý định hợp tác.
3. Một số kinh nghiệm thực tiễn từ hoạt động sản xuất và kinh doanh xuất hàng may
mặc.
Ngành công nghiệp may mặc xuất khẩu Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh mẽ
và được nhiều đơn vị, thành phần kinh tế tham gia. Hệ thống các Công ty , xí nghiệp
may từ Trung ương đến địa phương đều trưởng thành đáng kể. Năm 1997 có trên
400 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu dự kiến 1998 con số này sẽ là gần 500 doanh
nghiệp. Không những đội ngũ may xuất khẩu tăng nhanh về số lượng doanh nghiệp
mà quy mô doanh nghiệp công nghệ sản xuất, chất lượng, đội ngũ công nhân lành
nghề đang từng bước được nâng cao. Tất cả những điều này đang là dấu hiệu tốt cho
sự khởi sắc của ngành may Việt Nam khi vươn ra thị trường thế giới.
Tuy nhiên, để làm tốt hơn nữa chứng từ xuất khẩu may mặc, phát huy hết mọi sức
mạnh tiềm tàng của đất nước thì bên cạnh các biện pháp chuyên môn các nhà xuất

thay đổi mẫu mốt, kiểu dáng và nâng cao chất lượng sản phẩm. Hãy để chính sản
phẩm lên tiiếng là việc làm hiệu quả hơn bất cứ nỗ lực nào. Đây cũng là bí quyết tất
cả các doanh nghiệp thành công nhất trên trường quốc tế.
Học hỏi kinh nghiệm trong đàm phán, ký kết hợp đồng với nước ngoài cũng đang
được coi là việc làm cần thiết. Công tác đàm phán cần được chuẩn chu đáo bởi đây
sẽ là thời điểm xác định lợi ích kinh tế của các bên. Muốn đạt được lợi ích lớn trước
hết phải có nghệ thuật đàm phán khôn khéo, nhiều khi khách hàng đang có rất nhiều
mối hàng nhưng do nghệ thuật thuyết phục của ta mà họ vẫn chấp nhận đặt hàng với
những điều kiện có lợi cho chúng ta. Trong đàm phán rất cần thiết phải hiểu rõ đối
phương (về văn hoá, tài chính, thái độ, phong tục ); tuỳ theo từng đối tượng mà sử
dụng các chiến lược đàm pháp kiểu cứng, chiến lược đàm phán kiểu mềm hay chiến
lược đàm phán kiểu hợp tác. Ngoài ra còn phải chủ ý tới việc nên áp dụng chiến
thuật đàm phán gì ? chiến thuật tri thức hay chiến thuật tâm lý.
Kinh nghiệm tạo uy tín và tạo khả năng xâm nhập vào thị trường nước ngoài của các
doanh nghiệp thành đạt cho thấy cần phải thực hiện song song hai chiến lược đó là :
chiến lược marketing và chiến lược sản phẩm một cách tốt nhất. Thực hiện chiến
lược marketing hợp lý sẽ cho phép sản phẩm của Công ty được mọi người quan tâm,
chú ý. Khi sản phẩm đã được nhiều người biết đến cần tiếp tục củng cố lòng tin và
uy tín với khách hàng bằng chính với yếu tố nội tại sản phẩm, nhất là với hàng may
mặc cần luôn luôn tạo ra tính đặc thù, có như vậy mới mong duy trì được trên thị
trường một cách bền vững. Có câu nói thấy triết lý mà bao hàm toàn bộ nội dung
trên, đó là : “Hãy tạo dựng uy tín so cho khách hàng sẽ mua sản phẩm của Công ty


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status