SỬ DỤNG NẸP TỔ HỢP CÁC BON - ĐIỀU TRỊ GÃY THÂN XƯƠNG CÁNH TAY - Pdf 20

SỬ DỤNG NẸP TỔ HP CÁC-BON (C3)
ĐIỀU TRỊ GÃY THÂN XƯƠNG CÁNH TAY Nguyễn Anh Tuấn
(1)
, Nguyễn Quang Long
(2)TÓM TẮT
Tại Việt Nam, từ năm 1992 đến nay, qua nhiều giai đoạn khác nhau, nẹp tổ hợp
cacbon (THCB) đã và đang được nghiên cứu trong điều trò gãy xương dưới nhiều hình thức và
xương gãy khác nhau. Nghiên cứu của chúng tôi khảo sát đánh giá khả năng ứng dụng nẹp
THCB C3 trong điều trò gãy thân xương cánh tay và cẳng tay. Từ tháng 05/2001 đến tháng
01/2003, tại bệnh viện Chợ Rẫy, 45 bệnh nhân gãy xương cánh tay gồm: 46 xương cánh tay
đã được mổ dùng nẹp THCB . Với thời gian theo dõi trung bình T
TB
=12,15 tháng, 34 bệnh
nhân theo dõi được (35 xương gãy) có 34 liền xương tốt, 1 trường hợp chậm liền xương. Đa số
là can xương thì II. Với kết quả bước đầu như trên, so sánh với các phương pháp điều trò khác
(nẹp kim loại), chúng tôi nhận thấy nẹp THCB C3 có triển vọng tốt trong điều trò gãy thân
xương cánh tay với các ưu điểm: rẻ tiền, sản xuất tại Việt Nam, cho kết quả liền xương
tốt cần tiếp tục nghiên cứu ứng dụng.

SUMMARY
Using composite carbon plate (C3) to treat fractures of shaft of humerus.
Nguyen Anh Tuan, Nguyen Quang Long

In Viet Nam, since 1992 until now, composite carbon plate (CCP) had been used to
treat long bone fractures with several stages in some difference ways. This research aims to

phương pháp bất động xương gãy đơn thuần không dùng đinh nội tủy kèm theo (nẹp một
mình).

ĐỐI TƯNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu:
Bệnh nhân trưởng thành, từ 15 tuổi trở lên, gãy kín thân xương cánh tay do chấn
thương. Nhập bệnh viện Chợ Rẫy trong khoảng thời gian từ tháng 05/2001 đến tháng 01/2003.
Cỡ mẫu tối thiểu 30 bệnh nhân.
Vật liệu
:
Nẹp T.H.C.B. chế tạo từ vật liệu C3 do Viện Nghiên Cứu ng Dụng Công Nghệ (bộ
Khoa Học Công Nghệ Việt Nam) cung cấp. Mẫu nẹp sử dụng cho gãy thân cánh tay-Tạm gọi
là nẹp C3. Đây là loại nẹp trung tính không dùng dụng cụ nén ép (Hình). Các vít cố đònh là vít
kim loại đường kính 3,5mm.
Kích thước nẹp: 150 x 13 x 4 mm.
Phương pháp nghiên cứu:
Tiền cứu.
Các bệnh nhân hội đủ tiêu chuẩn trong tiêu chuẩn mẫu được chúng tôi lựa chọn dùng
nẹp C3 đơn thuần (không dùng kèm đinh nội tủy) để kết hợp xương.
Phương pháp phẫu thuật:

Đường mổ: chúng tôi dùng đường mổ sau hay trước ngoài. Các trường hợp có kèm liệt
thần kinh quay, chúng tôi thường lựa chọn đường mổ sau, với đường này có thể bộc lộ, thám
sát thần kinh quay một đoạn khá dài.
Vò trí đặt nẹp và nguyên tắc đặt nẹp: các gãy 1/3 giữa và dưới, chúng tôi thường đặt
nẹp ở mặt sau xương cánh tay. Với các gãy 1/3 trên, chúng tôi đặt nẹp ở phía trước ngoài
xương cánh tay. Nguyên tắc đặt nẹp: nẹp được cố đònh vào xương bằng 3 vít 3,5mm ở mỗi bên
đường gãy (6 vỏ xương). Tránh sử dụng kỹ thuật vít nén ép các mặt gãy (Lag-screw) vì triệt
tiêu di động đàn hồi. Chỉ dùng nẹp T.H.C.B. C3 đơn thuần để bất động xương gãy, không
dùng đinh nội tủy (nẹp cacbon một mình).

 Không đau.
 Cứng khớp vai hoặc khuỷu dưới 20
0
.
 Gập góc dưới 10
0
.

Trung bình
 Đau khi gắng sức.
 Cứng khớp vai và khuỷu giữa 20
0
và 40
0
.
 Gập góc hơn 10
0
.

Xấu
 Đau thường xuyên.
 Khớp giả hay liệt quay do thầy thuốc gây ra.
 Cứng khớp vai hoặc khuỷu hơn 40
0
.

KẾT QUẢ
Số liệu:
Tổng số bệnh nhân trong nghiên cứu đã mổ theo tiêu chuẩn lựa chọn đònh trước: 45
bệnh nhân (35 nam, 10 nữ ), 1 bệnh nhân gãy 2 cánh tay.

Khớp giả 0
Chậm liền 1
Cộng 35

Thời gian liền xương trung bình: 11,15 tuần.
Hình thức liền xương:
Xương
Can
Cánh tay
Thì I 9(25,71%)
Thì II 26(74,29%)
Cộng 35
Ước lượng tỷ lệ liền xương thì I:
p dụng công thức 1 tính ước lượng tỷ lệ liền xương thì I của xương cánh tay ở khoảng
tin cậy 95% là:
2) thức (Công n : )q .p( p p q) oo oq 2±=
n
ct
= 35; p
0
= 0,257; q
0
= 0,743 ta có tỷ lệ liền xương thì I của xương cánh tay p
ct

khoảng tin cậy 95% là:
p
ct
= 0,257 ± 0,148; hay 25,7 ± 14,8 %.
Như vậy: Trong nghiên cứu này, nẹp từ vật liệu T.H.C.B. C3 dùng bất động xương gãy

Sarmiento báo cáo kết quả điều trò bảo tồn 620 bệnh nhân với nẹp chức năng có thời
gian bỏ nẹp (liền xương) trung bình là 11,5 tuần, với chi tiết cụ thể các nhóm như sau: 465
gãy kín có thời gian liền xương trung bình 9,5 tuần; 155 gãy hở có thời gian liền xương trung
bình 14 tuần.
Bell và cộng sự 1985 báo cáo 39 trường hợp điều trò gãy cánh tay bằng nẹp vít với 34
trường hợp theo dõi được có thời gian liền xương trung bình là 19 tuần.
Dabezies và cộng sự, báo cáo 44 trường hợp điều trò gãy xương cánh tay bằng nẹp vít,
có 43 trường hợp (97%) liền xương trung bình ở 12 tuần.
Như vậy, thời gian liền xương trung bình trong nhóm gãy cánh tay của chúng tôi là
11,15 tuần cũng nằm trong giới hạn liền xương cánh tay bình thường với nhiều phương pháp
điều trò khác nhau. So sánh về thời gian liền xương này chỉ có tính chất tham khảo vì các
nghiên cứu không sử dụng tiêu chuẩn liền xương giống nhau.
Liệt thần kinh quay sau mổ là biến chứng thường gặp trong mổ kết hợp xương cánh
tay. Tỷ lệ liệt sau mổ nhìn chung tùy tác giả và phương pháp ( đóng kín đinh nội tủy dường
như cao hơn nẹp vít ), tuy nhiên hầu hết đều tự phụ hồi sau mổ trong khoảng 4-6 tuần [45],
[51], [74] Chúng tôi có 1 trường hợp liệt thần kinh quay sau mổ, bệnh nhân này sau đó phục
hồi hoàn toàn ở thời điểm 4 tuần, như vậy biến chứng này cũng nằm trong những biến chứng
thường gặp trong phẫu thuật xương cánh tay, không có bằng chứng để nói rằng biến chứng
này là ảnh hưởng của nẹp hay vật liệu THCB gây ra.
Chậm liền xương: đây là trường hợp gãy 1/3 dưới cánh tay có mảnh thứ 3 (B2 theo
AO), khi mổ chỉ cố đònh được 5 vỏ xương ở đoạn gần. Sau mổ chúng tôi có cho bệnh nhân
mang nẹp tre phụ trợ, khi về nhà bệnh nhân đã tự ý bỏ nẹp phụ trợ và làm việc nặng sớm, khi
tái khám sau 6 tuần có dấu hiệu nẹp tụt vít, chúng tôi đã cho tiếp tục mang nẹp tre và xương
gãy đã liền kỳ II sau 7 tháng. Qua trường hợp này, chúng tôi thấy cần phải có sự thông tin,
giải thích rõ về phương pháp điều trò cho bệnh nhân và gia đình để phối hợp điều trò. và giám
sát chặt chẽ trong điều trò cho bệnh nhân. Tỷ lệ chậm liền xương là 2,8% (1/35) cũng là tỷ lệ
chấp nhận được so với nhiều phương pháp và các tác giả khác nhau .
Tóm lại trong nghiên cứu này, nẹp THCB C3 điều trò gãy kín thân xương cánh tay đã
mang lại kết quả liền xương tốt. Tỷ lệ liền xương cao, thời gian liền xương nằm trong giới hạn
bình thường của liền xương cánh tay với những phương pháp và tác giả khác nhau. Các tai

6. Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Quang Long (2003): Điều trò gãy xương chi trên bằng nẹp tổ
hợp các-bon, Y HỌC thành phố Hồ Chí Minh, 7 (1), tr. 6 – 9.
7. M. J. Bell and Coll. (1985): The results of plating humeral shaft fractures in patient with
multiple injuries: the Sunnybrook experience, J. Bone Joint Surg. (Br.), 67B,
pp 293 – 296.
8. J. R. Chapman, B. M. Henley, J. Angel, P. J. Benca (2000): Randomized prospective
study of humeral shaft fracture fixation intramedullary nails versus plates, J. Orthop
Trauma, 14 (3), pp 407 – 415.
9. E. J. Dabezie and Coll. (1992): Plate fixation of the humeral shaft for acute fractures,
with and without radial nerve injuries, J. Orthopaedic Trauma, 6(1), pp 10 – 13.
10. Augusto Sarmiento, James P. Waddell, Loren L. Latta (2001): Diaphyseal Humeral
Fractures: Treatment Options, J Bone Joint Surg (Am), 83-A (10), pp 1566 – 1579.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status