Nghiên cứu bệnh lở loét trên cá hồi vân (oncorhynchus mykiss walbaum, 1792) nuôi tại lâm đồng - Pdf 22


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG TRẦN THỊ BẠCH DƯƠNG NGHIÊN CỨU BỆNH LỞ LOÉT TRÊN CÁ HỒI VÂN
(ONCORHYNCHUS MYKISS WALBAUM, 1792)
NUÔI TẠI LÂM ĐỒNG LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Nuôi trồng thủy sản
Mã số: 60 62 70

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐỖ THỊ HÒA
: Nha Trang - 2011
i

LỜI CAM ĐOAN


LỜI CẢM ƠN

Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban giám hiệu trường Đại học
Thuỷ Sản, Khoa Nuôi Trồng Thuỷ Sản tài trợ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi
cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp.

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tạo điều kiện của Phòng sinh học
thực nghiệm, đề tài Bệnh cá tầm và cá hồi nuôi ở Lâm Đồng - Viện NCNTTS 3
đã giúp đỡ tôi về trang thiết bị nghiên cứu, cơ sở thí nghiệm trong thời gian
thực hiện đề tài. Đặc biệt tôi hết lòng biết ơn chủ nhiệm đề tài TS Võ Thế Dũng
và chị Võ Thị Dung đã luôn quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực
hiện và nghiên cứu.

Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến sự chỉ dẫn tận tình, chu đáo của cô
giáo hướng dẫn PGS. TS. Đỗ Thị Hòa trong suốt quá trình thực hiện luận văn
về phương pháp nghiên cứu và báo cáo khoa học.

Cuối cùng, cho phép tôi tỏ lòng biết ơn đến gia đình và bạn bè tôi,
những người đã luôn động viên và khích lệ tinh thần tôi trong suốt quá trình
học tập và hoàn thành đề tài tốt nghiệp.

Xin trân trọng cảm ơn!

Trần Thị Bạch Dương

iii

MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.2. Nghiên cứu KST: 25
2.2.1. Phương pháp xác định mức độ cảm nhiễm 26
2.2.2. Định danh ký sinh trùng 27
2.3. Phương pháp nghiên cứu vi khuẩn: 27
2.3.1. Phương pháp phân lập, nuôi cấy và định danh vi khuẩn : 28
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu độ nhạy kháng sinh (kháng sinh đồ) của
vi khuẩn gây bệnh: 29
2.3.3.Phương pháp mô bệnh học 29
2.3.4. Phương pháp bố trí thí nghiệm cảm nhiễm vào cá khỏe 31
2.3.5. Xử lý cá bệnh sau thí nghiệm 31
2.4. Nghiên cứu bệnh nấm 32
2.4.1. Môi trường nuôi cấy 32
2.4.2. Phương pháp nuôi cấy và phân loại nấm 32
2.5. Xử lý số liệu 31
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
3.1. Bệnh lở loét ở cá hồi vân nuôi tại Lâm Đồng 34
3.2. Kết quả nghiên cứu kí sinh trùng bệnh lở loét ở cá hồi vân 36
3.3. Kết quả nghiên cứu vi khuẩn và mô bệnh học 40
3.3.1. Phân lập vi khuẩn 40
3.3.2. Tần số bắt gặp các loài vi khuẩn trên cá bệnh 43
3.3.3. Tính nhạy cảm của các chủng vi khuẩn có tần số bắt gặp cao từ cá
bệnh đối với một số loại kháng sinh thông dụng 45
3.3.4. Kết quả nghiên cứu mô bệnh học 48
3.3.6. Kết quả nghiên cứu cảm nhiễm vi khuẩn 50
3.4. Kết quả nghiên cứu nấm: 53
CHƯƠNG 4 56
4.1 Kết luận 56
4.2. Đề xuất ý kiến: 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Tài liệu tiếng Anh 59

Hình 3.16. Nấm Saprolegnia sp 54 vii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1. Sản lượng cá hồi nuôi trên thế giới 4
Bảng 3.1. Dấu hiệu bệnh lý bệnh lở loét ở cá hồi vân 35
Bảng 3.2. Thành phần các loài kí sinh trùng trong mẫu bệnh lở loét ở cá hồi
vân 36
Bảng 3.3. Đặc điểm sinh hóa các loài vi khuẩn phân lập 42
Bảng 3.4. Tính nhạy cảm của vi khuẩn đối với kháng sinh 46
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT OX cytocrome oxidase
ONPG galactopyranosidase
ADH Argininedihydrolase
LDC Lysine decacboxylase
ODC Ornithine decacboxylase
CIT Citrate
H
2
S H
2
S prduction

mm milimét
µm micromét
µg microgram
g gram
l lít
ml mililít
KST Ký sinh trùng
CĐN Cường độ nhiễm
TLN Tỷ lệ cảm nhiễm
TSBG Tần số bắt gặp
CTV cộng tác viên ix
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cá hồi vân (Oncorhynchus mykiss Walbaum, 1792) là một trong những loài
cá nước lạnh có giá trị kinh tế cao, được nuôi phổ biến ở nhiều nước trên thế giới

Do kinh nghiệm bản thân về lĩnh vực đang nghiên cứu còn nhiều hạn chế,
bản luận văn sẽ không tránh khỏi sai sót nhất định. Kính mong nhận được sự đóng
góp ý kiến và lượng thứ của quý Thầy Cô, các anh chị và bạn bè đồng nghiệp.

Học viên
Trần Thị Bạch Dương
3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Hình thái phân loại và đặc điểm sinh học cá hồi vân Oncorhynchus mykiss
Walbaum, 1792
1.1.1. Vị trí phân loại
Ngành: có dây sống Chordata
Lớp: cá vây tia Actinopterygii
Bộ: cá hồi Salmoniformes
Họ: cá hồi Salmonidae
Giống: Oncorhynchus
Loài: Oncorhynchus mykiss Walbaum, 1792
1.1.2. Đặc điểm hình thái:
Thân cá thon dài, hình thoi, có 60 – 66 đốt sống, vây lưng có 3 – 4 gai cứng,
10 – 12 tia vây mềm; vây hậu môn có 3 – 4 gai cứng, 8 – 12 tia vây mềm; 19 tia vây
đuôi. Vây mỡ màu đen. Trong mùa sinh sản, có thay đổi nhỏ xảy ra ở đầu, miệng và

128
10
103
21
9
143
12
115
21
10
158
10
115
10
10
145
10
120
8
10
148
10
113
7
10
140
10
70
7
10

trứng có điểm mắt (do phôi trong trứng có màu đen), giai đoạn này người ta có thể
vận chuyển đi xa mà không có ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của phôi.
Cá bột (alevins): sau giai đoạn trên khoảng 2 – 4 tuần thì cá nở tùy thuộc
nhiệt độ nước. Cá mới nở có bao noãn hoàng khá lớn. Ở giai đoạn này cá nằm đáy,
dinh dưỡng nhờ vào các chất dữ trữ ở noãn hoàng bao gồm protein, đường, muối
khoáng, vitamin. Giai đoạn này có thể kéo dài vài ba tuần, cá tiếp tục hoàn thiện sự
phát triển miệng và mắt [187].
Cá hương (fry): tính từ lúc cá bột bơi lên gần mặt nước tự tìm kiếm thức ăn,
thường là côn trùng thủy sinh nhỏ, giai đoạn này nhờ bóng hơi mà cá hoạt động dễ
dàng. Đến cá giống, kích thước đã đạt tới khoảng 5 – 12cm [187].
Cá trưởng thành (adults): Cá đã phát triển đầy đủ, sau 2 năm có thể tham gia
đi đẻ. Kích cỡ cá trưởng thành từ 30 – 75cm (lớn nhất 90cm), nặng từ 1 – 7kg (nặng
6
nhất tới 9kg). Ở điều kiện 12
o
C, cá 2 tuổi, 600g trở lên đã có thể cho đẻ. Hệ số
thành thục đạt 20% [187]
1.2. Tình hình nghiên cứu về bệnh ở cá hồi vân trên thế giới
Sự gia tăng diện tích nuôi trồng thuỷ sản được cho là vấn đề cơ bản dẫn tới
sự gia tăng bệnh truyền nhiễm. Việc nuôi mật độ cao, sự căng thẳng khó tránh khỏi
là những điều kiện bất lợi tạo cơ hội cho sự xuất hiện và lây lan của mầm bệnh.
Tương tự như thế, ngành công nghiệp cá hồi đã đưa tới hậu quả là sự lan tràn của
nhiều loại dịch bệnh khác nhau, thiệt hại kinh tế rất lớn. Cá hồi vân (Oncorhynchus
mykiss Walbaum, 1792) cũng mắc nhiều loại bệnh, có những bệnh giống như các
loài cá hồi khác và có những bệnh đặc trưng cho loài.
1.2.1. Bệnh do vi khuẩn
1.2.1.1. Bệnh nhọt - Furunculosis
Trong một thời gian dài, đây được coi như là một căn bệnh xảy ra riêng ở cá
hồi, trong đó có cá hồi vân. Tuy nhiên, ở nhiều loài khác như cá chình Anguilla
anguilla, cá rô Anabas sp, cá chép Cyprinus carpio, cá tuyết Gadus morhua và vài

tượng hoại tử trên diện rộng, tỷ lệ tử vong cao, tiêu biểu như ở Nova Scotia, Canada
[65]. Nhiễm trùng cấp tính thường xảy ra với cá giống và trưởng thành, cá có màu
tối đen, xuất huyết tại gốc vây và miệng. Nội tạng xuất huyết thấy rõ ở thành bụng,
lá lách, gan; cá bơi lội thất thường, trở nên chậm chạp, và ngừng ăn, dạ dày ít có
thức ăn mà đầy chất nhầy và máu [133].
Theo Hastings (1988), các con đường lây nhiễm thường là thông qua cá bị
nhiễm và do sự ô nhiễm nước [67]. Một khía cạnh quan trọng được chú ý là tỷ lệ tử
vong tùy thuộc vào thông số môi trường, tuổi, mùa vụ và sức đề kháng bẩm sinh
của vật chủ. Do đó, bệnh cũng có thể xảy ra ở cá con, cá bột, ở nhiệt độ thấp tới 2°C
- 4°C [47]. Hơn nữa, các nhà khoa học cho biết rằng A.salmonicida có khả năng tồn
tại với nồng độ cao trong trầm tích [43]. Và như Inglis (1993) thông báo, ba cơ quan
thường bị nhiễm trùng nhiều nhất là da, mang và ruột cá [80].
8
Do những thiệt hại do bệnh gây ra trên cá hồi, nên nhiều loại vaccine phòng
bệnh được sản xuất. Thế nhưng người ta lại nghi ngờ tính hiệu quả của chúng vì vẫn
còn vài nhược điểm. Hiện nay có loại vaccine đa giá (Polyvalent ) phòng bệnh cả do
vi khuẩn dạng dấu phẩy và do A.salmonicida khá hiệu quả.
1.2.1.2. Bệnh do Vibrio (Vibriosis)
Vibriosis là một trong những bệnh phổ biến, gây thiệt hại nghiêm trọng đối với
cá hồi nuôi, tác nhân chính được xác định là các loài Vibrio spp. Bệnh này có mặt ở
châu Mỹ, châu Âu và Viễn Đông. Cá bệnh có dấu hiệu tổn thương lớn trên da và cơ,
xuất huyết ở mang, mắt và vây. Bệnh xảy ra ở nhiều mức nhiệt độ, nhưng thường diễn
ra ở nhiệt độ trên 10
0
C. Bệnh lan truyền qua nước có cá nhiễm bệnh. Trong số các tác
nhân thì V. anguillarum được biết đến nhiều nhất, gây thiệt hại kinh tế lớn nhất.
Tác nhân V. anguillarum lần đầu tiên được mô tả bởi Bergman vào năm
1909 khi phát hiện mẩn đỏ trên cá chình thuộc vùng biển Baltic. Khi V. anguillarum
được phân lập trên mẫu cá hồi Oncorhynchus keta thì dịch bệnh đã tấn công gần 50
loài cá nước ngọt và nước mặn trên khắp các nước quanh vùng đông bắc Thái Bình

Nauy là một trong những nước đứng đầu thế giới về sản lượng cá hồi vân,
cũng bị thiệt hại đáng kể bởi tác nhân này. Romalde và cộng sự (1994) đã nghiên
cứu tỷ lệ sống sót của Yersinia ruckeri ở các độ mặn khác nhau, và kết luận rằng ở
15‰, Yersinia ruckeri có thể tồn tại 3 tháng, chứng tỏ khả năng sống sót của vi
khuẩn trong môi trường rất lớn [114].
Mặc dù Y. ruckeri lần đầu tiên được phân lập ở Idaho, nhưng cùng lúc đó nó
cũng có mặt ở Tây Virginia và Úc vào những năm 1950 [34] ; do đó, nguồn gốc
thực sự của loài sinh vật này vẫn chưa rõ. Willumsen (1989) cho rằng con đường
truyền nhiễm liên quan đến vận chuyển cá tự nhiên hoặc cá nuôi và cũng có khả
năng do các động vật không xương sống, các loài chim mang đến ao nuôi [164].
Theo Dulin, con đường truyền dọc chưa được chứng minh, và có lẽ không xảy ra
[48]. Nhiệt độ nước thích hợp nhất khoảng 15-20
0
C và thời kỳ ủ bệnh trong vòng 5-
10 ngày [118, 9].
10
ERM được đặc trưng bởi sự hiện diện các vùng xung huyết hoặc xuất huyết
trong mô, các cơ quan, đặc biệt quanh miệng và ruột. Cá mắc bệnh bơi lờ đờ, hô
hấp khó khăn và màu sắc da xấu đi. Ngoài ra cá còn có thể bị nổ mắt, bụng trương
to. Tuy nhiên, Rucker, Furhmann đã thông báo rằng không phải mọi trường hợp đều
có dấu hiệu như vậy, còn tùy thuộc vào sự phát triển nhanh hay chậm của bệnh, vào
kích thước và sức khỏe của cá [123, 62]. Theo nhiều mô tả, các trường hợp cấp tính
thường gây ra tỉ lệ tử vong cao mà không hề có dấu hiệu bệnh lí rõ ràng bên ngoài,
đặc biệt ở cá con. Tỷ lệ cá chết cao nhất xảy ra nếu có stress đi kèm, chẳng hạn như
việc vận chuyển hoặc nhiệt độ môi trường biến đổi lớn vào mùa xuân [150, 62,
118].
Yersinia ruckeri là một mầm bệnh cơ hội phổ biến trong vùng nước; tuy
nhiên, hiện nay, ERM có thể được kiểm soát một cách hiệu quả nhờ vào vắc-xin bất
hoạt, có sẵn trên thị trường [122, 144].
1.2.1.4. Bệnh thận do vi khuẩn – Bacteral kidney disease – BKD

[20]. Murray và cộng sự (1992) cũng có kết luận tương tự [106]. Ngoài ra, đặc biệt
chú ý tới hướng truyền bệnh theo chiều dọc từ bố mẹ sang trứng với mức độ cao.
Người ta thấy rằng R. salmoninarum nằm ngay trong noãn hoàng, vì vậy không bị
ảnh hưởng bởi bất kì phương pháp khử trùng nào [35, 56]. Cho nên, việc ngăn chặn
R. salmoninarum càng khó khăn hơn.
Tuy nhiên, mức độ phát triển của bệnh và tỉ lệ cá chết còn bị ảnh hưởng bởi
nhiệt độ, độ mặn, sự căng thẳng [61, 97]. Các loài cá hồi khác nhau thể hiện tính
nhạy cảm khác nhau với bệnh này. Cá hồi vân (O. mykiss) vẫn chịu đựng ở mức
tương đối bệnh này [125, 139].
Banner và cộng sự (1983) thông báo rằng, mặc dù BKD xảy ra chủ yếu ở
nước ngọt, nhưng thống kê cho biết tỷ lệ cá nước mặn chết cũng đáng kể [15]. Cá
con mới đẻ nhiễm bệnh vẫn có thể sống bình thường cho đến lúc xuôi ra biển, gặp
điều kiện môi trường không thích hợp bị căng thẳng và dễ chết, cho nên, đó là
nguyên nhân vì sao cá bị nhiễm bệnh có thể mất vài tháng mới có dấu hiệu, và chủ
yếu cá bị bệnh mãn tính [14].
12
Tháng 11/2005 tại Seattle (Mỹ), hội thảo về bệnh BKD đã được tổ chức với
sự đóng góp của các cơ quan nghiên cứu, ủy ban chuyên trách thủy sản các quốc gia
trên thế giới. Các nhà khoa học đều xem đây là một thách thức của nghề nuôi thủy
sản ở thế kỉ 21 [11]. Việc điều trị bệnh BKD ở cá rất ít hiệu quả, điều trị kháng sinh
chỉ có hiệu lực tạm thời. Do đó, chìa khóa ngăn chặn được bệnh này chính là tổng
hợp các phương pháp phòng bệnh, kiểm soát con đường lây truyền [53, Error!
Reference source not found.]. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu gần đây của
Paterson và cộng sự (1981) cho thấy, gia tăng một vài khoáng chất như Fe, Cu, Mn,
Co, I, F, và bớt đi Ca trong khẩu phần ăn của cá sẽ giảm được tỷ lệ mắc bệnh BKD
ở cá hồi Đại Tây Dương một tuổi .
1.2.1.5. Bệnh thối vây do vi khuẩn trượt hay hội chứng cá hồi hương
Flavobacterium psychrophilum là tác nhân của “hội chứng cá hồi hương”
(rainbow trout fry syndrome - RTFS), hay “vi khuẩn nước lạnh” (bacterial cold-
water diseases – BCWD) ảnh hưởng lớn đến các loài cá hồi, mặc dù bệnh xuất hiện

Spain; Chile; Denmark; Switzerland and Northern Ireland), Oncorhynchus
tshawytscha (Canada), Oncorhynchus masou (Japan), Salmo salar (Sweden), Salmo
trutta (Norway). Ngoài ra, Flavobacterium psychrophilum cũng hiện diện trên vài
loài cá khác như Plecoglossus altivelis (Korea; Japan), Cyprinnus carpio, Carassius
carassius, Anguilla anguilla, Tinca tinca (Germany)… Điều đó cho thấy mầm bệnh
đã phổ biến trên toàn thế giới [40].
Theo sự quan sát của Borg (1960) sự lan tràn của bệnh thường xảy ra khi
nhiệt độ nước khoảng từ 4 – 10
0
C , tỷ lệ tử vong giảm đi khi nhiệt độ lên 15 – 18
0
C
[26], nên cũng được gọi là “bệnh vi khuẩn nước lạnh”. Tuy nhiên, trong những năm
gần đây tại một số trại cá Tây Bắc Thái Bình Dương, bệnh này vẫn gây tử vong cho
cá hồi con ở nhiệt độ 15 – 18°C. Tình hình cũng diễn ra tương tự tại Nhật bản đối
với cá Ayu tự nhiên Plecoglossus altivelis [78]. Điều đó chứng tỏ rằng mối nguy hại
của loài vi khuẩn này không hẳn chỉ ở nhiệt độ thấp [40].
Ngoài nhiệt độ nước thì mức độ nghiêm trọng của bệnh còn tùy thuộc vào
giai đoạn phát triển của cá. Hầu hết các nghiên cứu cho thấy, ở cỡ cá giống từ 0.5 –
5gr bị ảnh hưởng nặng nhất [40].
Theo sự mô tả của Davis (1946), ở cá hồi vân, dấu hiệu bệnh bắt đầu từ sự
nhạt màu đến hơi trắng ở vây mỡ, sau đó lan dần đến đuôi, tiếp đến là sự thoái hóa
cơ đến mức xương vây đuôi đều lộ rõ, tuy nhiên vẫn gắn liền với xương sống. Bên
14
trong cơ thể, vi khuẩn có mặt ở hầu hết các mô, mạch; bụng trương to, lá lách, tim
đều viêm, có lẽ đó là nguyên nhân làm cho cá chết [44]. Bernardet và Kerouault
(1989) quan sát thấy rằng cá hồi vân còn có biểu hiện bất thường là bơi xoắn ốc,
xương sống bị dị tật [23]. Năm 2003, nghiên cứu các loài kí sinh khác trên cá bị
nhiễm Flavobacterium psychrophilum , Busch và cộng sự kết luận rằng tỷ lệ nhiễm
Hexamita salmonis trong đường ruột và Costia necatrix (Ichthyobodo),


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status