PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
DOANH NGHIỆP.
A.TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP:
I.Khái niệm, vai trò, chức năng tài chính doanh nghiệp:
1.Khái niệm về tài chính doanh nghiệp:
a.Khái niệm về doanh nghiệp:
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân hoạt động kinh
doanh trên thị trường làm tăng giá trị của chủ sở hữu.
Doanh nghiệp là một cách thức tổ chức hoạt động kinh tế của nhiều cá nhân. Có
nhiều hoạt động kinh tế chỉ có thể thực hiện bởi các doanh nghiệp chứ không phải
các cá nhân. Mục đích chủ yếu là thực hiện hoạt động kinh doanh, nhiệm vụ chủ
yếu của các doanh nghiệp là thực hiện hoạt động kinh doanh với mục tiêu cơ bản
nhất là thu được lợi nhuận tối đa trong sự phát triển bền vững. Doanh nghiệp có
nhiều loại khác nhau tuỳ theo tiêu thức phân chia có các loại hình doanh nghiệp như
doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp
danh, công ty liên doanh, doanh nghiệp tư nhân.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp bao gồm các chủ thể kinh doanh
sau đây: Kinh doanh cá thể, kinh doanh góp vốn, công ty.
b.Khái niệm tài chính:
Tài chính là những tổng thể mối quan hệ kinh tế được thực hiện dưới hình thức
tiền tệ, tài chính được đặc trưng bởi sự độc lập tương đối của tiền tệ trong quá trình
tạo lập hay sử dụng các quỹ tiền tệ đại diện cho những sức mua nhất định ở các chủ
thể kinh tế xã hội.Tài chính phản ánh tổng hợp các quan hệ trong phân phối các
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.comnguồn lực tài chính thông qua tạo lập hay sử dụng các quỹ tiền tệ, nhằm đáp ứng
nhu cầu tích luỹ hay tiêu dùng của các chủ thể trong xã hội.
c.Tài chính doanh nghiệp: Tài chính doanh nghiệp là những quan hệ kinh tế
Để đạt được những mục đích sản xuất kinh doanh, yếu tố hàng đầu của doanh
nghiệp là phải có vốn. Trong điều kiện cơ chế thị trường hiện nay, việc đảm bảo
vốn trở thành một nhân tố sống còn của mỗi doanh nghiệp. Xuất phát từ nhu cầu
vốncủa các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế. nên thị trường cũng xuất hiện
những nhân tố mới của thị trường tài chính cùng những hình thức trong liên doanh
liên kết sản xuất và đầu tư…Trong bối cảnh đó các doanh nghiệp có khả năng phát
huy cao độ các chức năng tài chính để đảm bảo cho sản xuất kinh doanh.
-Tài chính doanh nghiệp có vai trò trong việc tổ chức sử dụng vốn một cách tiết
kiệm và có hiệu quả, cũng như đảm bảo vốn đây được coi là điều kiện tồn tại và
phát triển của mỗi doanh nghiệp.
Trong điều kiện cơ chế thị trường quy luật cạnh tranh đã đặt ra trước các doanh
nghiệp những yêu cầu khắt khe hơn. Người quản lý phải có nghệ thuật trong việc sử
dụng vốn để không bị ứ đọng, quay vòng nhanh, xác định những trọng điểm trong
sử dụng vốn để đảm bảo tiết kiệm và đem lại hiệu quả cao, đồng thời phải tìm ra các
động tác bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com- Tài chính doanh nghiệp có vai trò là đòn bẩy kinh tế thích hợp sản xuất kinh
doanh. Trong vai trò này, bằng các cơ chế phân phối thu nhập, phân phối quỹ tiền
lương, quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng,… sẽ đưa lại kết quả lớn lao trong sản xuất
kinh doanh như:kích thích tăng năng xuất lao động, tăng cường phát minh sáng chế,
kích thích tiêu dùng xã hội… Cũng bằng các biện pháp tài chính có thể đề cao được
trách nhiệm vật chất trong sản xuất, ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực trong sản
xuất kinh doanh, lập lại cân bằng trong phân phối.
b.Đối với hệ thống tài chính quốc gia:
Tài chính doanh nghiệp là cơ sở tạo nền vững chắc của hệ thống tài chính quốc
gia vì sự đóng góp của các doanh nghiệp vào Ngân sách Nhà nước chiếm tỷ trọng
lớn trong khoản phải thu Ngân sách.
c.Đối với môi trường xung quanh:
để kiểm soát tình hình đảm bảo vốn sản xuất kinh doanh, tình hình sản xuất kinh
doanh và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Cụ thể qua tỷ trọng cơ cấu qua nguồn huy
động việc sử dụng nguồn vốn huy động, việc tính toán các yếu tố chi phí vào giá
thành và phí lưu thông, việc thanh toán các khoản công nợ với ngân sách, với người
bán, với tín dụng với công nhân viên và kiểm tra việc chấp hành kỷ luật tài chính,
kỷ luật thanh toán, kỷ luật tín dụng của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó giúp cho chủ
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.comthể quản lý, phát hiện những khâu mất cân đối, những cơ sở trong công tác điều
hành, quản lý kinh doanh để có quyết định ngăn chặn kịp thời các khả năng tổn thất
có thể xảy ra nhằm duy trì và nâng cao hiệu quả kinh doanh. Đặc điểm của chức
năng này là toàn diện và thường xuyên suốt quá trình kinh doanh của doanh nghiệp.
II.Những vấn đề phân tích tài chính:
1.Nội dung phân tích tài chính:
a.Khái niệm về phân tích tài chính:
Phân tích tài chính là sử dụng một tập hợp các khái niệm, phương pháp và các
công cụ cho phép sử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm
đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chất
lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó. Quy trình thực hiện phân tích tài
chính ngày càng được áp dụng rộng rãi trong mọi đơn vị kinh tế được tự chủ nhất
định về tài chính như các doanh nghiệp thuộc mọi hình thức được áp dụng trong các
tổ chức xã hội, tập thể, các cơ quan quản lý tổ chức công cộng.
b.Nhiệm vụ của phân tích tài chính:
- Đánh giá tình hình sử dụng vốn nguồn vốn như: Xem xét việc phân bổ vốn
nguồn vốn có hợp lý hay không, xem xét mức độ đảm bảo vốn cho nhiệm vụ sản
xuất kinh doanh phát hiện những nguyên nhân dẫn đến tình trạng thừa thiếu vốn.
- Đánh giá tình hình thanh toán khả năng thanh toán của doanh nghiệp, tình hình
chấp hành các chính sách chế độ tài chính, tín dụng của Nhà nước.
- Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn.
b.Ý nghĩa của việc phân tích tài chính:
Phân tích tài chính rất hữu ích trong việc quản trị doanh nghiệp đồng thời là
nguồn thông tin tài chính chủ yếu đối với những người ngoài doanh nghiệp. Đối với
chủ doanh nghiệp mối quan tâm hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ.
Ngoài ra các nhà quản trị còn quan tâm đến các mục tiêu khác như: công việc làm
ăn, nâng cao chất lượng sản phẩm cung cấp những sản phẩm hàng hoá và dịch vụ
với chi phí thấp nhất, đóng góp phúc lợi xã hội, bảo vệ môi trường.
.Đối với chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm chủ yếu của
họ là hướng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Vì vậy họ đặc biệt chú ý đến
lượng tiền và đến các tài sản khác có thể chuyển đổi thành tiền nhanh, từ đó so sánh
với số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng cũng rất quan tâm đến
số lượng vốn của chủ sở hữu. Bởi vì số lượng vốn của chủ sở hữu này sẽ là khoản
bảo hiểm cho họ trong thời gian doanh nghiệp gặp rủi ro.
.Đối với nhà đầu tư mối quan tâm của họ thường hướng vào các yếu tố rủi ro,
thời gian hoàn vốn, khả năng sinh lãi, khả năng thanh toán vốn, vì vậy họ cần thông
tin về điều kiện tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp. Đồng thời các nhà đầu tư
cũng rất quan tâm đến việc điều hành hoạt động sự an toàn và tính hữu hiệu cho họ.
Bên cạnh đó chủ doanh nghiệp (chủ sở hữu) các nhà quản lý chủ ngân hàng, các nhà
cung cấp còn có nhiều nhóm người khác quan tâm đến thông tin tài chính của doanh
nghiệp đó là cơ sở tài chính, người lao động những người này có thông tin về cơ
bản giống chủ ngân hàng, nhà đầu tư, các chủ doanh nghiệp vì nó liên quan đến
quyền lợi và trách nhiệm đến khách hàng hiện tại và trong tương lai của họ.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com 3.Phương pháp phân tích:
a.Phương pháp so sánh:
Để áp dụng phương pháp so sánh cần đảm bảo các điều kiện có thể so sánh được,
Số liệu trên bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của
doanh nghiệp theo cơ cấu tài sản, nguồn vốn và cơ cấu nguồn vốn hình thành tài sản
đó.Căn cứ vào bảng cân đối kế toán có thể nhận xét và đánh giá khái quát tình hình
tài chính của doanh nghiệp.
-Ý nghĩa bảng cân đối kế toán:
Bảng cân đối kế toán rất có ý nghĩa trong công tác quản lý doanh nghiệp. Số liệu
trên bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp
theo cơ cấu của tài sản. Nguồn vốn và cơ cấu nguồn hình thành các tài sản đó.
Thông qua bảng cân đối kế toán, có thể nhận xét nghiên cứu và đánh giá khái quát
tình hình tài chính doanh nghiệp. Trên cơ sở đó có thể phân tích tình hình sử dụng
vốn, khả năng huy dộng vốn vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
-Kết cấu bảng cân đối kế toán: Bảng cân đối kế toán được chia làm hai phần:
.Phần tài sản:Chỉ tiêu phần tài sản phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có của
doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo theo cơ cấu tài sản theo hình thức tồn tại trong
quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tài sản được phân chia như sau:
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com A.Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn
B.Tài sản cố định và đầu tư dài hạn
.Phần nguồn vốn: Phản ánh nguồn hình thành tài sản hiện có của doanh nghiệp
tại thời điểm lập báo cáo. Các chỉ tiêu nguồn vốn thể hiện tính pháp lý của tài sản
đối với tài sản đang quản lý và sử dụng ở doanh nghiệp.Nó được phân chia như sau:
A.Nợ phải trả
B.Nguồn vốn chủ sở hữu.
Mỗi phần của bảng cân đối kế toán được phản ánh theo 3 cột: mã số, số đầu
năm,số cuối kỳ (quý, năm).
b.Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh:
-Khái niệm báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh: Đây là báo cáo
tài chính tổng hợp tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh trong một kỳ kế toán
sự tăng giảm của từng khoản mục và sự thay đổi về tỷ trọng trong bảng cân đối kế
toán, với số liệu này thông thường được đánh giá hai mặt: Tình hình phân bổ tài sản
và tình hình phân bổ nguồn vốn.
1.Đánh giá khái quát tình hình phân bổ tài sản: Dựa vào bảng cân đối kế toán
ta có thể lập bảng phân tích tình hình phân bổ tài sản như sau :
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.comPhần tài sản: Phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm
lập báo cáo
-TSLĐ: Phản ánh tổng giá trị tài sản lưu động có đến thời điểm lập báo cáo, bao
gồm vốn bằng tiền, đầu tư ngắn hạn, các khoản phải thuvà giá trị tài sản cho quá
trình sản xuất kinh doanh.
Chênh lệch cuối
năm
so với đầu năm
Tỷ trọng
Chỉ tiêu
Số
đầu
năm
Số
cuối
năm
Mức
Tỷ
lệ(%)
Đ.
năm
nhằm đáp ứng nhu cầu và nâng cao hiệu quả kinh doanh điều này thể hiện thông
qua việc xem xét kết cấu tài sản cũng như quy mô biến động của nó.
.Phân tích theo chiều ngang: Căn cứ vào số liệu đầu năm, cuối năm ta tính được
mức chênh lệch cũng như phần trăm chênh lệch. Đây là con số tuyệt đối thể hiện sự
biến động qui mô về tài sản của đơn vị và phần trăm chênh lệch của tổng tài sản đầu
năm và cuối năm là con số tương đối thể hiện biến động về tốc độ tăng trưởng của
tài sản đơn vị. Để thấy rõ hơn ta đi sâu phân tích từng khoản mục tài sản.
Đối với tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn: Do tính chất của tài sản lưu động
là vận động liên tục từ hình thức này sang hình thức khác. Một trong những nguyên
tắc quản lý vốn lưu động là nguyên t c vừa đủ, có thể không nên dư thừa dẫn đến dễ
bị chiếm dụng vốn hoặc gây ứ đọng vốn. Trong cơ chế hiện nay việc sử dụng vốn
hợp lý thể hiện ở vòng quay của vốn lưu động. Vốn lưu động quay càng nhanh việc
sử dụng vốn càng hiệu quả. Đánh giá tài sản lưu động thể hiện thông qua bộ phận
cấu thành của nó.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com Cùng với sự biến động của tài sản lưu động thì TSCĐ cũng có những thay đổi cụ
thể: TSCĐ tăng lên thì có thể đánh giá là doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh
doanh,với sự tăng lên của TSCĐ mới thực sự chứng tỏ việc đầu tư mở rộng sản xuất
kinh doanh. Còn khoản mục xây dựng cơ bản tăng chưa có thể khẳng định là mở
rộng sản xuất kinh doanh.
.Phân tích theo chiều dọc: Việc phân tích theo chiều ngang cho thấy biến động
của từng khoản mục nhưng chưa cung cấp cho ta mối quan hệ giữa các khoản mục.
Phân tích theo chiều dọc là cơ sở để xác định kết quả, tỷ lệ của từng khoản mục
trong tổng số, qua đó có thể đánh giá biến động so với quy mô chung giữa cuối kỳ
và đầu kỳ.
Khi phân tích bảng trên theo chiều dọc ta sẽ thấy rõ hơn sự phân bố tài sản. Mỗi
sự biến động của kết cấu tài sản có hợp lý hay không có phù hợp với tình hình sản
xuất kinh doanh hay không.
đến khâu bán hàng. Đặc biệt cần phải quan tâm đến mức giá tăng giữa giá vốn với
doanh thu để tìm ra nguyên nhân của sự chênh lệch đó. Tuy nhiên cần kết hợp sự
phân tích thay đổi của doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ vì doanh
thu này chịu ảnh hưởng của các khoản giảm trừ.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.comViệc so sánh theo doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ là một công
cụ phân tích hữu ích, qua đó biết được 100 đồng doanh thu này có bao nhiêu đồng
chi phí, lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ.
III.Phân tích tình hình thanh toán và khả năng thanh toán của doanh nghiệp:
1.Phân tích tình hình thanh toán:
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn phát
sinh việc thu chi thanh toán.Song các khoản phải thu, phải trả cần phải có một
khoản thời gian nhất định mới thanh toán được. Còn thời gian thanh toán dài hay
ngắn là hoàn toàn phụ thuộc vào chế độ quy định về nộp thuế nộp lãi của nhà
nước.Tùy thuộc vào phương thức được áp dụng.
Việc chiếm dụng vốn lẫn nhau hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp là một nét đặc trưng trong thương mại thậm chí còn được coi là một sách
lược kinh doanh hữu hiệu của các doanh nghiệp ngang nhiên hoạt động trên thương
trường mà trong tay không hề có một đồng vốn nào. Do đó vấn đề thanh toán trở
nên cao so với kinh doanh
Việc phân tích tình hình thanh toán của doanh nghiệp để tìm ra nguyên nhân của
mọi sự ngưng trệ khê đọng các khoản thanh toán nhằm tiến tới làm chủ tài chính, có
một ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Qua số liệu của bảng phân tích để tìm thấy được sự biến động của các khoản
phải thu và phải trả từ đó đưa ra nhận xét về tình hình thu hồi nợ, và dấu hiệu biến
động của các khoản nợ từ đó đưa ra biện pháp nhằn giảm khách hàng nợ và nguyên
nhân của việc tăng khoản nợ có hợp lý hay không.
2. Phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp:
c. Hệ số khả năng thanh toán tức thời (H
3
):
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com Trong cơ chế quản lý hiện nay thì các doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm về
toàn bộ hoạt động và kết quả kinh doanh của mình. Doanh nghiệp trong quá trình
kinh doanh phải luôn đặt ra một tình huống xấu nhất có thể xảy ra có thể thanh toán
tức thời các khoản nợ.
d.Số vòng quay khoản phải thu (S
1
):
Các chỉ tiêu này phản ánh tốc độ luân chuyển các khoản thu. Số vòng quay này tăng
lên chứng tỏ doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh các khoản nợ. Khả năng chuyển đổi
thành tiền của các khoản phải thu càng nhanh ảnh hưởng tốt đến khả năng thanh
toán và khả năng hoạt động. Tuy nhiên chú ý rằng hệ số quá cao có thể biểu hiện
không tốt, bởi vì doanh nghiệp thể hiện phương thức tín dụng khắc khe sẽ ảnh
hưởng không tốt đến quá trình tiêu thụ, giảm doanh thu bởi vì khách hàng luôn
muốn thời hạn trả tiền kéo dài thêm.
e. Số ngày một vòng quay khoản phải thu (S
n
):
Chỉ tiêu tiêu này thể hiện số ngày cần thiết để thu hồi nợ nếu chỉ tiêu này nhỏ
thể hiện doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn điều này chưa hẳn đã tốt. Chỉ tiêu này
cao thể hiện doanh nghiệp chiếm dụng vốn nhiều cần phải xem lại chính sách tín
dụng của công ty.
f.Số vòng quay hàng tồn kho (S
2
trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thường sử dụng trên một năm.
-Nguồn vốn tạm thời: Là nguồn vốn mà doanh nghiệp tạm thời sử dụng vào hoạt
động sản xuất kinh doanh trong thời gian ngắn. Thường dưới một năm khi phân tích
vốn lưu động cần chú ý đến các trường hợp sau:
Có 2 trường hợp xảy ra khi phân tích vốn lưu động ròng
VLĐr = NVTX - TSCĐ & ĐTDH
Hoặc: VLĐr = TSLĐ & ĐTNH - NVTT
S
n2
=
360
Số vòng quay hàng tồn kho
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.comTrường hợp 1:VLĐr = 0 doanh nghiệp có kết cấu nguồn vốn ổn định, tạm thời
đạt trạng thái cân bằng tài chính trong ngắn hạn trong trường hợp này toàn bộ các
khoản TSCĐ và đầu tư dài hạn được tài trợ vừa đủ nguồn vốn thường xuyên ở trạng
thái này doanh nghiệp cũng có 2 nguy cơ xảy ra đó là VLĐr < 0 hoặc VLĐr > 0.
.Trường hợp 2:VLĐr > 0 doanh nghiệp có cấu trúc vốn ổn định, trạng thái cân
bằng tốt nhất và tính tự chủ cao. Trong trường hợp này NVTX không chỉ sử dụng
để tài trợ cho TSCĐ và ĐTDH mà còn sử dụng để tài trợ một phần TSCĐ của DN.
.Trường hợp 3: VLĐr < 0 doanh nghiệp có cấu trúc nguồn vốn mất tự chủ,
NVTX không đủ để tài trợ cho TSCĐ và ĐTDH. Rủi ro doanh nghiệp cao dẫn đến
áp lực thanh toán các khoản nợ và mất cân bằng tài chính.
b.Phân tích đảm bảo vốn lưu động ròng (NCVLĐ):
NCVLĐ = HTK + Khoản phải thu - Khoản phải trả (không có nợ vay)
Nhu cầu vốn lưu động có thể bù đắp bằng nhiều nguồn khác nhau nhưng ổn định
và lâu dài thì cần bù đắp NVTX. Nghĩa là nguồn vốn chủ sử hữu và vay dài hạn bù
đắp xong TSCĐ thì phần còn lại dùng để bù đắp cho VLĐ.
toàn trong kinh doanh kém và chỉ cần một khoản nợ tới hạn không trả được sẽ làm
cho việc thanh toán không thăng bằng và xuất hiện nguy cơ phá sản.
b. Tỷ suất tự tài trợ (P
2
):
Tỷ suất tự tài trợ là quan hệ giữa vốn chủ sở hữu với tổng tài sản,tỷ suất này
phản ảnh khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính và tính tự chủ trong kinh doanh. Tỷ
suất tự tàì trợ phản ảnh cứ 100 đồng tài sản có bao nhiêu đồng vốn chủ sở hữu của
Nåü
phaíi
traí
P
1
=
*
100 %
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.comdoanh nghiệp, tỷ suất này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp có nhiều vốn tự có do đó
doanh nghiệp không bị ràng buộc hoặc bị sức ép của khoản nợ vay. Qua việc tính
toán hai chỉ tiêu trên, tỷ suất tự tài trợ biểu hiện tính độc lập hay phụ thuộc của
doanh nghiệp tỷ suất nợ và tỷ suất tự tài trợ sẽ là mối quan tâm của nhà đầu tư.
c. Tỷ suất đầu tư: Để đánh giá tình hình đầu tư của doanh nghiệp cần tính chỉ
tiêuđầu tư, tỷ suất đầu tư được xác định như sau:
Tỷ suất đầu tư phản ảnh tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật thể hiện năng
lực sản xuất và xu hướng tăng lâu dài của doanh nghiệp.
V. Phân tích hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp:
*
Các nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính (ROE):
Trong điều kiện kinh doanh doanh nghiệp huy động vốn từ nhiều nguồn nhất
là thị trường tài chính chỉ tiêu này càng cao sẽ thu hút nguồn vốn mới đầu tư và
ngược lại tỷ lệ này thấp dưới mức sinh lời cần thiết thì khả năng thu hút vốn đầu tư
vào doanh nghiệp càng khó. Có thể thấy chỉ tiêu này chịu tác động của nhiều yếu tố
chúng ta xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính.
+Khả năng tự chủ về tài chính :
Khả năng tự chủ về tài chính được thể hiện qua chỉ tiêu tỷ suất tự tài trợ, nếu tỷ
suất tự tài trợ càng lớn thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng nhỏ.Tỷ suất
tự tài trợ là tỷ lệ nguồn vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn nó thể hiện nguồn vốn
chủ sở hữu chiếm bao nhiêu trong tổng nguồn vốn.
Công thức: T: Là thuế suất thuế TNDN
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com .Độ lớn đòn bẩy tài chính (ĐBTC): Đòn bẩy tài chính được định nghĩa là tỷ lệ nợ
phải trả trên nguồn vốn chủ sở hữu. Thực chất nó thể hiện cấu trúc nguồn vốn của
doanh nghiệp ở thời điểm hiện tại. Công thức tính hiệu quả tài chính liên
quan đến đòn bẩy tài chính :
ROE = Tỷ suất sinh lời tài sản (ROA)
*
(1+ĐBTC)
*
(1-T)
Do vậy có thể thấy rằng nếu hệ số đòn bẩy càng cao hiệu quả tài chính sẽ được
tăng lên. Tuy nhiên trong công thức trên tỷ số sinh lời tài sản vẫn còn ảnh hưởng
bởi cấu trúc nguồn vốn vì lợi nhuận để tính chỉ tiêu này đã trừ đi chi phí lãi vay.
Do vậy để xem xét riêng ảnh hưởng của việc vay nợ ta nghiên cứu như sau:
CP lãi vay = Nợ vay phải trả