Tìm hiểu tác nhân gây bệnh lở loét trên cá chẽm (Lates calcarifer) nuôi lồng biển tại Nha Trang – Khánh Hòa - Pdf 22



ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

VIÊN ĐẠI PHÚC
TÌM HIỂU TÁC NHÂN GÂY BỆNH LỞ LOÉT TRÊN

CÁ CHẼM (Lates calcarifer) NUÔI LỒNG BIỂN TẠI
NHA TRANG - KHÁNH HÒA Chuyên ngành: Vi sinh vật học
Mã số: 60 42 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC


vực miền Trung đã tạo điều kiện và thời gian để tôi có thể tham gia và hoàn thành
khóa học.
Các anh chị và các bạn đồng nghiệp ở Trung tâm Quốc gia Quan trắc cảnh
báo môi trường và phòng ngừa dịch bệnh thủy sản khu vực miền Trung, Dự án
NUFU, Tổ phân tích và kiểm nghiệm thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản
3 đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn.
Gia đình, người thân, bạn bè đã luôn dõi theo, động viên và giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình học tập.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn những sự giúp đỡ quý báu đó!

Viên Đại Phúc

1
MỞ ĐẦU
Cá chẽm (Lates calcarifer, Bloch 1790) hay còn gọi là cá vược, là một loài
cá có giá trị kinh tế quan trọng ở vùng Nhiệt đới và Cận nhiệt đới thuộc châu Á -
Thái Bình Dương. Với đặc tính dễ nuôi và thời gian sinh trưởng nhanh, sau một
năm thả nuôi từ cá giống cỡ 4 - 5cm, cá có thể đạt trọng lượng từ 1,5 - 3kg. Hơn
nữa, thịt cá chẽm thơm ngon, giá thành khá cao nên loài này đã được nuôi phổ biến
ở nhiều nước trên thế giới như Thái Lan, Trung Quốc, Đài Loan, Philippin,
Indonesia, Australia….
Ở nước ta, sau khi trường Đại học Nha Trang sản xuất nhân tạo thành công
giống cá chẽm (năm 2006) và chuyển giao công nghệ sản xuất giống cho các tỉnh
thì nghề nuôi cá chẽm đã phát triển mạnh mẽ ở các tỉnh ven biển, đến nay cá chẽm
trở thành đối tượng nuôi xóa đói giảm nghèo, thay thế các đối tượng nuôi khác đang
bị suy thoái.
Trong thời gian gần đây, cá chẽm nuôi thương phẩm ở vùng biển Vũng Ngán
- Nha Trang bị bệnh lở loét trên thân và chết (tỷ lệ mắc bệnh khoảng 30 - 40% cá
thể trong đàn), bệnh xảy ra ở tất cả các cỡ cá nuôi, từ cá mới thả nuôi cho đến cá đã
nuôi lớn (2 - 3kg). Tuy nhiên, nguyên nhân gây bệnh vẫn chưa được xác định và i

MỤC LỤC

Trang phụ bìa
Lời cảm ơn Trang
Mục lục i
Danh mục các ký hiệu, các từ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
Danh mục các biểu đồ và hình ảnh vi
Mở đầu
1
Chương 1 - Tổng quan tài liệu
3
1.1. Tổng quan về cá chẽm 3
1.1.1. Tên gọi và hệ thống phân loại 3
1.1.2. Hình thái, đặc điểm nhận dạng và cỡ 3
1.1.3. Vùng phân bố 4
1.1.4. Đặc điểm môi trường sống 4
1.1.5. Vòng đời sinh sản 4
1.1.6. Tính ăn 4
1.2. Tổng quan về tình hình nuôi cá chẽm ở Việt Nam và trên thế giới 5
1.2.1. Tình hình nuôi cá chẽm trên thế giới 5
1.2.2. Tình hình nuôi cá biển ở Việt Nam 7
1.3. Các nghiên cứu về bệnh cá chẽm trên thế giới 7
1.3.1. Bệnh do vi khuẩn 8

3.2.3. Kết quả kiểm tra cứu ký sinh trùng ngoại ký sinh trên cá chẽm bị
bệnh lở loét 40
3.3. Kết quả kiểm tra mô cá bị bệnh bằng phương pháp mô học 43
3.4. Kết quả cảm nhiễm chủng Vibrio alginolyticus (CH3G-TCBSVN) phân lập
từ cá chẽm bị bệnh lên cá chẽm khỏe 45
3.4.1. Kết quả cảm nhiễm lần 1 45
3.4.2. Kết quả cảm nhiễm lần 2 (lặp lại) 47
3.5. Kết quả thử nghiệm kháng sinh đồ chủng Vibrio alginolyticus (CH3G-
TCBSVN) phân lập từ cá chẽm bị bệnh lở loét 50
3.6. Đề xuất phương pháp phòng trị bệnh cho cá chẽm bị bệnh lở loét 51
iii

3.6.1. Xử lý bằng Tetracycline 52
3.6.2. Xử lý bằng Nalidixic acid 53
Chương 4 - Kết luận và kiến nghị
54
4.1. Kết luận 54
4.2. Kiến nghị 54
Tài liệu tham khảo
56
Phụ lục
65
1.1.2. Hình thái, đặc điểm nhận dạng và cỡ
Cá chẽm có thân dài, cuống đuôi khuyết sâu, đầu nhọn, nhìn bên lõm phía
lưng (hình dạng lưng lõm) và lồi ở phía trước vây lưng. Miệng rộng, hơi so le, hàm
trên kéo dài tới tận mắt, răng dạng lông nhung, không có răng nanh. Vây lưng có 7 -
9 gai và 10-11 tia mềm. Vây hậu môn tròn, có 3 gai, 7 - 8 tia mềm, vây đuôi tròn,
vảy dạng lược rộng (xù xì hay nhẵn)
[22]
. Chiều dài tối đa 200cm, nặng tối đa 60kg
[1]
.
4
Màu sắc: Giai đoạn cá giống có màu nâu ô-liu ở phía trên và màu bạc hoặc
nâu vàng ở phần bên và phần bụng, giai đoạn trưởng thành cá có màu xanh lục hay
vàng nhạt ở phần trên và màu trắng bạc ở phần bụng
[22]
.
1.1.3. Vùng phân bố
Cá chẽm phân bố rộng ở các vùng Nhiệt đới và Cận nhiệt đới thuộc Tây Thái
Bình Dương và Ấn Độ Dương, giữa kinh tuyến 50
0
Đông - 160
0
Tây; vĩ tuyến 26
0

Bắc - 25
0
Nam. Cá còn tìm thấy ở khắp phần Bắc châu Á, phía Nam kéo dài đến
Queensland (Australia), phía Tây đến Đông châu Phi. Ở nước ta, cá chẽm phân bố ở
dọc bờ biển từ bắc đến nam

30 – 32
00
0
. Loài cá này chưa phân ra giới tính khi còn nhỏ
[1]
.
1.1.6. Tính ăn:
Cá chẽm trưởng thành là loài cá dữ, phàm ăn, thức ăn ưa thích của chúng là
các loài cá tạp, tôm, chúng không ăn thực vật và các loài giáp xác khác như cua,
cáy Cá sinh trưởng nhanh, sau 1 năm, từ cỡ cá giống 4 - 5cm có thể đạt trọng
lượng từ 1,5 - 3kg
[1],[22]
.
5
1.2. Tổng quan về tình hình nuôi cá chẽm ở Việt Nam và trên thế giới
1.2.1. Tình hình nuôi cá chẽm trên thế giới
Do giá trị dinh dưỡng cao, nhu cầu thị trường ngày càng mở rộng và là loài
phân bố rộng, dễ nuôi đã làm cho cá chẽm trở thành một trong những đối tượng
được lựa chọn để phát triển nuôi chính cho ngành nuôi trồng thủy sản. Kỹ thuật
nuôi cá chẽm được phát triển lần đầu tiên ở phòng thí nghiệm Songkhla Marine
(Thái Lan) từ những năm đầu của thập niên 1970 và sau đó phát triển rộng ra các
nước trong khu vực như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Phillipines,
Singapore, Đài Loan, Việt Nam và Australia, và gần đây ở một số quốc gia như Mỹ,
Hà Lan, Anh và Israel
[38]
.
Từ năm 1997 đến năm 2006, sản lượng cá chẽm hàng năm ở khu vực châu Á
- Thái Bình Dương luôn ở trong khoảng từ 20.000 - 27.000 tấn, phần lớn cá chẽm
được nuôi hồ hoặc lồng ở vùng nước lợ cửa sông hoặc bờ biển
[39]

triệu USD, năm 2005 là 68,52 triệu USD với giá bán khá ổn định, trung bình mỗi kg
cá thương phẩm dao động trong khoảng 2,50 - 2,60 USD
[51]
. Theo FAO (2006)
(trích dẫn bởi Halwart, 2007), sản lượng cá chẽm nước mặn và lợ của Thái Lan tăng
hằng năm, từ 3.884 tấn (năm 1995) và tăng lên 14.550 tấn (năm 2004)
[39]
.
Malaysia: Cá chẽm là loài được nuôi truyền thống, đến năm 2007 vẫn là loài
nuôi dẫn đầu trong nghề nuôi cá lồng ở Malaysia. Theo thống kê của FAO (2006)
(trích dẫn bởi Halwart, 2007), sản lượng cá chẽm của Malaysia là 4.003,73 tấn (năm
2002), 4.210,93 tấn (năm 2003), và 4.000,54 tấn (năm 2004)
[39]
.
Indonesia: Là quốc gia có sản lượng cá có vảy (finfish) biển lớn nhất trong
khu vực Đông Nam Á. Trong đó cá chẽm cũng là một trong những loài nuôi chính
của nước này với sản lượng năm 2004 vào khoảng 2.900 tấn
[39]
.
Singapore: Dự tính đến năm 2012 sản lượng cá chẽm là 3.000 tấn và đến
năm 2020 sản lượng sẽ tăng lên 20.000 tấn
[74]
.
Hàn Quốc: Tổng sản lượng cá nuôi của Hàn Quốc năm 2003 khoảng 72.393
tấn, trong đó cá chẽm khoảng 2.778 tấn
[39]
.
Australia: Cá chẽm được nuôi ở hầu hết các bang của Australia (ngoại trừ
bang Tasmania)
[39],[73]

Nam Trung Bộ và vùng phía Nam. Năm 2001, sản lượng cá nuôi biển cả nước
khoảng 2.600 tấn, năm 2002 sản lượng tăng lên 5.000 tấn, ước tính năm 2010 sẽ đạt
20.000 tấn. Các loài nuôi chính là các loài cá mú (Epinephelus), cá giò
(Rachycentron canadum), cá chẽm (Lates calcarifer), cá vược mõm nhọn
(Psammoperca waigensis), cá hồng đỏ (Lutjanus erythropterus), cá tráp đen
(Rhabdosargus sarba) và cá đù đỏ (Sciaenops ocellatus)
[39]
. Cá chẽm được xem như
là vật nuôi xóa đói giảm nghèo và là đối tượng nuôi thay thế cho diện tích nuôi tôm
không hiệu quả ở một số địa phương ven biển ở nước ta. Hiện nay chưa có số liệu
thống kê cụ thể về sản lượng cũng như diện tích nuôi cá chẽm ở nước ta, nhưng qua
tìm hiểu thông tin từ các báo cho thấy cá chẽm đã nuôi thành công ở một số nơi như
ở Cam Ranh, Vạn Ninh (Khánh Hòa)
[77],[78],[79]
, Hương Trà (Thừa Thiên Huế)
[80]
, Hà
Tĩnh
[81]
, Đồng Nai, Bình Định
[82]
, Cà Mau
[76]

1.3. Các nghiên cứu về bệnh cá chẽm trên thế giới
Cá biển được nuôi lồng thành công đầu tiên ở Nhật Bản từ những năm 1950
và ở Đông Nam Á từ những năm 1970. Hiện nay đã có rất nhiều loài cá đã được
Bi
ểu đồ 1.2.
Sản lượng cá chẽm (cột) và giá trị (đường) của cá chẽm nuôi ở

Dương, thuộc Pháp), dấu hiệu chính của bệnh là cá lờ đờ, xuất huyết ở gốc đuôi và
lở loét lan rộng ra
[60]
.
Bệnh vi khuẩn nhiễm trùng máu xuất huyết: Gây ra bởi Aeromonas
hydrophila, Aeromonas sorbia, Aeromonas caviae, Aeromonas spp., pseudomonas
sp. Các vi khuẩn này thường nhiễm ở cá chẽm nuôi nước ngọt, làm cho cá bị xuất
huyết đỏ ở da, lờ đờ, cá biếng ăn, tích dịch ở bụng, mang nhợt nhạt. Bệnh thường
xuất hiện khi môi trường xấu, da bị tổn thương
[36]
. Theo Kumaran S. (2009),
Pseudomonas sp. KUMS3 là tác nhân gây nên bệnh mòn vây ở cá chẽm nuôi ở Ấn
Độ, làm cá xuất huyết ở gốc vây, miệng và mất sắc tố da
[43]
.
Bệnh vi khuẩn ở da: Do Aeromonas sorbia, Aeromonas hydorphila, Vibrio
harveyi, Vibrio alginolyticus gây nên, làm cá bị lở loét không đều, mất vảy. Bệnh
thường xảy ra khi môi trường xấu, da bị tổn thương
[36]
.
9
Bệnh streptococcusis: Streptococcusis là bệnh rất nghiêm trọng, tác nhân
chính là Streptococcus iniae. Bệnh có thể xảy ra ở cả cá chẽm nuôi nước ngọt lẫn
nước mặn và kết quả là làm cho cá chết với tỷ lệ cao. Bệnh này được ghi nhận là tác
nhân gây bệnh trên cá chẽm nuôi lồng biển ở Northern Territory (Australia) năm
2005. Trong trường hợp cấp tính, cá có thể gần chết hoặc chết với một vài dấu hiệu
bên ngoài và trong các nội tạng. Trong trường hợp ít trầm trọng hơn thì cá bị nhiễm
bệnh có thể bơi nhấp nhô gần mặt nước, có thể bị mù và không đáp ứng với sự kích
thích bên ngoài, xuất huyết có thể thấy ở da và đặc biệt ở chân vây. Cầu mắt bị lồi
và xuất huyết bên trong mắt, mang bị xung huyết. Bên trong, sự xuất huyết nhiều có

.
Bệnh vi khuẩn viêm màng bụng: Các vi khuẩn gây bệnh là các vi khuẩn
Gram (-) và Gram (+) khác nhau trong đó có Vibrio harveyi, Aeromonas
10
hydrophila. Các dấu hiệu bệnh chính là cơ thể cá có màu đen, cá lờ đờ, bụng sưng
phồng, có dịch keo và mùi khó chịu ở bụng, bệnh hay gặp trên cá nuôi ở hệ thống
tuần hoàn
[36]
.
Bệnh hoại tử viêm ruột và mưng mủ: Hội chứng hoại tử viêm ruột mưng
mủ, thường gọi là “sưng”, xuất hiện một cách định kỳ ở các trại nuôi cá chẽm. Hội
chứng này ảnh hưởng đến cá cỡ nhỏ tới các cá thể thành thục, gặp cả ở cá chẽm
nuôi nước ngọt và nước mặn. Người ta đã phân lập được Vibrio harveyi và
Photobacterium damselae subspecies damselae trên cá bị bệnh này. Cá bị bệnh
thường bụng phình, hôn mê và chết. Điểm đặc trưng của bệnh là mùi của cá sắp
chết hoặc mới chết giống với mùi cá đã chết 1 ngày, khoang bụng bị sưng phồng
bởi một lượng lớn dịch phân hủy. Trường hợp bệnh ở giai đoạn sớm có sự xuất hiện
của tơ huyết bện lại với nhau, nối các cơ quan nội tạng và mô. Ở trường hợp muộn
hơn, ở các nội quan bên trong bị hoại tử và hóa lỏng
[38]
.
Bệnh epitheliocystis: Là bệnh gây ra bởi sự xâm nhiễm vào mang của
Chlamydial, cá ấu niên bị nhiễm nặng ở mang có thể chết với tỷ lệ cao. Cá bị nhiễm
bệnh có thể không thấy dấu hiệu rõ ràng, mang có thể trở nên đỏ và cá bơi gần với
mặt nước, tỷ lệ chết có thể cao. Ở dưới kính hiển vi có thể thấy một số lượng lớn
các nang nằm trong biểu mô
[38]
.
1.3.2. Bệnh do ký sinh trùng
Theo báo cáo của FAO và Glenn Schipp (2007), trên cá chẽm có các bệnh ký

các dấu hiệu bệnh như cá bơi ở bề mặt, nắp mang đóng mở nhanh, dịch nhầy ở
mang tiết ra nhiều. Bệnh thường xảy ra khi nhiệt độ môi trường nước thấp, chất hữu
cơ lơ lửng nhiều và nuôi cá với mật độ dày
[36]
.
Bệnh chilodonelliasis: Gây ra bởi Chilodonella spp. và Chilodonella
hexasticha. Khi nhiễm ký sinh trùng này, cá thường bơi trên bề mặt, nắp mang đóng
mở nhanh và mở rộng. Môi trường nước xấu và cá bị ốm yếu là điều kiện thuận lợi
để ký sinh trùng này xâm nhập và gây bệnh
[36]
.
Bệnh Ichthyobodosis (costiasis): Ichthyobodo necator là nguyên nhân
chính gây bệnh. Cá bị bệnh thường cọ lên thành lồng, xuất hiện các vết sẫm màu
trên da, tróc vảy, bơi trên bề mặt, nắp mang mở to và hoạt động đóng mở nhanh
[36]
.
Bệnh piscinoodiniasis: Nguyên nhân gây bệnh là Piscinoodiniasis sp., bệnh
thường gặp ở cá chẽm nuôi nước ngọt. Bệnh xảy ra ở cá nhỏ thì có các vết mờ hoặc
màu xanh bạc trên da, ở cá lớn hơn thì có các mảng nổi lên trên bề mặt da và có các
vết lở loét, nắp mang hoạt động mạnh, mang tiết nhiều dịch và có màu xanh đen
[36]
.
Bệnh Amyloodiniasis: Nguyên nhân chính là do Amyloodinium ocellatum.
Thường gặp ở cá chẽm nuôi biển, xuất hiện các vết mờ hoặc mất màu trên da ở cá
nhỏ. Cá lớn hơn thường có các vết lở loét, nắp mang đóng mở nhanh, dịch tiết từ
12
mang nhiều, mang có màu xanh đen. Bệnh thường xuất hiện khi nhiệt độ thấp và
nhiệt độ giảm đột ngột
[36]
.

[62]
. Theo Rajkumar M. và ctv (2005), khi nuôi cá chẽm trong phòng thí nghiệm
được 14 ngày, nhóm nghiên cứu đã phát hiện thấy Cymothoa indica xuất hiện ở
vùng mang và trước lưng, tạo thành các vết tổn thương có màu đỏ, xuất huyết mà
không có hiện tượng tiết nhớt nhiều. Tỷ lệ cá chết sau 3 tuần nuôi là 16,54%. Ký
sinh trùng này đã được truyền vào theo con đường thức ăn của cá và gây bệnh
[59]
.
Báo cáo của Saugata Basu và Durga P. Haldar (2003) cho thấy, cá chẽm nuôi ở
13
vùng Đông Bengal, Ấn Độ phát hiện thấy có nhiễm loài ký sinh trùng Myxobolus
calcariferum sp. n. ở mang cá, gây bệnh và làm chết cá
[63]
.
1.3.3. Bệnh do nấm
Bệnh chấm đỏ: Bệnh chấm đỏ hay hội chứng lở loét (EUS) đã được báo cáo
trên rất nhiều loài cá, trong đó có cá chẽm. Tuy nhiên bệnh chỉ xảy ra ở cá nuôi
nước ngọt, chưa thấy có báo cáo trên cá nuôi biển. Nguyên nhân gây bệnh là nấm
Aphanomyces invadens. Dấu hiệu của bệnh là có các vết lở loét sâu màu đỏ hoặc
xuất huyết trên da, hiện tượng lở loét có thể lan đến mắt. Khi bị bệnh, cá trở nên
hôn mê và dễ trở thành con mồi cho những loài khác
[38]
.
Bệnh nấm da: Do nấm Saprolegnia spp., Achlya spp. gây ra. Bệnh thường
làm cho cá nổi cục và phát triển thành dạng như múi bông trên da và vây. Bệnh
thường xảy ra khi nhiệt độ thấp và cá bị tổn thương ở da
[36]
.
Bệnh branchiomycosis: Do nấm Branchiomyces sp. và Achlya spp. gây ra.
Biểu hiện của bệnh là cá bơi nổi trên mặt nước, nắp mang đóng mở liên tục, có các

Theo báo cáo của Azad IS và ctv (2005), ở Ấn Độ, VNN gây bệnh ở các trại
giống cá chẽm ở giai đoạn cá hương làm cá chết từ 60 - 90%. Khi bị bệnh, cá hương
có màu đen, khi kiểm tra không thấy có dấu hiệu bị nhiễm vi khuẩn hay ký sinh
trùng. Dựa vào các lát cắt mô ở não và tủy sống người ta đã thấy rất rõ các vùng bị
hoại tử, qua kiểm tra bằng kỹ thuật RT-PCR, người ta đã phát hiện được
Nodavirus
[28]
. Một nghiên cứu khác ở Chennai và Nagapattinam thuộc Tamilnadu,
Ấn Độ cũng cho thấy, VNN là nguyên nhân gây chết hàng loạt cá hương ở các trại
giống với các dấu hiệu như cá biếng ăn, da có màu tái nhợt, mất trạng thái cân bằng,
bơi xoắn hay bơi vòng trước khi chết
[57]
.

Bệnh lymphocytis: Do Iridovirus gây nên. Bệnh làm cho cá xuất hiện các
mụn cóc trên da, vây, thông thường chỉ gây chết nếu xâm nhiễm nhiều và kết hợp
với điều kiện môi trường xấu
[36]
, giai đoạn cá ấu niên thường dễ mắc bệnh hơn cá
trưởng thành
[69]
.
1.4. Các nghiên cứu về bệnh cá biển ở Việt Nam
Ở nước ta hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu nào cụ thể về bệnh lở loét trên cá
chẽm. Tuy nhiên, trên cá biển nói chung thì cũng đã có khá nhiều các công trình
nghiên cứu như:
Theo Đỗ Thị Hòa và ctv (2008), cá biển nuôi tại Khánh Hòa có 10 bệnh
thường gặp trên cá biển nuôi là
[5]
:

Hirunidae. Các loài cá thường bị bệnh là cá mú, cá chẽm và cá hồng.
+ Bệnh đốm trắng ở thận: Thường gặp ở cá giò nuôi lồng ở Vạn Ninh,
Khánh Hòa. Với các biểu hiện bệnh như cá kém ăn, chậm lớn. Ở thận, gan, tụy xuất
16
hiện các đốm trắng dạng hạt. Trên cá bị bệnh này, người ta đã phân lập được vi
khuẩn Photobacterium damselae.
+ Bệnh lymphocystic (bệnh u sần): Cá bị bệnh này thường xuất hiện các u
nhỏ có màu trắng hay hồng trên vây, lưng, đầu. Bệnh này chỉ gây chết rải rác nhưng
ảnh hưởng tới sinh trưởng và giá trị thương phẩm của cá nuôi. Các loài cá thường
gặp là cá giò và cá chẽm.
+ Hội chứng dị dạng ở cá biển: Cá có hình dạng không bình thường, cột sống
bị ưỡn cong và bụng cá hóp lại như bị đói lâu ngày và không lâu sau thì cá sẽ chết.
Bệnh này hay gặp trên cá mú.
Nguyễn Thị Thanh Thùy và ctv (2008), khi nghiên cứu về bệnh lở loét trên
cá mú cho thấy hai loài vi khuẩn là Vibrio alginolyticus và Vibrio parahaemolyticus
là tác nhân chính gây nên bệnh lở loét ở cá mú nuôi tại Khánh Hòa. Trên các mẫu
bệnh còn phân lập được 7 loài ký sinh trùng là Pseudorhabdosynochus epinepheli,
Benedenia sp., Caligus sp., Trichodina sp., Apiosoma sp., Ampiphrya sp.,
Zeylanicobdella sp., và nấm thuộc giống Aspergillus. Tuy nhiên theo tác giả thì các
loài ký sinh trùng và nấm chỉ là tác nhân cơ hội hoặc là tác nhân mở đường cho vi
khuẩn xâm nhập và gây bệnh cho cá
[20]
. Võ Thế Dũng và ctv (2005) nghiên cứu về
thành phần loài ký sinh trùng trên cá mú (Epinephelus spp.) tự nhiên, nuôi ao, nuôi
lồng tại Khánh Hòa, đã phát hiện thấy có 22 loài ký sinh trùng thuộc 7 giống, 12 họ,
11 bộ, 9 lớp, 8 ngành. Trong đó, Trichodina chiếm tỷ lệ cao nhất (74,2%), các loài
monogenea ký sinh ở mang và da với tỷ lệ cảm nhiễm 31,9%
[67]
. Nghiên cứu của
Đỗ Thị Hòa và ctv (2007) về sán lá đơn chủ (monogenean) trên cá mú (Epinephelus

pH: Sử dụng máy đo pH; Độ mặn: Sử dụng khúc xạ kế; Nhiệt độ nước: Sử
dụng nhiệt kế thủy ngân có chia độ từ 0 – 100
0
C.
Độ kiềm: Xác định bằng phương pháp chuẩn độ axít.
Oxy hòa tan trong nước (Dissolved Oxygen - DO): Xác định bằng phương
pháp Winkler.
Nhu cầu oxy hóa học (Chemical Oxygen Demand - COD): Xác bằng
phương pháp KMnO
4
trong môi trường kiềm.
18
Nhu cầu oxy sinh hóa (Biochemical Oxygen Demand – BOD
5
): Xác định
bằng phương pháp nuôi cấy và pha loãng.
Amoni (NH
4
+
-N): Xác định theo phương pháp Salicylate, đo quang trên máy
DR2010 ở bước sóng 655nm.
Nitrite (NO
2
-
-N): Thực hiện với thuốc thử axit sunphanilic và α-napthylamin,
đo quang trên máy DR2010 ở bước sóng 507nm
Nitrate (NO
3
-
-N): Dùng cột khử cadimi để chuyển nitrate về nitrite, sau đó xác

lấy ra đọc kết quả.
- Chọn tất cả các đĩa có không quá 300 khuẩn lạc để tính kết quả. Sự phân bố
của các khuẩn lạc trên các đĩa nuôi cấy phải hợp lý: độ pha loãng càng cao thì số
khuẩn lạc càng ít. Nếu kết quả không hợp lý, phải tiến hành lại các bước nuôi cấy.
- Cách tính kết quả: Chọn những đĩa không quá 300 khuẩn lạc ở 3 nồng độ
pha loãng liên tiếp, tính số khuẩn lạc vi khuẩn cho 1ml bằng cách tính trung bình
cộng tổng số khuẩn lạc của các đĩa trên theo công thức:

( 1 0,1. 2 ).
C
N
n n d


 

Trong đó, C là số khuẩn lạc đếm được trên các đĩa đã chọn; n1, n2, là số
đĩa ở 3 nồng độ pha loãng liên tiếp đã chọn, d là hệ số pha loãng tương ứng với độ
pha loãng thứ nhất.
2.5. Phương pháp nghiên cứu bệnh do vi khuẩn
Tham khảo các công trình của Đỗ Thị Hòa (2005)
[3]
, Austin B. và ctv
(2007)
[29]
, và Nicky B. Buller (2004)
[54]
.
+ Môi trường nuôi cấy và hóa chất cần thiết:
- Môi trường tổng hợp: TSA +2% NaCl.

vi khuẩn. Quy trình nghiên cứu vi khuẩn gây bệnh trên cá được tóm tắt qua sơ đồ
hình 2.1:
- Tần số bắt gặp các loài vi khuẩn được tính theo công thức:

TSBG =

Số cá có xuất hiện loài vi khuẩn cần tính
Tổng số cá kiểm tra
×100 (%)

Trích đoạn Kết quả phân lập nấm trên cá chẽm bị bệnh lở loét Kết quả cảm nhiễm lầ n1
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status