nghiên cứu đực hóa cá hồi vân (oncorhynchus mykiss) bằng 17α methyltestosteron tại việt nam - Pdf 20

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
 ĐẶNG XUÂN TRƢỜNG NGHIÊN CỨU ĐỰC HÓA CÁ HỒI VÂN (ONCORHYNCHUS
MYKISS) BẰNG 17α - METHYLTESTOTERON

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS,TS NGUYỄN TƢỜNG ANH
Nha Trang - 2010
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các tài liệu
tham khảo trong luận văn được trích dẫn chính xác và đầy đủ.


2009 (SUDA) có được khoá học này.
Trong thời gian học tập và thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận
được rất nhiều sự giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân. Qua đây, tôi xin được bày tỏ lòng
biết ơn sâu sắc đến các tổ chức, cá nhân đó.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS-TS Nguyễn Tường Anh, người đã
trực tiếp giúp đỡ tôi thực hiện và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn ThS Nguyễn Thanh Hải và toàn thể các cán bộ
Trung tâm nghiên cứu cá nước lạnh Thác Bạc - SaPa – Lào Cai, đã tạo điều kiện thuận
lợi về cơ sở vật chất cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp. Nha Trang, ngày 20 tháng 07 năm 2010. Đặng Xuân Trƣờng

iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH v
PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1
PHẦN 2. MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3
1. Mục tiêu nghiên cứu 3
2. Nội dung nghiên cứu 3
PHẦN 3. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

5.1. Phân biệt đực cái. 18
5.2 Môi trƣờng trong hệ thống bể thí nghiệm: 20
5.3 Sinh trƣởng và tỷ lệ sống của cá Hồi vân ở các nghiệm thức khác nhau 22
5.4 Tỷ lệ dị hình 24
5.5 Xác định tỷ lệ đực hóa, hiệu suất đực hóa 25
PHẦN 6. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 28
1. Kết luận 28
2. Ý kiến đề xuất 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
PHỤ LỤC
MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA

v
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1: Dụng cụ và thiết bị thí nghiệm 16
Bảng 2: Kết quả tỷ lệ sống của cá Hồi vân trong đợt thí nghiệm 24
Bảng 3: So sánh hiệu quả đổi giới tính cá Hồi vân giữa hai phương pháp cho ăn và
ngâm MT 27
DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1: Hình dạng bên ngoài của cá Hồi vân (Oncorhynchus mykiss) 4
Hình 2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm nghiên cứu công nghệ đực hóa cá Hồi vân
(Oncorhynchus mykiss) bằng MT 17

nhu cầu của người tiêu dùng và thúc đẩy nghề nuôi trồng thủy sản phát triển.
Cá Hồi vân (Oncorhynchus mykiss) là loài cá nuôi nước ngọt có giá trị kinh tế
cao do thịt cá thơm ngon và có chứa nhiều nguyên tố vi lượng, chất khoáng, axít béo
không no rất có ích cho sức khoẻ của con người. Loài cá này đang được nuôi phổ biến
ở một số nước trên thế giới như Na Uy, Phần Lan, Đan Mạch, Anh, Úc, Mỹ Ở Châu
Á một số nước như: Ấn Độ, Nê Pan, Đài Loan, Trung Quốc, Israel, Hàn Quốc, Thái
Lan không chỉ thành công trong việc nuôi thịt cá Hồi vân mà còn chủ động sản xuất
được giống của loài cá này [14].
Ở Việt Nam cá Hồi vân đã và đang được nuôi thịt tại Lào Cai, Lai Châu, Yên
Bái Lâm Đồng, Sơn La, Hà Giang, Tuyên Quang Kết quả bước đầu cho thấy đối
tượng này có thể nuôi rộng rãi ở một số địa phương miền Bắc Việt Nam những nơi có
nguồn nước lạnh, với nhiệt độ thấp hơn 20
o
C và giàu oxy hòa tan.
Trên thực tế nhu cầu về con giống loài này hiện nay là khá lớn. Năm 2008, qua
số trứng phôi có điểm mắt nhập từ Phần Lan về Lào Cai và Lâm Đồng là khoảng trên
30 vạn. Ngoài ra một lượng đáng kể cá giống được nhập từ Trung Quốc (một loài cá
Hồi vân khác) vào Việt Nam qua con đường tiểu ngạch [13].
Mặc dù ở nước ta, cá Hồi vân đã được nuôi vỗ thành thục, kích thích sinh sản ra
được cá giống, nhưng khó khăn lớn nhất vẫn là các chủ trang trại muốn sử dụng cá
đơn tính cái để nuôi với mục đích là vào lúc thu hoạch đảm bảo kích thước, khối lượng
và chất lượng cá thịt theo yêu cầu thị trường [14]. Vì vậy yêu cầu đặt ra là để chủ động
phát triển nghề nuôi loài này thì cần phải sản xuất được giống cá Hồi vân đơn tính cái 2
ngay trong nước để cung cấp giống cho người nuôi mà không cần nhập từ nước ngoài.
Việc đầu tiên chúng ta cần phải làm là tạo ra đàn cá Hồi vân đực mang nhiễm sắc thể
XX sau đó cho phối với cá cái bình thường (XX) để tạo ra thế hệ con toàn cái. Xuất
phát từ thực tế trên và được sự đồng ý của Khoa Nuôi trồng thủy sản, Trường Đại học
3
PHẦN 2. MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1. Mục tiêu nghiên cứu
Tạo ra đàn cá Hồi vân (Oncorhynchus mykiss) đực XX trong điều kiện khí hậu
của Việt Nam.

2. Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu công nghệ đực hóa cá Hồi vân (Oncorhynchus mykiss) bằng
17α Methyltestosteron ( MT):

Đây là nội dung chính của nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sản xuất cá Hồi
vân toàn cái. Công nghệ hiện đang được áp dụng rộng rãi trên thế giới. Những việc
làm cụ thể là:
1. Đực hóa cá Hồi bằng phương pháp ngâm và phương pháp cho ăn thức ăn có
trộn MT
2. Xác định liều lượng MT và thời gian xử lý phù hợp.
Nội dung nghiên cứu này nhằm đưa ra được nồng độ/hàm lượng và thời gian sử
dụng MT cho kết quả tạo cá đực XX cao và đạt hiệu quả kinh tế trong điều kiện ở Việt
Nam.
3. Kiểm tra tỷ lệ đực hóa, hiệu suất đực hóa của các lô thí nghiệm và lô đối
chứng:
Trong phần nghiên cứu này, dựa trên các bước tiến hành kiểm tra tỷ lệ giới tính
của cá rô phi để thực nghiệm, quan sát tìm ra quy trình kiểm tra giới tính cá Hồi vân.
4. Xác định và so sánh tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng giữa các lô thí nghiệm
với lô đối chứng.
5. Theo dõi đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố môi trường, dịch bệnh:
Trong quá trình nghiên cứu, các yếu tố môi trường, dịch bệnh của cá được theo

đen hình cánh sao, khi thành thục dọc 2 bên thân xuất hiện các vân mầu hồng. Mầu
hồng này trên cá đực được biểu hiện rất đặc trưng trong mùa sinh sản [42]. Một số đặc
điểm hình thái bên ngoài như mầu sắc, mức độ lấp lánh của cá Hồi vân còn liên quan 5
đến các yếu tố môi trường như độ đục, cường độ chiếu sáng, tuổi, giới tính và thành
phần một số nguyên tố vi lượng trong thức ăn sử dụng hàng ngày.
Cá Hồi vân có hình thon dài với 60 – 66 đốt sống, 3 – 4 gai sống lưng, 10 – 12
tia vây lưng, 8 – 12 tia vây hậu môn và 19 tia vây đuôi. Cá còn có vây mỡ, mép vây
thường có màu đen.
- Phân bố: Cá Hồi vân O. mykiss có nguồn gốc từ vùng biển Thái Bình Dương
khu vực Bắc Mỹ. Cá sống trong các hồ, suối và sông. Loài cá này đã được di nhập vào
nuôi ở nhiều nước châu Âu từ những năm 1890 [42]. Cá Hồi bao gồm nhiều nhóm có
đặc điểm sinh sống, phân bố và chu kỳ phát triển khác nhau. Trong đó có thể kể đến 2
nhóm chính gồm nhóm sinh sống ngoài biển và nhóm sinh sống và phát triển trong các
thuỷ vực nước ngọt. Ngoài ra, có nhóm sinh trưởng và phát triển tốt trong cả nước
ngọt và nước lợ [41]. Loài cá được gia hoá, sinh sản nhân tạo và nuôi thành công sớm
nhất trong các thuỷ vực nước ngọt là cá Hồi vân “Rainbow trout”. Loài cá này hiện
đang được thị trường ưa chuộng và phát triển.

3.1.3. Một vài đặc điểm về sinh thái chính của cá hồi vân
+ Nhiệt độ.
Cá Hồi vân có nguồn gốc từ các nước ôn đới, do đó thường sống ở các vùng có
nhiệt độ tương đối thấp và là một trong những loài rộng nhiệt. Chúng có khả năng sinh
trưởng và phát triển ở môi trường nước có nhiệt độ giao động từ 1
o
C đến 20
o
C (Cho,

o
C, không nên vượt quá 21 –
23
o
C trong một thời gian dài. Cá chết nhiều khi nhiệt độ ở mức 25 – 27
o
C [41]. Khả
năng sử dụng thức ăn và tốc độ sinh trưởng sẽ giảm dần rồi ngừng hẳn khi nhiệt độ 6
nước ở mức trên 20
o
C, đây là ngưỡng cao nhất để cá Hồi vân có thể sống trong một
thời gian dài [41].
+ Ôxy hoà tan.
Lượng ôxy hoà tan trong nước là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến sự
sống, phân bố và sức khỏe của cá nói chung và cá Hồi vân nói riêng.
Cá Hồi vân đòi hỏi hàm lượng ôxy hoà tan trong nước rất cao. Thường hàm
lượng ôxy hoà tan trong môi trường nước nuôi cá Hồi phải lớn hơn hoặc bằng 7 mg/l.
Cá Hồi vân có khả năng sinh trưởng và phát triển trong môi trường nước có hàm lượng
ôxy hòa tan từ 5 đến 10 mg/l. Tuy nhiên hàm lượng ôxy hoà tan trong môi trường
nước nuôi lý tưởng cho cá Hồi vân là lớn hơn hoặc bằng 7 mg/l [18]. Theo Steven
H.M., (2002) ngưỡng dưới ôxy của cá Hồi vân ở mức 6 mg/l và trong các bể nuôi
không nên để hàm lượng ôxy hòa tan ở mức thấp hơn 5 mg/l. Cá hồi vân trưởng thành
có thể chịu được trong một thời gian ngắn hàm lượng ôxy ở mức 1,5 – 2 mg/l và đây
là ngưỡng gây chết đối với cá trưởng thành. Ngưỡng ôxy gây chết đối với cá giống
khoảng 3 mg/l [18].
Khi nhiệt độ nước tăng lên, khả năng hòa tan của ôxy từ không khí vào môi
trường nước bị giảm, đây chính là nguyên nhân dẫn đến cá bị stress trong những tháng

sử dụng. Ở các vùng khác nhau có thể tuổi thành thục khác nhau [43]. Tuy nhiên cá cái
hiếm khi thành thục ở 2 tuổi. Cá Hồi vân có thể sinh sản tự nhiên trong các thuỷ vực
nước lạnh, đến mùa sinh sản chúng thường ngược dòng lên thượng nguồn các sông nơi
có thác nước chảy tương đối mạnh để đẻ [17,25]. Trứng thụ tinh trôi theo dòng nước
nở và phát triển thành cá bột ở phía hạ lưu. Ngư dân có thể vớt cá giống này về nuôi.
Trong điều kiện nuôi hiện nay, người ta đã cho loài cá này sinh sản nhân tạo thành
công. Thời gian ấp nở tùy thuộc vào nhiệt độ nước. Theo Hinshaw, JM và ctv, (1999)
với nhiệt độ 12,8
o
C thời gian phát triển phôi là 3 tuần. Tính từ khi phôi có điểm mắt
thì thời gian ấp nở chỉ mất 4 – 7 ngày, nhưng ở 7,2
o
C phải sau 7 tuần trứng mới nở.
Qua đây ta thấy thời điểm cho cá Hồi vân sinh sản nhân tạo tuỳ thuộc vào điều kiện
nuôi vỗ và thời tiết khí hậu của mỗi nước [13].

3.2. Tình hình nuôi cá Hồi vân trong và ngoài nƣớc
3.2.1. Tình hình nuôi cá Hồi vân trên thế giới
Cá Hồi vân O. mykiss hiện đang được nuôi phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế
giới trong đó có Việt Nam. Theo thống kê của FAO (2008) sản lượng cá Hồi vân trên
thế giới đạt trên 600 ngàn tấn và không ngừng tăng nhanh trong những năm gần đây
[6]. 8
Hiện nay Phần Lan vẫn là một trong những nước có nhiều công trình nghiên
cứu và phát triển sản xuất cá Hồi vân nhất. Nước này có sản lượng trung bình hàng
năm hiện nay khoảng 10.000 tấn [15].
Trung Quốc, tính đến năm 1994, đã có khoảng 50 trại nuôi cá Hồi vân tại 10
tỉnh, tuy nhiên chủ yếu vẫn là các trại sản xuất quy mô nhỏ. Tổng sản lượng cá hồi vân

giống như cá song. Ngoài ra điều khiển giới tính để có mầu sắc như mong muốn cũng
được áp dụng rộng rãi trên cá cảnh. Sử dụng hormom sinh dục đực hay cái để tạo cá
bố mẹ cái XY hay đực XX cũng được áp dụng nhiều, điển hình có thể kể đến việc cá
cái XY ở Rô phi để tạo cá bố siêu đực YY [14].
Nghiên cứu đổi giới tính đã được thực hiện trong nhiều năm qua. Công nghệ
sản xuất cá Rô phi đơn tính đực bằng MT đã được Viện nghiên cứu NTTS I ứng dụng
thành công từ năm 1997, sau đó công nghệ đã được chuyển giao cho khoảng trên 20
địa phương trong cả nước [7]. Thực nghiệm sản xuất cá Rô đồng toàn cái thông qua
MT (Đặng Khánh Hồng; Đỗ Trung; Nguyễn Tường Anh, 2006) cũng cho kết quả khả
quan. Tuy nhiên để có được kết quả cao thì những khâu kỹ thuật như chất lượng thức
ăn, cách phối trộn, làm khô, bảo quản và bổ sung thêm Vitamin C đóng vai trò quan
trọng, quyết định đến tỷ lệ cá đực và tỷ lệ sống của cá được xử lý. Ngoài ra, việc sử
dụng hormon sinh dục cái để tạo cá cái XY ở Rô phi để từ đây tạo ra cá Rô phi siêu
đực phục vụ sản xuất cũng đã được Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I áp dụng
[12]. Với nhiệt độ được xác định trong khoảng 27-28
o
C, việc ngâm cá Rô phi non ở
thời điểm 13-14-15 DPH (Day Post hatching – ngày sau khi nở) với các mức nồng độ
MT 1,2; 1,8 và 2,4 mg/L trong thời gian 3; 4; và 5 giờ đã thu được trung bình 94,12%
cá đực (trong đó tỉ lệ đực hóa 87,79%), tỉ lệ sống 98,39%, hiệu suất đực hóa là 0,86
[9]. Khi sử dụng phương pháp cho ăn MT, lượng MT khó phân bố đều đến từng cá thể
và qua nhiều công đoạn chắc chắn làm hao hụt một lượng lớn MT, không quản lý
được lượng MT thừa. Đối với phương pháp ngâm, lượng MT được sử dụng một cách
chính xác, lượng MT sẽ đi vào bên trong cơ thể cá theo nguyên lý thẩm thấu qua da,
mang và các bộ phận khác một cách đồng đều giữa các cá thể. Lượng MT còn thừa
trong dung dịch ngâm có thể được thu lại và xử lý để không có ảnh hưởng đến môi
trường và sức khỏe con người [9].

3.3.2. Các phƣơng pháp đổi giới tính thủy sản đang đƣợc ứng dụng trên
thế giới:

kết quả chuyển đổi thành cá cái đạt 97%. Nghiên cứu trước đó (Johnstone và ctv,
1978) sử dụng Estradiol cũng cho kết quả là tỷ lệ cái trong đàn con là 89%, 9% cá đực
và 2% không rõ giới tính. Cũng tác giả này sử dụng loại 17 β-estradiol với lượng 20
mg/kg thức ăn thì được tỷ lệ cá cái trong đàn con là 99%. (Goetz và ctv, 1979) cũng sử
dụng 17 β-estradiol với lượng10 mg/kg thức ăn thì lại cho kết quả có 54,2% cá cái
còn 18,1% cá đực và 17,7% không phân biệt được giới tính. Các nghiên cứu tập trung
vào đánh giá phương thức áp dụng như cho ăn hay ngâm cũng được các tác giả nghiên
cứu. Tuy nhiên một số vấn đề được đặt ra đối với cá. Trong một thí nghiệm Estradiol
Valerate và 17 β-estradiol ở liều sử dụng trộn thức ăn là 20 mg/kg thức ăn, cho ăn 8
tuần và ngâm với liều 400 µg/lít trong vòng 2h, ngâm 2 lần trên tuần và ngâm trong 4
tuần liên tục. Kết quả cho thấy tỷ lệ cá cái trong đàn đạt 100% [28]. Một số vấn đề 11
khác cần chú ý như giá hormon sinh dục cái rất đắt (1 lọ 5 mg của hãng Sigma hiện có
giá khoảng 120 – 130 USD) do đó để sản xuất thì giá thành con giống sẽ tăng. Ngoài
ra theo điều khoản cấm của các tổ chức quốc tế, không được phép sử dụng các hoá
chất này trên các sản phẩm mà con người ăn trực tiếp do tồn dư các độc tố có thể gây
ung thư. Do đó phương pháp này chỉ áp dụng trong phòng thí nghiệm chứ không được
sử dụng trong sản xuất ở giai đoạn hiện nay [14].
* Sản xuất cá đực có nhiễm sắc thể giới tính XX
Đây là một trong những biện pháp được sử dụng phổ biến nhất và đảm bảo vệ
sinh an toàn thực phẩm, không bị ràng buộc bởi các hàng rào pháp lý đang được áp
dụng trên thế giới. Song song với công tác chọn giống thì Phần Lan là nước có đàn cá
đực XX với số lượng lớn đủ để sản xuất đến vài chục triệu trứng điểm mắt, cung cấp
cho nhiều nước trên thế giới (thông tin trực tiếp từ Tapia, FGFRI) [14], công nghệ này
được áp dụng rỗng rãi và cho kết quả tốt tại Mỹ. Châu Á có các nước phát triển đang
sử dụng rộng rãi như Hàn Quốc (Goerge, 1991) hay Iran (Johari và ctv., 2007). Kết
quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ chặt chẽ giữa lượng MT sử dụng với liều 1
mg/kg thức ăn và nhiệt độ trong thời gian xử lý là 750 độ ngày và 0,5 mg/kg thức ăn

từng bước tiếp cận để hoàn thành công nghệ này. Do đó nội dung nghiên cứu của đề
tài sẽ góp phần làm sáng tỏ những vướng mắc công nghệ mà người sản xuất gặp phải
khi triển khai công việc. 13
PHẦN 4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1. Thời gian, địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu từ tháng 11/2009 đến tháng 06/2010.
- Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm Nghiên cứu Thủy sản Nước lạnh - Thác Bạc
- SaPa - Lào Cai và Viện nghiên cứu NTTS I Từ Sơn - Bắc Ninh.

H
3 14
* Phương pháp cho ăn thức ăn có trộn MT.
Khi cá bắt đầu sử dụng thức ăn ngoài, thì cho ăn thức ăn Nutra ST 0.3 với độ
đạm 58% nhập khẩu từ Pháp được trộn MT (với 3 hàm lượng khác nhau 2; 3; 4 mg sau
khi đã được hòa tan trong 240 ml cồn 95% và 10g vitamin C thú y cho mỗi kg thức
ăn), sau đó cho ăn trong thời gian 30 ngày.

4.3.2. Kiểm tra tỷ lệ giới tính:
4 tháng sau khi xử lý bằng 17α – Methyltestosteron thì tiến hành mổ kiểm tra
giới tính để xác định tỷ lệ đực XX cách làm tương tự như đối với cá Rô phi
(Oreochromis niloticus). Tiến hành thu mẫu đại diện (30 con/ĐVTN) để giải phẫu lấy
tuyến sinh dục, nhuộm carmin acetat (Guerrero và Shelton, 1974) rồi quan sát dưới
kính hiển vi (10X) để xác định giới tính của cá ở mỗi ĐVTN.
Các công thức tính:
* Tỷ lệ đực hóa do xử lý hormon.
Tỷ lệ đực hóa =
TN - DC
TL cái
TN: Tỷ lệ cá đực của thí nghiệm thu được
DC: Tỷ lệ cá đực của đối chứng (không được xử lý hormon)
TL cái: Tỷ lệ cá cái đối chứng
* Hiệu suất đực hóa:
Hiệu suất đực hóa = Tỷ lệ đực hóa X Tỷ lệ sống

4.3.3. Kiểm tra tỷ lệ sống và tốc độ tăng trƣởng.
- Xác định tỷ lệ sống:


4.3.7. Thu và phân tích số liệu:
+ Tỷ lệ đực, cái ở từng lô thí nghiệm được phân tích so sánh với tỷ lệ 1:1 bằng
phương pháp phân tích χ
2
(Gomez và Gomez, 1984).
+ Phân tích ANOVA được áp dụng để đánh giá, so sánh các chỉ số tỷ lệ chuyển
đổi giới tính, tăng trưởng, tỷ lệ sống … giữa các lô thí nghiệm.
+ Phần mềm thống kê SPSS, Excel, SAS được sử dụng để phân tích số liệu
nghiên cứu.

4.4. Thiết kế thí nghiệm
* Điều kiện thí nghiệm như sau:
Trứng cá Hồi vân (Oncorhynchus mykiss) được nhập từ Phần Lan đã qua xử lý
để phát triển thành quần thể toàn cái.
X 100% 16
Bảng 1: Dụng cụ và thiết bị bố trí thí nghiệm
Các chỉ số
Điều kiện thí nghiệm
Cá thí nghiệm
Cá Hồi vân (Oncorhynchus mykiss).
Hormon
17α – Methyltestosteron
Số lần lặp lại ở mỗi lô thí nghiệm

2-3% khối lượng thân
Số lần cho ăn
4-6 lần/ngày 17
* Thí nghiệm xác định nồng độ/hàm lượng 17α - Methyltestosterone và cách
thức sử dụng hợp lý:


- Xác định tỷ lệ đực hóa, hiệu suất đực hóa
- Kiểm tra các yếu tố môi trường, dịch bệnh.
- So sánh hiệu quả sử dụng MT giữa 2 phương
pháp ngâm và cho ăn tối ưu.
N/cứu phương pháp ngâm MT trên
cá Hồi vân (Oncorhynchus mykiss)
sau khi nở 3-5 ngày tuổi
N/cứu phương pháp cho ăn thức ăn trộn MT trên
cá Hồi vân (Oncorhynchus mykiss) đã bắt
đầu ăn thức ăn ngoài
3 mg/kg

2 mg/kg
0,4 mg/l

0,8 mg/l
1,0 mg/l
Đối chứng 18

PHẦN 5. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Trứng cá Hồi vân được nhập về từ Phần Lan sau 5 ngày ấp với điều kiện nhiệt
độ nước trung bình 16
o
C và oxy hòa tan trên 7,5 mg/l cá bắt đầu nở với tỷ lệ khoảng
85%. Khối lượng, chiều dài ban đầu trung bình là 0,05 gr/con và 1,7 cm/con.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status