Lời nói đầu
Trong cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta xuất phát điểm từ một nước có nền
kinh tế lạc hậu nghèo nàn về mọi mặt. Chủ trương của Đảng và Nhà nước là đổi mới
nền kinh tế, chuyển nền kinh tế từ hành chính tập trung quan liêu bao cấp sang nền
kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Nó quyết định sự thành công của công
cuộc đổi mới do Đảng ta khởi sắc.
Cùng với sự vận động của nền kinh tế, hệ thống Ngân hàng - sản phẩm của nền kinh tế
hàng hoá cũng đã, đang vận động kịp thời để thích nghi với điều kiện mới. Hoạt động
Ngân hàng là một mắt xích quan trọng trong sự vận động nhịp nhàng của nền kinh tế.
trong sự nghiệp đổi mới hệ thống ngân hàng nói chung và Ngân hàng thương mại nói
riêng đã góp phần tích cực vào công cuộc đổi mới của đất nước, xây dựng hoàn thiện
một nền kinh tế thị trường ở Việt Nam phát triển bền vững.
Đối với Ngân hàng thương mại thì nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ chủ yếu, chiếm tỷ
trọng lớn khoảng 80%, đây là nghiệp vụ tạo ra khoảng 90% trong tổng lợi nhuận của
ngân hàng. Song rủi ro từ nghiệp vụ tín dụng là rất lớn, nó có thể xảy ra bất kỳ lúc nào,
làm sai lệch đảo lộn kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, có thể đưa ngân
hàng đến chỗ phá sản. Sự phá sản của ngân hàng là một cú sốc mạnh không chỉ gây
ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng, mà còn ảnh hưởng tới toàn bộ đời sống kinh tế,
chính trị, xã hội. Chính vì vậy đòi hỏi các Ngân hàng phải quan tâm và hiểu rõ rủi ro,
đặc biệt là rủi ro tín dụng. Việc đánh giá đúng thực trạng rủi ro tín dụng để tìm ra các
biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro là một yêu cầu cấp thiết, đảm bảo an toàn và
hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
Chính vì lý do trên, cùng với sự mong muốn góp sức cho sự phát triển của Ngân hàng
công thương Lưu xá nói riêng và của đất nước nói chung, với kiến thức lý luận cơ bản
tiếp thu được ở nhà trường, thực tế công tác tại chi nhánh Ngân hàng công thương Lưu
Xá, được sự hướng dẫn nhiệt tình của các cô, chú trong chi nhánh, đặc biệt là sự giúp
đỡ của thầy giáo TS Đỗ Quế Lượng. Em mạnh dạn chọn đề tài "Ảnh hưởng của rủi ro
tín dụng và một số biện pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng
Công thương Lưu Xá Thái Nguyên " làm luận khoá tốt nghiệp.
Chương I: Tín dụng và rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị
trường.
Thứ tư: Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính
quốc tế.
2. Tín dụng và vai trò của tín dụng trong nền kinh tế thị trường
2.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng được coi là quan hệ vay mượn lẫn nhau giữa người có vốn và người thiếu
vốn với điều kiện có hoàn trả cả vốn lẫn lãi sau một thời gian nhất định.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một bên là Ngân hàng, một
tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên là tất cả các tổ chức, các
nhân trong xã hội, trong đó Ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay, vừa là người
cho vay. Với tư cách là người đi vay ngân hàng, huy động mọi nguồn vốn tạm thời
nhàn rỗi trong xã hội bằng hình thức nhận tiền gửi của các doanh nghiệp, các cá nhân
hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để huy động vốn trong xã hội.
Với tư cách là người cho vay, Ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp,
tổ chức, cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để huy động vốn trong
xã hội.
Với tư cách là người cho vay, Ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp,
tổ chức, cá nhân khi có nhu cầu thiếu vốn cần được bổ sung trong hoạt động sản xuất
kinh doanh và tiêu dùng.
2.2. Các hình thức tín dụng
Trong nền kinh tế thị trường, có nhiều tiêu thức để phân loại tín dụng, dựa vào các tiêu
thức khác nhau ta sẽ có các hình thức tín dụng khác nhau.
* Theo thời gian tín dụng thì tín dụng được chia làm ba loại:
- Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ một năm 12 tháng trở xuống,
thường được cho vay bổ xung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanh
nghiệp, cá nhân và cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng của cá nhân, hộ gia
đình.
- Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm. Loại tín
dụng này để cho vay vốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới
kỹ thuật, mở rộng và sử dụng các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ trên 5 năm, loại tín dụng này dùng
Hoạt động của các ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường là một hoạt
động rất nhạy cảm, mọi biến động trong nền kinh tế xã hội đèu nhanh chóng tác động
đến hoạt động ngân hàng.
Rủi ro là sự kiện xẩy ra ngoài ý muốn và ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của
ngân hàng thương mại.
Trong nền kinh tế thị trường, hầu như hoạt động nào của ngân hàng thương mại cũng
có rủi ro. Rủi ro thường dẫn đến thiệt hại và thua lỗ. Do vậy nhận thức rõ rủi ro, đề ra
những biện pháp phòng chống hữu hiệu để hạn chế thấp nhất rủi ro luôn là vấn đề cấp
bách của mỗi ngân hàng.
Khi xem xét rủi ro, người ta thường chú ý đến yếu tố chi phí, tổn thất và thua lỗ. Cụ
thể:
- Chi phí: Chi phí hoạt động của ngân hàng là yếu tố không thể thiếu để thực thi các
nghiệp vụ. Các chi phí cho hoạt động của ngân hàng thường bao gồm; Chi phí trả l•i
xuất cho người gửi tiền, lãi tiền vay cho các tổ chức tín dụng, tiền lương của cán bộ
ngân hàng, chi phí mua sắm các phương tiện làm việc và chi phí nghiệp vụ khác. Rủi
ro có thể xảy ra dưới các dạng như phải nâng cao lãi xuất tiền gửi do sự biến động của
thị trường tiền tệ, tăng lãi xuất cho vay của các tổ chức tín dụng, các khoản chi phí ảnh
hướng trực tiếp đến hoạt động của ngân hàng, bắt buộc ngân hàng phải thực hiện một
số biện pháp phù hợp
- Về thua lỗ: Sự thua lỗ biểu hiện dưới hình thức không đạt được thu nhập như dự kiến
hay chi vượt dự toán mà thu nhập không thể bù đắp được.
- Về tổn thất: Sự tổn thất của ngân hàng có thể hiểu là thiệt hại về vật chất và uy danh
của ngân hàng. Tổn thất là chỉ tiêu đặc trưng cho các rủi ro của ngân hàng nên nó được
dùng để đánh giá mức độ rủi ro và chất lượng của chiến lược trong lĩnh vực rủi ro.
Trong hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động kinh doanh Ngân hàng nói riêng
không thể tránh khỏi rủi ro. Đối với một ngân hàng, việc kiểm soát rủi ro là quá trình
phối hợp giữa những hoạt động nghiệp vụ, giữa những chính sách nội bộ, giữa những
thoả thuận hợp đồng với các cơ quan bảo hiểm. Cũng như tiến hành các biện pháp tự
bảo hiểm và các biện pháp khác để giảm bớt đi các chi phí, các thiệt hại bất ngờ, kể cả
vào lẩn tránh sợ phá sản của Ngân hàng.
không chỉ với hệ thống ngân hàng, với người vay và còn cả với nền kinh tế và xã hội.
Trước hết, đối với ngân hàng thương mại. ở mức độ thấp rủi ro tín dụng là mất đi cơ
hội, khả năng tích luỹ vốn, làm giảm sức mạnh của ngân hàng.
Đối với người đi vay. Thông thường rủi ro tín dụng là hệ quả của rủi ro kinh doanh của
khách hàng. Với nợ quá hạn người đi vay hoàn toàn mất nguồn tài trợ từ các ngân
hàng, cơ hội kinh doanh sẽ tuột mất, tài sản sẽ bị tịch thu hoặc phát mại, người đi vay
sẽ đứng trước nguy cơ phá sản.
Đối với nền kinh tế xã hội. Rủi ro tín dụng chứng tỏ người vay vốn đã không thực hiện
được hiệu quả đầu tư như đặt ra khi vay vốn tín dụng từ ngân hàng thương mại. Do đó
lợi ích kinh tế xã hội dự kiến nhận được đã không có. sản xuất và lưu thông hàng hoá
sẽ đình trệ, chức năng làm công cụ điều tiết nền kinh tế sẽ bị suy yếu. Quyền lợi của
người gửi tiền sẽ không được đảm bảo.
Lịch sử hoạt động của các ngân hàng thương mại trên thế giới đã chứng kiến không ít
các Ngân hàng lớn bị phá sản và hậu quả của nó thậm chí không giới hạn trong một
quốc gia mà còn lan ra nhiều nước trong khu vực thậm chí là cả châu lục.
3. Biểu hiện của rủi ro tín dụng và nguyên nhân của nó
3.1. Biểu hiện của rủi ro tín dụng
Khi tiến hành cấp tín dụng các ngân hàng thương mại đều mong muốn khoản tín dụng
được hoàn trả đầy đủ và đúng thời hạn như đã thoả thuận. Chính vì thế, sau khi cấp tín
dụng cho khách hàng NHTM thực hiện theo dõi, giám sát việc sử dụng vốn vay của
họ. Nếu thấy có biểu hiện sử dụng vốn sai mục đích hoặc có sự khác thường có thể dán
đến việc không hoàn trả được vốn vay của khách hàng, NHTM phải tìm biện pháp
ngăn ngừa, can thiệp kịp thời. Các biểu hiện thường gặp là:
- Khách hàng trì hoãn nộp báo cáo tài chính hoặc không cung cấp được những thông
tin mà ngân hàng yêu cầu.
- Sử dụng tín dụng sai mục đích ban đầu
- Số tiền gửi giảm sút.
Lưỡng lự chậm chễ khi dàn xếp những cuộc viếng thăm cơ sở sản xuất kinh doanh của
cán bộ ngân hàng, có sự suy giảm trong bầu không khí tin cậy và hợp tác, có sự lạnh
nhạt với ngân hàng ngay sau khi nhận được vốn vay.
- Đối với khách hàng là doanh nghiệp thì trong hoạt động của doanh nghiệp có nhiều
mối quan hệ như quan hệ với người cung cấp, với người tiêu thụ, với ngân hàng
Rủi ro do thị trường cung cấp:
Do thị trường cung cấp không có khả năng cung cấp đủ số lượng nguyên vật liệu mà
doanh nghiệp yêu cầu.
Thiệt hại về giá cả, khi giá cả nguyên vật liệu cung cấp cho doanh nghiệp không đáp
ứng về các yêu cầu, phẩm chất, quy cách.
Rủi ro do thị trường tiêu thụ:
Sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra có số lượng quá lớn vượt nhu cầu thị trường
(Do khâu nghiên cứu thị trường thực hiện chưa tốt) nên số lượng hàng hoá lớn làm ứ
đọng sản phẩm trong kho ;
Thiệt hại về giá: Doanh nghiệp buộc phải giảm giá bán sản phẩm hàng hoá thấp hơn
mức giá dự kiến ban đầu.
Thiệt hại về chất lượng sản phẩm hàng hoá do doanh nghiệp cung cấp không đáp ứng
được yêu cầu thị trường. Do công nghệ không phù hợp, do khâu bảo quản không tốt,
do hao mòn vô hình, do người tiêu dùng thay đổi thị hiếu làm cho sản phẩm không bán
được, hoặc khó bán. Vì thế doanh nghiệp khó có khả năng trả nợ.
+ Rủi ro do yếu kém về tài chính: thể hiện doanh nghiệp không thể đối phó với các
nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi tiền vay cho chủ nợ.
c. Nguyên nhân rủi ro do bản thân ngân hàng.
Do chính sách vay của ngân hàng không hợp lý, quá chú trọng về mục tiêu lợi nhuận
nên bỏ qua những khoản cho vay lành mạnh.
Do ngân hàng không thực hiện đầy đủ hoặc thực hiện không chính xác việc phân tích
đánh giá khả năng tín dụng của người vay. Do cán bộ tín dụng thiếu trình độ chuyên
môn cần thiết, do cán bộ tín dụng thiếu tinh thần trách nhiệm.
Ngân hàng đã quyết định cho vay chỉ dựa trên cơ sở quy mô hoạt động của doanh
nghiệp mà không căn cứ vào khả năng tài chính của doanh nghiệp.
Do ngân hàng không thường xuyên thực hiện việc kiểm tra giám sát khách hàng trong
quá trình sử dụng tiền vay.
Cán bộ tín dụng có tư cách phẩm chất không tốt cố tình làm sai nguyên tắc trong quá
nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp và ngân hàng.
4.3. Bảo hiểm tín dụng.
Bảo hiểm tín dụng là biện pháp quan trọng nhằm san sẻ rủi ro. Bảo hiểu tín dụng có
thể thực hiện dưới các loại như: Bảo hiểm hoạt động cho vay, bảo hiểm tài sản, bảo
hiểm tiền vay. ở các nước, bảo hiểm tín dụng thường được thực hiện dưới dạng khách
hàng vay vốn tín dụng tham gia mua bảo hiểm cho ngành nghề mà họ kinh doanh.
4.4. Trích lập dự phòng rủi ro.
Trích lập dự phòng rủi ro được coi là một trong những biện pháp quan trọng để phòng
chống rủi ro. ở hầu hết các nước trong hoạt động của ngân hàng đều thành lập quỹ dự
phòng bù đắp các khoản cho vay bị rủi ro và quỹ dự phòng rủi ro trong hoạt động của
ngân hàng.
Quỹ dự phòng rủi ro được sử dụng để bù đắp các khoản rủi ro khi ngân hàng làm ăn
thua lỗ do nguyên nhân khách quan mang lại.
Luật các tổ chức tín dụng (điều 82. Dự phòng rủi ro) có quy định: "tổ chức tín dụng
phải dự phòng rủi ro trong hoạt động ngân hàng; Khoản dự phòng rủi ro này phải được
hoạch toán vào chi phí hoạt động; Việc phân loại tài sản có mức trích, phương pháp
lập khoản dự phòng và sử dụng khoản dự phòng để sử lý các rủi ro do thống đốc ngân
hàng Nhà nước quy định sau khi thống nhất với bộ trưởng tài chính".
Chương II: Thực trạng rủi ro tín dụng tại chi nhánh ngân hàng công thương lưu xá
Thái Nguyên
i. khái quát về chi nhánh ngân hàng công thương lưu xá Thái Nguyên.
1. Về chức năng nhiệm vụ và mô hình tổ chức của chi nhánh Lưu Xá
Từ khi ra đời toàn bộ cán bộ công nhân viên của chi nhánh Ngân hàng công thương
Lưu Xá ý thức được hoạt động kinh doanh của mình là "Đi vay để cho vay" nên trong
những năm qua đã đạt được những Thành tích đáng kể góp phần đắc lực cho sự phát
triển kinh tế tỉnh Thái Nguyên, uy tín của NHCT Thái Nguyên ngày càng được nâng
cao.
Là chi nhánh trực thuộc NHCT Thái Nguyên, NHCT Lưu xá với chức năng nhiệm vụ
thực hiện tốt các nghiệp vụ ngânhàng trong phạm vi được NHCT Thái Nguyên uỷ
- Tiền gửi không kỳ hạn 102.346 31 110.109 36 7.763 107
- Tiền gửi có kỳ hạn 161.312 69 193.225 63 31.913 119
* Phân theo loại tiền
- Tiền gửi nội tệ 164.027 57,6 175.213 56,1 11.186 107
- Tiền gửi ngoại tệ 120.701 42,2 137.239 43,9 16.538 113
(Nguồn số liệu: Báo cáo hoạt động kinh doanh năm 2001 - 2003)
Qua bảng số liệu ta thấy vốn huy động của chi nhánh ngân hàng công thương Lưu xá
trong những năm qua có mức tăng trưởng cao đã đưa vốn huy động của ngân hàng:
- Năm 2002 từ 193.748 tr đồng tăng lên 213.450tr đồng vào năm 2003. Huy động vốn
năm 2003 tăng 19.702 triệu đồng đạt mức tăng 16% so năm 2002 213.450 tr. đồng
- Trong cơ cấu phân theo khách hàng thì tiền gửi các TC kinh tế đạt 160.062 tr chiếm
75% trong tổng số vốn huy động tăng, 17.737 tr đồng (6%) so với năm 2002. Trong đó
tiền gửi dân cư đã tăng 7% đạt 53.388 tr đồng so với năm 2002.
- Nếu phân theo t/v của huy động vốn thì tiền gửi không kỳ hạn năm 2003 đạt
110.109triệu đồng chiếm 36% trong tổng nguồn vốn tăng 7.763 triệu đồng tương
đương 9,6% so với 2002
- Nếu phân theo t/c của huy động vốn thì TG không kỳ hạn năm 2003.
Tiền gửi có KH đạt mức 193.225 chiếm 63% trong tổng số nguồn vốn tăng 31.913 tr
tương đương 4,4% so với 2002.
- Cơ cấu theo thành phần kinh tế thì tiền gửi nội tệ năm 2003 là 175.213 triệu đồng
tăng 11.186 triệu đồng tương đương tăng 4% so với năm 2002. Tiền gửi ngoại tệ đã
quy đổi là 137.239 triệu, tăng 10% so với 2002.
3. Hoạt động cho vay:
Năm 2003 nhờ có nhiều chính sách áp dụng thúc đẩy hoạt động cho vay nên tổng
doanh số cho vay tăng nhiều so với năm 2002 và được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Bảng 2: Kết quả cho vay của chi nhánh
(Đơn vị tính: Triệu đồng VN )
Chỉ tiêu 2002 2003 So sánh 2003/2002
1. Tổng doanh số cho vay 308.104 100 382.140 100 74.036 124
- Cho vay ngắn hạn 182.500 59 250.500 66 68.000 137,3
ưu điểm.
Bảng 3: Kết quả hoạt động thanh toán năm 2001 - 2003
(Đơn vị: Triệu đồng VN)
Chỉ tiêu Năm 2002 Năm 2003 Tỷ lệ % so sánh 2003/2002
Tổng doanh thu TT chung 25.542.683 100 27.212.219 100 1.669.536 106
1. Thanh toán bằng tiền mặt 4.786.275 18,8 5.207.043 19,2 420.768 108
2. Thanh toán không dùng tiền mặt 20.756.408 81,2 22.005.176 80,8 1.248.768 106
(Nguồn báo cáo kết quả kinh doanh năm 2003)
- Tổng doanh số thanh toán bằng tiền mặt năm 2003 tăng 420.786 triệu đồng
Tỷ trọng tăng khoảng 19,2% so với năm 2002 chiếm trong tổng doanh số thanh toán
nói chung.
Thanh toán không dùng tiền mặt năm 2003 tăng 1.248.768 triệu đồng so với năm
2002, tỷ trọng tăng khoảng 0,6% so với năm 2002 chiếm 80,8% trong tổng doanh số
thanh toán.
ii. thực trạng rủi ro tín dụng tại chi nhánh nhct lưu xá
1. Nhận dạng các rủi ro tín dụng tại chi nhánh NHCT Lưu Xá
Rủi ro tín dụng luôn là một vấn đề được quan tâm đặc biệt đối với mọi ngân hàng.
Trên thực tế hầu hết các ngân hàng đều đã áp dụng các biện pháp phòng ngừa và hạn
chế rủi ro nhưng do rất nhiều nguyên nhân, có nguyên nhân chủ quan và khách quan,
rủi ro tín dụng vẫn phát sinh gây ra những thiệt hại đối với ngân hàng.
Rủi ro trong hoạt động tín dụng tại chi nhánh NHCT Lưu Xá được thể hiện dưới các
dạng: Nợ chưa đến hạn nợ quá hạn, nợ giãn và nợ khoanh
Nợ chưa đến hạn:
Đó là những khoản nợ mới phát sinh, mới cho vay chưa đến hạn thu nợ. Nợ chưa đến
hạn cũng tiềm ẩn rủi ro. Theo quy định của thống đốc ngân hàng Nhà nước, loại nợ
chưa đến hạn thì tỷ lệ trích nộp dự phòng rủi ro là 0% tức là chưa đến hạn được tạm
coi là chưa có rủi ro, chưa trích lập dự phòng rủi ro.
Nợ quá hạn:
Là khoản vay đã đến hạn trả nợ mà khách hàng chưa trả được đúng như trong hợp
đồng tín dụng, cũng không có lý do chính đáng để xin gia hạn nợ, do đó phải chuyển
Tổng dư nợ 214.761 246.429 31.668 114,7
- Nợ chưa đến hạn 168.680 209.629 40.949 124%
- Nợ quá hạn 28.526 21.573 - 6.953 76%
- Nợ giãn 12.414 10.407 - 2.007 84%
- Nợ khoanh 5.141 4.820 - 321 94%
(Nguồn: báo cáo kết quả kinh doanh)
Qua bảng số liệu trên ta thấy tổng dư nợ năm 2003 tăng từ 214.761 năm 2002 lên
246.429 vào năm 2003 tức là tăng 36.168 triệu đồng khoảng 27% so với năm 2002.
Trong đó chưa đến hạn năm 2003 là 209.629 triệu đồng tăng 40.949 triệu đồng so với
năm 2002 chiếm 85% tổng dư nợ.
- Nếu nợ quá hạn năm 2002 là 28.526 triệu thì năm 2003 đã giảm xuống còn 21.573
triệu đồng giảm được 4,5% so với năm 2002.
- Nợ giãn cũng giảm dần năm 2002 là 12.414 thì năm 2003 đã giảm xuống còn
10.407triệu đồng giảm được 15% so với năm 2002.
- Nợ khoanh từ 5.141 triệu đồng năm 2002 giảm xuống còn 4.820 triệu đồng năm
2003, giảm 4% so với 2002.
Như vậy tình hình chi nhánh giảm đều qua từng năm, đây là dấu hiệu tốt đẹp trong tín
dụng của chi nhánh.
2. Phân tích tình hình và thực trạng nợ quá hạn
Có thể đi sâu phân tích kỹ nợ quá hạn tại chi nhánh qua bảng dưới đây:
Bảng 5: Tình hình chung về nợ quá hạn tại chi nhánh
(Đơn vị tính: triệu đồng VN )
Chỉ tiêu Năm 2002 Năm 2003 So sánh 2003/2002
Tổng dư nợ 214.761 246.429 31.668 114%
Nợ quá hạn 28.526 21.573 - 6.953 75,6%
Tỷ lệ nợ quá hạn 13,2% 8,7% 4,5% 66%
(Nguồn báo cáo kết quả kinh doanh )
Qua bảng số liệu trên cho thấy, nợ quá hạn đến 31/12/2003 là 21.573 triệu đồng. Như
vậy là đã giảm được6.953 triệu đồng. Chiếm 8,7% trong tổng dư nợ.
- Sở dĩ nợ quá hạn đã giảm đáng kể là do chi nhánh đã cùng phòng nghiệp vụ thực
tài chính việc xử lý để thu hồi nợ gặp khó khăn, nhiều tài sản thế chấp không đầy đủ
căn cứ pháp lý và có nhiều tranh chấp phức tạp.
Bảng 7. Phân tích nợ quá hạn theo thời gian
(Đơn vị tính: Triệu đồng VN )
Chỉ tiêu Năm 2002 Năm 2003 So sánh 2003 / 2002
Tổng số nợ quá hạn 28.562 100 21.573 100 - 6.952 75
1. Nợ quá hạn dưới 180 ngày (NQH bình thường) 10.267 40 10.851 50,3 584 105
2. Nợ quá hạn từ 180 - 360 ngày (NQH có vấn đề) 12.568 44 10.203 47,3 - 2.365 81
3. Nợ quá hạn trên 360 ngày (NQH khó đòi) 5.727 22 519 2,4 - 4.753 109
(Nguồn báo cáo kết quả kinh doanh )
- Chi nhánh ngân hàng công thương Lưu Xá đã phân loại nợ quá hạn theo quyết định
rủi ro dưới 180 ngày đến từ 180 - 360 ngày và trên 360 ngày để dễ dàng hơn trong việc
theo dõi tình hình và dễ thấy được khoản nợ khó đòi nhằm tập trung tìm các biện pháp
xử lý kịp thời và thích hợp.
Chi nhánh đã giành nhiều thời gian cho việc xử lý nợ quá hạn khó đòi (Nợ quá hạn
trên 360 ngày), Xác định rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan và áp dụng các biện
pháp hành chính, kinh tế để thu hồi nợ quá hạn loại này, và năm 2003 nợ quá hạn khó
đòi tại chi nhánh đã tăng 9% so với năm 2002. Nguyên nhân do một số xí nghiệp và
nhà máy như xí nghiệp tấm lợp xi măng amiăng, nhà máy luyện kim màu sản xuất
hàng ra mà không bán được nên nợ quá hạn không thể thanh toán được.
3. Phân tích tình hình nợ giãn và nợ khoanh
Bảng 8: Tình hình nợ được giãn tại chi nhánh
(Đơn vị tính: Triệu đồng VN )
Chỉ tiêu Năm 2002 Năm 2003 So sánh 2003 / 2002
Tổng dư nợ 214.761 246.429 31.668 114,7