Tìm hiểu nguồn gốc của thuật ngữ tín dụng và các loại hình tín dụng trên thế giới cũng như ứng dụng tại các Ngân hàng việt nam - 1 - Pdf 20


Chương I: Hoạt Động Tín Dụng Trung và Dài Hạn Của Ngân Hàng Thương mại
1.1 Tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường.
1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng.
Tín dụng đã ra đời từ lâu và trải qua nhiều giai đoạn phát triển với nhiều hình thức
khác nhau. vậy tín dụng là gì ?
Tín dụng là một khái niệm đã tồn tại từ rất lâu đời trong xã hội loài người. Tín dụng
theo nghĩa la tinh là creditim, sự tín nhiệm, tin tưởng tên gọi này xuất phát từ bản chất
của quan hệ tín dụng. Trong quan hệ tín dụng người cho vay sẽ cho người cần vốn vay
theo các điều kiện đã được thoả thuận trước như thời gian cho vay, thời gian hoàn trả,
lãi suất tín dụng vv. Trong quan hệ đó người cho vay tin tưởng rằng người đi vay sẽ sử
dụng vốn vay đúng mục đích, đúng các thoả thuận, làm ăn có lãi và có khả năng hoàn
trả đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn .
Mặc dù có thể diễn giải tín dụng bằng những từ ngữ khác nhau, song chúng ta có thể
hiểu một cách đơn giản nhất, tín dụng là quan hệ vay mượn trên nguyên tắc hoàn trả cả
vốn lẫn lãi giữa người đi vay và người cho vay .
Có thể định nghĩa tín dụng như sau :
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng, một tổ
chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên là các tổ chức, cá nhân trong
xã hội, trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay.
Hiện nay, ngân hàng thương mại là người cho vay lớn nhất đối với các tổ chức kinh
tế, và dân cư. Với tư cách là tổ chức huy động để cho vay, ngân hàng đã góp phần đáp
ứng nhu cầu vốn của các tổ chức kinh tế, các thương nhân giúp họ có thêm vốn để bổ
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
sung vào hạt động sản xuất kinh doanh, tận dụng được cơ hội làm ăn tăng lợi nhuận cho
chính mình .
Là người huy động vốn, ngân hàng sẽ thực hiện việc tìm kiếm, và thu hút vốn từ các
tổ chức kinh tế trên phạm vi toàn xã hội, là người cho vay, ngân hàng đáp ứng nhu cầu
vốn cho các đơn vị, tổ chức, cá nhân khi có nhu cầu thiếu vốn cần được bổ sung trong
hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Với vai trò này, tín dụng ngân hàng đã thực
hiện chức năng phân phối lại vốn tiền tệ để đáp ứng yêu cầu tái sản xuất xã hội - cơ sở

hoạt động cơ bản, chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ các hoạt động của ngân hàng thương
mại. Hoạt động cho vay thường chiếm trên 70% tổng tài sản có. Lợi nhuận thu được từ
hoạt động tín dụng thường chiếm tỷ lệ cao, ở các nước phát triển khoảng 60% trên tổng
lợi nhuận của ngân hàng. ở nước ta trong giai đoạn hiện nay chiếm khoảng 90% lợi
nhuận. Điều này thể hiện rõ hoạt động tín dụng là hoạt động quan trong bậc nhất của
một ngân hàng thương mại.
Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng ngày càng được phát
triển một cách đa dạng với sự tham gia của nhiều chủ thể kinh tế, theo đó quan hệ tín
dụng cũng được mở rộng cả về đối tượng và quy mô làm cho hoạt động tín dụng ngân
hàng càng đa dạng và phức tạp hơn. Hiện nay, các doanh nghiệp đang hoạt động trong
môi trường cạnh tranh hết sức gay gắt, ngân hàng cũng không nằm ngoài xu thế đó .Để
ngân hàng thương mại có thể đứng vững trong điều kiện cạnh tranh thị trường gay gắt
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
và phục vụ nền kinh tế ngày càng tốt hơn, đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải đa
dạng hoá hoạt động kinh doanh của mình, mở rộng phạm vi hoạt động , nghiên cứu và
đưa nhiều sản phẩm mới vào phục vụ khách hàng , và đặc biệt là nầng cao chất lượng
tín dụng của ngân hàng thích ứng tốt với tình hình mới.
b. Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường
Tín dụng ngân hàng huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong tất cả các thành
phần kinh tế để cho các doanh nghiệp, cá nhân vay, góp phần mở rộng sản xuất kinh
doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Vốn là yếu tố hết sức quan trọng trong quá trình hoạt động của mỗi tổ chức kinh tế, Khi
có đủ vốn ho có thể dễ dàng hơn trong việc thực hiện các kế hoạch đầu tư sản xuất hay
xây dựng cơ bản của mình , ngược lại khi thiếu vốn họ sẽ luôn gặp khó khăn trong các
quyết định kinh tế, khi có vốn tạm thời nhàn rỗi ho cũng mất chi phí cơ hội của vốn,
trước tình hình đó các doanh nghiệp cần vốn phải tìm kiếm nguồn vốn để bù đắp, ngững
doanh nghiệp có vốn nhàn rỗi lại muốn cho vay . Tuy nhiên việc các tổ chức thiếu vốn
tìm được chủ thể khác thừa vốn tạm thời trong nền kinh tế là hết sức khó khăn và tốn
kém. Sự có mặt của tín dụng ngân hàng được coi như là một công cụ để kết lối nhu cầu
của người có vốn tạm thời nhàn rỗi và người thiếu vốn. Lợi tức đi vay và cho vay của

Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
cổ phần mới thông qua ngân hàng là một biện pháp hữu hiệu tiết kiệm được một phần
chi phí và thời gian .
Hiện nay, nhà nước ta đang có chủ chương cổ phần hoá doanh nghiệp , ngân hàng cần
phải có kế hoạch để tham gia nhiều hơn vào các công ty cổ phần nhằm thực hiện chính
sách vĩ mô của nhà nước và đa dang hoá các hoạt động giảm rủi ro.
Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện cho việc phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại.
Trong điều kiện hiện nay, các nước đều thực hiện nền kinh tế mở, nên nhu cầu giao lưu
kinh tế với các nước khác là rất cần thiết. Tín dụng ngân hàng là một phương tiện nối
liền kinh tế các nước với nhau thông qua hoạt động đầu tư vốn xuyên quốc gia. Ngoài ra
, muốn thực hiện các hoạt động xuất nhập khẩu thì phải có vốn và vốn tín dụng ngân
hàng sẽ đáp ứng nhu cầu này kịp thời. Ngày nay, xuất phát từ nhu cầu vốn để hỗ trợ
xuất nhập khẩu nhiều ngân hàng đã và đang xúc tiến quá trình xây dựng các ngân hàng
hỗ trợ xuất nhập khẩu như ngân hàng hỗ trợ xuất nhập khẩu Excimbank vv.
Tín dụng ngân hàng có một vai trò rất lớn, không chỉ đối với ngân hàng mà còn đối với
xã hội. Xã hội càng phát triển thì tín dụng ngân hàng càng trở nên cần thiết
1.1.3 Quy trình tín dụng của ngân hàng thượng mại.
Quy trình nghiệp vụ cho vay trung và daì hạn đối với các doanh nghiệp được mở
đầu bằng việc xem xét hồ sơ xin vay và quyết định cho vay, sau đó là giải ngân, theo
dõi các khoản tín dụng và kết thúc bằng việc thu nợ cả gốc và lãi hoặc ra những quyết
định khác. Quy trình như sau :
Khách hàng gửi hồ sơ xin vay gửi cho ngân hàng :
Hồ sơ xin vay của khách hàng bao gồm: Đơn xin vay, hồ sơ pháp lý chứng minh
tư cách pháp nhân, và vốn điều lệ ban đầu, hồ sơ tình hình tài chính của doanh nghiệp,
các tài liệu khác có liên quan đến dự án đầu tư xin vay vốn vv. Trên cơ sở các tài liệu
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
khách hàng cung cấp và kết hợp với thông tin thu thập được ngân hàng sẽ phân tích để
đưa ra quyết định của mình.
Ngân hàng xét duyệt cho vay :
+ Trước tiên ngân hàng kiểm tra các điều kiện cho vay: Tư cách pháp nhân, tình

của ban quản lý dự án vv.
Thu nợ : Đây là khâu chiếm vị trí rất quan trọng. Dựa vào thời hạn đã thoả thuận, đơn
vị vay vốn chủ động trả nợ khi đến hạn (trả cả gốc lẫn lãi ). Tuy nhiên trong thực tế có
nhiều trường hợp, các khoản nợ đã đến hạn nhưng khách hàng không trả được nợ, trong
trường hợp này ngân hàng có thể tuỳ thuộc vào tình hình thực tế của khách hàng để đưa
ra các cách giải quyết phù hợp. Nếu khách hàng có khó khăn nhưng do điều kiện khách
quan, họ có cố gắng trả nợ thì có thể giãn nợ, gia hạn nợ, giảm lãi suất vv giúp cho
khách hàng có thể vượt qua khó khăn và trả nợ cho ngân hàng. Còn trong trường hợp
khách hàng cố ý dây dưa kéo dài không trả nợ, hoặc chủ ý lừa đảo chiếm đoạt vốn của
ngân hàng thì ngân hàng tìm mọi cách để thu nợ.
1.2 Chất lượng tín dụng ngân hàng
1.2.1 Khái niệm chất lượng tín dụng ngân hàng
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì cạnh tranh là
một tất yếu khách quan, sản xuất hàng hoá càng phát triển thì cạnh tranh càng gay gắt.
Cạnh tranh diễn ra trên 3 phương diện chủ yếu: chất lượng, giá cả và số lượng, trong đó
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
chất lượng là yếu tố quan trọng hàng đầu, tạo điều kiện nâng cao tỷ lệ chiếm lĩnh thị
trường. Có nhiều quan niệm về chất lượng sản phẩm như chất lượng là phù hợp với
mục đích sử dụng hoặc là một trình độ dự kiến trước về độ đồng đều và độ tin cậy với
chi phí thấp phù hợp với thị trường. Theo hiệp hội tiêu chuẩn Pháp thì chất lượng là
năng lực của một sản phẩm hoặc một dịch vụ nhằm thoả mãn những nhu cầu của người
sử dụng.
Trên cơ sở đó ta có thể hiểu : chất lượng tín dụng ngân hàng là sự đáp ứng một cách tốt
nhất yêu cầu của khách hàng (người gửi tiền và người vay tiền) trong quan hệ tín dụng,
đảm bảo an toàn hay hạn chế rủi ro về vốn, tăng lợi nhuận của ngân hàng, phù hợp và
phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội.
* Xét trên góc độ hoạt động kinh doanh của ngân hàng thì chất lượng tín dụng là
khoản tín dụng được bảo đảm an toàn, sử dụng đúng mục đích, phù hợp với chính sách
tín dụng của ngân hàng, hoàn trả gốc và lãi đúng thời hạn, đem lại lợi nhuận cho ngân
hàng với chi phí nghiệp vụ thấp, tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị

vốn như uy tín, khả năng tổ chức các hoạt động, năng lực đội ngũ nhân viên ngân hàng
vv. Về phía khách hàng, chúng ta có thể đoán biết được một phần nào đó sự tín nhiệm,
sự hài lòng của khách đối với các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp đồng thời cho thấy
ngân hàng có tham gia vào nhiều hình thức huy động vốn và các dịch vụ ngân hàng hay
không.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Tỷ trọng từng loại tiền gửi trên tổng nguồn vốn huy động: Trong tổng nguồn vốn huy
động của ngân hàng gồm nhiều khoản được hình thành từ các nguồn tiền gửi khác nhau.
Mỗi loại tiền gửi có các mức lãi suất khác nhau, Chỉ tiêu này xác định kết cấu của
nguồn vốn huy động và hình thành nên chi phí vốn bình quân. Ngân hàng sẽ dựa trên cơ
sở lãi suất từng nguồn huy động để phát hiện mặt mạnh, mặt yếu của ngân hàng trong
kinh doanh. Nếu ngân hàng có tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn cao, ngân hàng đó sẽ có
nhiều thuận lợi trong việc tạo ra lợi nhuận vì tiền gửi không kỳ hạn có mức lãi suất thấp.
Ngược lại ngân hàng nào có tỉ lệ tiền gửi với lãi suất cao chiếm tỷ trọng lớn sẽ gặp khó
khăn trong việc giải quyết đầu ra của nguồn vốn do chi phí vốn tăng cao .
Tổng dư nợ: Đây là chỉ tiêu hết sức quan trọng. Nếu tổng vốn huy động phản ánh đầu
vào thì tổng dư nợ của ngân hàng phản ánh đầu ra của vốn huy động. Nó cho biết ngân
hàng cho vay được nhiều hay ít. Khoản tiền ngân hàng cho các tổ chức kinh tế và các
chủ thể khác vay mà lớn chứng tỏ ngân hàng đã tạo được uy tín với khách hàng, cung
cấp nhiều dịch vụ đa dạng, phong phú, phù hợp và được khách hàng ưa dùng, tham gia
vào nhiều nghiệp vụ thanh toán. Ngược lại chứng tỏ ngân hàng hoạt động kém, khả
năng cho vay thấp, vốn ứ đọng nhiều. Khi nghiên cứu mối liên hệ giữa đầu vào và đầu
ra về mặt vốn của một ngân hàng người ta đưa ra chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn vay.
Tổng dư nợ
Hiêu suất sử dụng vốn vay =
Tổng vốn huy động
Chỉ tiêu này giúp các nhà phân tích so sánh khả năng cho vay của ngân hàng với khả
năng huy động vốn, đồng thời xác định hiệu quả của một đồng vốn huy động. Chưa thể
nói được chỉ tiêu này càng lớn hay càng thấp là tốt, vì nếu tiền gửi ít hơn tiền vay thì
ngân hàng phải tìm kiếm nguồn vốn có chi phí cao hơn, nếu tiền gửi nhiều hơn tiền vay,

Tổng dư nợ
Nếu tỉ lệ này cao có nghĩa ngân hàng không những phải gánh chịu rủi ro tín dụng cao,
chất lượng tín dụng kém mà ngân hàng còn có thể nguy cơ mất khả năng thanh toán.
Việc đòi nợ đối với những khoản vay này là rất khó khăn và tổn thất là điều rất có thể
xảy ra.
b, Nhóm chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trung dài hạn
Đối với tín dụng trung, dài hạn, áp dụng những chỉ tiêu trên có những chỉ tiêu sau để
đánh giá chất lượng tín dụng trung dài hạn.
Dư nợ tín dụng trung dài hạn
Chỉ tiêu dư nợ =
Tổng dư nợ tín dụng
Chỉ tiêu này cho thấy biến động tỷ trọng dư nợ tín dụng trung dài hạn trong tổng dư nợ
tín dụng qua từng thời kỳ. Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ mức độ phát triển nghiệp vụ
này càng lớn, mối quan hệ ngân hàng với khách hàng có uy tín
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tín dụng trung dài hạn. Lợi nhuận ở đây
phản ánh chênh lệch giữa chi phí đầu vào (lãi suất huy động) và thu lãi đầu ra. Chất
lượng tín dụng tốt phải gồm cả lợi nhuận mà tín dụng đó mang lại cho ngân hàng.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Chỉ tiêu này cho phép thấy rõ vai trò, vị trí của tín dụng trung dài hạn đối với hoạt động
tín dụng ngân hàng. Chất lượng tín dụng cao thì lợi nhuận thu được càng cao và ngược
lại.
Trên đây là những chỉ tiêu chủ yếu để đánh giá chất lượng tín dụng ngân hàng, tiếp theo
đây sẽ xem xét những nhân tố nào tác động đến chất lượng tín dụng ngân hàng.
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân hàng
Có rất nhiều nhân tố tác động đến chất lượng tín dụng ngân hàng, nhưng gộp chung lại
có thể phân thành 4 nhóm nhân tố chính sau:
+ Môi trường kinh tế
+ Môi trường pháp lý
+ Ngân hàng
+ Khách hàng

Nhân tố pháp lý ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng, đó là sự đồng bộ thống nhất của hệ
thống pháp luật, ý thức tôn trọng chấp hành nghiêm chỉnh những quy định của pháp luật
và cơ chế đảm bảo cho sự tuân thủ pháp luật một cách nghiêm minh triệt để.
Quan hệ tín dụng phải được pháp luật thừa nhận, pháp luật quy định cơ chế hoạt động
tín dụng, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho hoạt động tín dụng lành mạnh, phát huy
vai trò đối với sự phát triển kinh tế xã hội, đồng thời duy trì hoạt động tín dụng được ổn
định, bảo vệ quyền và lợi ích của các bên tham gia quan hệ tín dụng. Những quy định
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
pháp luật về tín dụng phải phù hợp với điều kiện và trình độ phát triển kinh tế xã hội,
trên cơ sở đó kích thích hoạt động tín dụng có hiệu quả hơn.
Hiện nay, hệ thống văn bản pháp luật chưa đồng bộ, gây khó khăn cho ngân hàng khi kí
kết thực hiện hợp đồng tín dụng. Luật ngân hàng còn nhiều sơ hở, chưa đồng bộ với các
văn bản luật khác. Điều này ảnh hưởng đến việc quản lý chất lượng tín dụng của ngân
hàng.
Sự thay đổi chủ trương chính sách của Nhà nước cũng gây ảnh hưởng đến khả năng trả
nợ của các doanh nghiệp. Cơ cấu kinh tế, chính sách xuất nhập khẩu, do thay đổi đột
ngột, gây xáo động trong sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp không tiêu thụ được sản
phẩm, hay chưa có phương án sản xuất kinh doanh mới dẫn đến nợ quá hạn, nợ khó đòi,
chất lượng tín dụng giảm sút.
1.2.3.3 Những nhân tố về phía ngân hàng
Đây là những nhân tố thuộc về bản thân, nội tại ngân hàng liên quan đến sự phát triển
của ngân hàng trên tất cả các mặt ảnh hưởng tới hoạt động tín dụng, gồm: chính sách,
công tác tổ chức, trình độ lao động, quy trình nghiệp vụ, kiểm tra, kiểm soát và trang
thiết bị.
Chính sách tín dụng: là đường lối, chủ trương đảm bảo cho hoạt động tín dụng đi đúng
quỹ đạo liên quan đến việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng, nó có ý nghĩa quyết định đến
sự thành bại của một ngân hàng. Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút được
nhiều khách hàng, đảm bảo khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng. Bất cứ ngân hàng
nào muốn có chất lượng tín dụng cao đều phải có chính sách tín dụng phù hợp với điều
kiện của ngân hàng, của thị trường.

giữa các bước. Quy trình tín dụng gồm 3 giai đoạn chính:
- Xét đề nghị vay của khách hàng và thực hiện cho vay. Trong giai đoạn này chất lượng
tín dụng phụ thuộc nhiều vào công tác thẩm định khách hàng và việc chấp hành các quy
định về điều kiện, thủ tục cho vay của ngân hàng.
- Kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn vay và theo dõi rủi ro. Việc thiết lập hệ thống
kiểm tra hữu hiệu, áp dụng có hiệu quả các hình thức, biện pháp kiểm tra sẽ góp phần
nâng cao chất lượng tín dụng.
-Thu nợ và thanh lý: sự linh hoạt của ngân hàng trong khâu thu nợ sẽ giúp ngân hàng
giảm thiểu được những rủi ro, hạn chế những khoản nợ quá hạn, bảo toàn vốn, nâng cao
chất lượng tín dụng.
Khả năng thu thập và xử lý thông tin : Thông tin là yếu tố sống còn đối với mỗi doanh
nghiệp trong kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt. Trong cạnh tranh ai nắm được thông
tin trước là người có khả năng dành chiến thắng lớn hơn, với ngân hàng thông tin tín
dụng hết sức cần thiết là cơ sở để xem xét, quyết định cho vay hay không cho vay và
theo dõi, quản lý khoản cho vay với mục đích đảm bảo an toàn và hiệu quả đối với
khoản vốn cho vay. Thông tin tín dụng có thể được thu được từ nhiều nguồn khác nhau
như mua thông tin từ các nguồn cung cấp thông tin, đến cơ sở của khách hàng trực tiếp
xem xét, thông tin từ hồ sơ xin vay vốn. Thông tin càng đầy đủ, chính xác và kịp thời,
toàn diện thì khả năng ngăn ngừa rủi ro càng lớn, chất lượng tín dụng càng cao.
Kiểm soát nội bộ:
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Thông qua kiểm soát giúp lãnh đạo ngân hàng nắm được tình hình hoạt động kinh
doanh đang diễn ra, những thuận lợi, khó khăn việc chấp hành những quy định pháp
luật, nội quy, quy chế, chính sách kinh doanh , thủ tục tín dụng từ đó giúp lãnh đạo ngân
hàng có đường lối, chủ trương, chính sách phù hợp giải quyết những khó khăn vướng
mắc, phát huy những nhân tố thuận lợi, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Chất lượng tín
dụng phụ thuộc vào việc chấp hành những quy định, thể lệ, chính sách và mức độ kịp
thời phát hiện sai sót cũng như nguyên nhân dẫn đến sai sót lệch lạc trong quá trình
thực hiện một khoản tín dụng
Trang thiết bị phục vụ cho hoạt động tín dụng:

Tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, tổ chức công tác tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp .
Hiện nay, các doanh nghiệp không chỉ kinh doanh bó hẹp trong một phạm vi nhỏ,
số lượng mặt hàng ít mà họ thường kinh doanh đa dạng các mặt hàng, mở rộng mạng
lưới tiêu thụ ra nhiều khu vực lãnh thổ, từ các tỉnh thành phố trong nước ra các nước
trong khu vực và thế giới. Sự hình thành mạng lưới hoạt động phức tạp như thế đòi hỏi
các doanh nghiệp phải có sự tổ chức sản xuất và tiêu thụ hợp lý . Tổ chức tốt việc sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm là yếu tố giúp quá trình tái sản xuất diễn ra được thông suốt,
nhanh chóng, tăng khả năng quay vòng vốn, tiết kiệm chi phí và tăng lợi nhuận cho
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
doanh nghiệp. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là sự đảm bảo cho ngân hàng nâng
cao chất lựơng tín dụng .
Vốn khả năng tài chính của doanh nghiệp.
Có nhiều nhóm chỉ tiêu khác nhau biêủ hiện tình hình tài chính, khả năng độc lập
tài chính của doanh nghiệp như nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán, nhóm chỉ tiêu
hoạt động, nhóm chỉ tiêu cơ cấu vốn, nhóm chỉ tiêu về lợi nhuận. Ngoài ra khi xem xét
về tình hình tài chính ngân hàng còn quan tâm đến luồng tiền vào, luồng tiền ra, dự trữ
ngân quỹ vv. Khả năng tài chính tốt là điều kiện để doanh nghiệp có thể mở rộng sản
xuất kinh doanh, đầu tư mua sắm thiết bị tiên tiến, sản xuất sản phẩm có chất lượng cao,
chiếm lĩnh thị trường và đem laị lợi nhuận lớn, hoạt động tốt là điều kiện để doanh
nghiệp trả nợ cho ngân hàng .
Tư cách, đạo đức của người vay. Tư cách đạo đức xét trên phương diện ý muốn hoàn
trả khoản nợ vay, trong nhiều trường hợp người vay có ý muốn chiếm đoạt vốn, không
hoàn trả nợ vay mặc dù có khả năng trả nợ, điều này đã gây ra những rủi ro không nhỏ
cho ngân hàng.
Tóm lại qua việc xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ta thấy tuỳ
theo điều kiện kinh tế xã hội, điều kiện về pháp lý của từng nước mà những nhân tố này
có ảnh hưởng khác nhau đến chất lượng tín dụng. Vấn đề là phải nắm vững những nhân
tố ảnh hưởng và vận dụng sáng tạo trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể thì sẽ nâng cao chất
lượng tín dụng của ngân hàng.

bản trước đây. Bây giờ, ngân hàng có chức năng huy động vốn trung và dài hạn trong và
ngoài nước và nhận vốn từ ngân sách nhà nước cho vay các dự án chủ yếu tronh lĩnh
vực đầu tư và phát triển.
Giai đoạn 1991 đến 1997: Đây là giai đoạn ra đời và tìm hướng đi cho sở giao dịch
I NHĐT&PTVN.
Căn cứ vào quyết định 76/QĐ-TCCB ngày 28 tháng 3 năm 1991 của tổng giám đốc
ngân hàng đầu tư và phát triển Việt nam về việc thành lập sở giao dịch ngân hàng đầu tư
và phát triển Việt nam
Căn cứ vào Điều lệ hoạt động của ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam ban
hành kèm theo quyết định 349QĐ/NH5 ngày 16 tháng 10 năm 1997 của thống đốc ngân
hàng nhà nước Việt nam. Trong thời gian này, sở giao dịch ngân hảng đầu tư và phát
triển Việt nam là một đơn vị phụ thuộc thực hiện cho vay, nhận gửi từ trên xuống. Mọi
hoạt động của sở giao dịch đều mang tính chất bao cấp thực hiện theo chỉ thị (Sở giao
dịch chủ yếu cho vay đối với các dự án phát triển kinh tế do Ngân hàng đầu tư và phát
triển trung ương chỉ định ), lỗ, lãi không tự hạch toán và không tự chịu trách nhiệm.
Chủ yếu do ngân hàng đầu tư và phát triển trung ương đỡ đầu .
Giai đoạn từ 1998 đến nay: Đây là giai đoạn sở giao dịch có bước chuyển biến lớn
thực sự tách ra thành một ngân hàng hạch toán độc lập. Năm 1998-1999, mặc dù đã
được tách ra song sở giao dịch I vẫn thực hịên hạch toán phụ thuộc. Trước 3/99 vẫn
thực hiện cho vay với các bộ, ngành do chính phủ chỉ định, nhưng sau tháng 3/99 thì có
sự chuyển biến đáng kể, ngân hàng không còn cho vay theo hình thức chính phủ chỉ
định nữa mà dần chuyển sang cho vay thương mại.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Năm 2000, sở giao dịch I chính thức thực sự chuyển sang kinh doanh thương mại,
đến nay phần lớn là cho vay thương mại chỉ còn khoảng1000 tỷ cho tổng công ty điện
lực vay là cho vay theo hình thức chỉ định của chính phủ.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức.
Hiện nay, sở I NHĐT&PTVN có trên 200 cán bộ công nhân viên.
Trụ sở chính tại 53 Quang Trung.
Chi nhánh khu vực Gia Lâm đặt tại 558 Nguyễn Văn Cừ_gia Lâm_Hà Nội .

tế kỹ thuật và tư vấn theo yêu cầu. Tổng hợp thông tin và báo cáo thống kê phòng ngừa
rủi ro, phục vụ công tác điều hành của ngành và của sở.
- Phòng tài chính kế toán :
Phòng này làm nhiệm vụ ghi chép lại, thực hiện hạch toán kế toán để phản ánh
đầy đủ, chính xác, kịp thởi mọi hoạt động kinh doanh và các nghiệp vụ phát sinh tại sở.
Lập các bảng báo cáo tài chính, báo cáo kế toán với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm
quyền theo những quy định hiện hành và cung cấp số liệu báo cáo định kỳ và đột xuất
theo yêu cầu của ban lãnh đạo ngân hàng đầu tư trung ương và ban giám đốc sở I. Trực
tiếp thực hiện việc cung ứng một số sản phẩm cuả ngân hàng cho khách hàng như dịch
vụ chuyển tiền nhanh, dịch vụ trả lương, dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt vv.
- Phòng quản lý khách hàng:
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status