Khóa luận tốt nghiệp GVHD :Thầy Phạm Tuấn Long
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU......................................................................................................2
PHẦN I :
ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA BỒN TRŨNG CỬU LONG
Chương I:
Sơ lược lòch sử nghiên cứu bồn trũng Cửu Long.................................................4
Chương II:
Đặc điểm bồn trũng Cửu Long
1. Đặc điểm về điều kiện đòa lý tự nhiên bồn trũng Cửu Long..................6
2. Đặc điểm kiện tạo ...................................................................................9
3. Đặc điểm đòa tầng .................................................................................21
4. Đặc điểm đá sinh , đá chứa , đá chắn...................................................26
PHẦN II : CHUYÊN ĐỀ
Chương I :
BỒN ĐỊA CHẤT THUỶ VĂN..............................................................29
Chương II:
Vai trò của nước vỉa ảnh hưởng đến sự hình thành và phá huỷ các tích
tụ dầu khí .........................................................................................................31
ChươngIII :
Đặc điểm các phức hệ chứa nước ở phần Nam bể Cửu Long..............47
SVTH : Trònh Trí Thanh
MSSV : 0216107
1
Khóa luận tốt nghiệp GVHD :Thầy Phạm Tuấn Long
LỜI NÓI ĐẦU
Ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam tuy còn non trẻ chỉ chính thức
thành lập từ tháng 9 năm 1975, chậm nhất so với tất cả các nước trong khu vực
nhưng đã khẳng đònh vò thế của mình trong nền kinh tế quốc dân .
Ngành dầu khí đã đạt được những thành tựu to lớn , đã đóng góp một
phần không nhỏ trong nên kinh tế chung của đất nước và trở thành một ngành
SVTH : Trònh Trí Thanh
MSSV : 0216107
3
Khóa luận tốt nghiệp GVHD :Thầy Phạm Tuấn Long
PHẦN I :
ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA BỒN TRŨNG CỬU LONG
Chương I :
SƠ LƯC LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU BỒN TRŨNG CỬU LONG
Lòch sử nghiên cứu bồn trũng Cửu Long được chia làm 3 giai đoạn :
1. Giai đoạn trước 1975 :
Vào đầu những năm 60 đã có những dự đoán về tiềm năng dầu khí ở
bồn trũng Cửu Long, nó trở thành đối tượng tìm kiếm dầu khí của một số công
ty nước ngoài .
Từ năm 1960 đến năm 1970 , công ty Man Drel đã thăm dò đòa vật lý
thềm lục đòa phía Nam với mạng lưới tuyến khảo sát 39 km x 50 km. Năm
1960 , công ty Mobil Oil đã phủ tuyến mạng lưới khảo sát đòa vật lý 8 km x 8
km và 4 km x 4km trên khu vực lô 9 và lô 16 của bồn trũng Cửu Long .
Đến năm 1974, công ty Petty Ray đã đã tiến hành nghiên cứu đòa vật lý
với mạng lưới tuyến 2km x 2km trên khu vực lô 9 .
Đầu năm 1975 , công ty Mobil Oil đã khoan giếng khoan BH-1X trên
cấu tạo Bạch Hổ , khi thử vỉa tầng Miocen hạ đã thu được dòng dầu công
nghiệp với lưu lượng là 2400 thùng /ngày .
2. Giai đoạn 1975-1980 :
Năm 1976 , công ty Pháp đã tiến hành đo đòa vật lý theo mạng lưới
tuyến khu vực và liên kết đòa chấn ở các lô 9 , 16 , 17 vào các khu vực đồng
bằng sông Cửu Long.
SVTH : Trònh Trí Thanh
MSSV : 0216107
4
Khóa luận tốt nghiệp GVHD :Thầy Phạm Tuấn Long
vó Bắc và 105
0
– 109
0
kinh Đông , kéo dài từ
bờ biển Phan Thiết đến cửa sông Hậu . Bồn trũng gồm hai phần : 1 phần biển
và 1 phần đồng bằng sông Cửu Long . Nếu tính cả phần lục đòa bồn có diện
tích khoảng 67.500 km
2
(phần biển 56.000 km
2
, phần lục đòa 11.500 km
2
),
phía Đông Nam ngăn cách với trũng Côn Sơn bởi khối nâng Côn Sơn , phía
Tây Nam ngăn cách với vònh Thái Lan bởi khối nâng Khorat , phía Tây Bắc
nằm trên phần rìa đòa khối Kon Tum .
Nguồn cung cấp vật liệu chủ yếu từ các sông Mekong , sông vàm cỏ Tây ,
vàm cỏ Đông , sông Sài Gòn , sông Đồng Nai …
Về chế độ gió , bồn trũng Cửu Long có thể nhận thấy hai chế độ gió
mùa rõ rệt :chế độ gió mùa đông và chế độ gió mùa hè .
* Chế độ gió mùa đông : đặc trưng bởi gió mùa Đông Bắc , kéo dài từ tháng
11 đến cuối tháng 8 , với 3 hướng gió chủ yếu :Đông Bắc (từ tháng 11 đến
tháng 1 ), Đông ( tháng 3 ) .Vào đầu mùa tốc độ gió trung bình sau đó tăng
dần lên và lớn nhất vào tháng 1 và tháng 2 . Đây là thời kỳ biển động nhất
trong năm , gây nhiều ảnh hưởng đến các hoạt động trên biển .
* Chế độ gió mùa hè :đặc trưng bởi gió mùa Tây Nam kéo dài từ cuối tháng 5
đến giữa tháng 9 , với hướng gió chủ yếu là Tây Nam .
SVTH : Trònh Trí Thanh
MSSV : 0216107
Bồn Cửu Long được đánh giá là có tiềm năng dầu khí lớn nhất Việt
Nam với khoảng 700-800 triệu m
3
dầu .Việc mở đầu phát triển dầu trong
móng phong hoá nứt nẻ ở mỏ Bạch Hổ là sự kiện nổi bật nhất , không những
làm thay đổi phân bố trữ lượng và đối tượng khai thác mà còn tạo ra quan
niệm đòa chất mới cho việc thăm dò dầu khí ở thềm lục đòa Việt Nam .
SVTH : Trònh Trí Thanh
MSSV : 0216107
7
Khóa luận tốt nghiệp GVHD :Thầy Phạm Tuấn Long
SVTH : Trònh Trí Thanh
MSSV : 0216107
8
Khóa luận tốt nghiệp GVHD :Thầy Phạm Tuấn Long
II ĐẶC ĐIỂM KIẾN TẠO
Thềøm lục đòa Việt Nam và vùng kế cân hợp thành đơn vò cấu trúc kiểu
vỏ lục đòa ( mảng KonTum – Borneo ) được gắn kết từ cuối Mesozoi đầu Đ ệ
Tam cùng với sự mở rộng biển rìa “Biển Đông “có kiểu vỏ chuyển tiếp đại
dương , tạo thành khung kiến tạo chung của Đông Nam Á . Sự tách mảng và
va chạm của các mảng lớn Âu – Á , Ấn –Úc và Thái Bình Dương mang tính
nhòp điệu và đều được phản ảnh trong lòch sử phát triển của vỏ lục đòa
Kontum- Borneo sau thời kỳ Trias và sự nhấn chìm của mảng đại dương ( Thái
Bình Dương và Ấn Độ Dương ) bên dưới vỏ lục đòa dẫn đến sự phá vỡ, tách
giãn , lún chìm của rìa lục đòa Âu Á tạo ra biển rìa “Biển Đông “ và thềm lục
đòa rộng lớn Nam Việt Nam và Sunda , hình thành các đai tạo núi – uốn nếp
trẻ và cung đảo núi lửa .
Bên trong mảng Kontum – Borneo xảy ra hiên tượng gia tăng dòng đòa
nhiệt và dâng lên các khu vực . Dọc theo các đứt gãy lớn phát triển các hoạt
động xâm nhập của magma Granitoid , phun trào núi lửa axit và kiềm kể cả
hydrocacbon và cũng là tầng sản phẩm quan trọng phát hiện và khai thác hiên
nay ở trũng Cửu Long.
+ Thời kỳ Oligocene – Đệ Tứ : là thời kỳ mở rộng các trũng do sự lún chìm
khu vực ở rìa Nam đòa khối Kontum – Borneo , có liên quan trực tiếp với sự
phát triển của biển Đông . Trầm tích biển lan rộng dần từ Đông sang Tây .
Trên cơ sở các số liệu đòa vật lý giếng và khoan sâu ở thềm lục đòa
Nam Việt Nam , đòa tầng Đệ Tam sớm nhất được khoan qua có tuổi xác đònh
SVTH : Trònh Trí Thanh
MSSV : 0216107
10
Khóa luận tốt nghiệp GVHD :Thầy Phạm Tuấn Long
Oligocene .Các trầm tích molat giữa núi dự kiến tuổi Eocene và sớm hơn chỉ
phổ biến ở trung tâm các đòa hào , ở đây chiều dầy trầm tích Đệ Tam đạt 8-10
km .
Sự va chạm của các mảng vào cuối Oligocene đã ảnh hưởng đến sự
phát triển của các rìa Nam mảng Kontum – Borneo , gây ra hiện tượng biển
lùi và bất chỉnh hợp khu vực giữa phức hệ Oligocene và các trầm tích phủ lên
chúng . Các chuyển động khối theo các đứt gãy đồng sinh cùng quá trình trầm
tích thừa kế bình đồ kiến tạo của móng trước Đệ Tam đã tạo ra nhữntg cấu tạo
đòa phương.
Sự nâng lên làm đa số các cấu tạo bò bào mòn ở đỉnh hoặc vát mỏng
chiều dày .Các trầm tích sét cuối Oligocene là lớp chắn quan trọng phủ lên
các bẫy chứa dầu Oligocene và móng trước Đệ Tam .
Thời kỳ Miocene tiếp theo bắt đầu bằng đợt biển tiến ngắn vào đầu
Miocene sớm và kết thúc bằng sự dâng lên, bất chỉnh hợp khu vực với sự gián
đoạn trầm tích vào Miocene trung .Diện tích các bồn trũng bò biến đổi theo
các chu kỳ dao động của mực nước biển .Thành phần sét biển chiếm ưu thế .
Vào thời kỳ này , bình đồ kiến tạo Oligocene – Miocene hoàn toàn bò san
phẳng do không còn các chuyển động phân dò trên các đới cấu tạo thứ cấp .
Có thể nói quy luật phân đới cấu tạo , cũng như thành phần phủ
Các hình thái bồn này tương ứng với những ứng suất căng giãn vì vậy
các đứt gãy trong bồn chủ yếu là đứt gãy thuận và có sự thành tạo của dạng
đòa luỹ , đòa hào : đây chính là tâm điểm cho sự dòch chuyển của dầu khí ở
dưới sâu lên .
SVTH : Trònh Trí Thanh
MSSV : 0216107
12
Khóa luận tốt nghiệp GVHD :Thầy Phạm Tuấn Long
Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu thì bồn trầm tích Cửu Long
được hình thành và phát triển như một bồn trầm tích delta điển hình , với
nguồn cung cấp vật liệu chính từ sông Mekong và một số nguồn khác từ phía
Nam , Đông Nam của bồn này .Tuy nhiên ở những giai đoạn khác nhau ,
nguồn cung cấp cũng bò biến đổi .
Bồn trũng Cửu Long có bề dày trầm tích Kainozoi lấp đầy bồn trũng
khá lớn , tại trung tâm bồn trũng lớn hơn 8 km .Chúng được phát sinh phát
triển trên vỏ lục đòa được hình thành trong các giai đoạn kiến tạo khác nhau .
Qua kết quả thăm dò đòa chấn và qua phân tích các số liệu giếng khoan
cho thấy móng của bồn trũng Cửu Long khá đồng nhất so với các bồn trầm
tích khác của thềm lục đòa Việt Nam .Ở hầu hết các giếng khoan của bồn
trũng Cửu Long đều gặp đá xâm nhập axit ( granit biotit , granit hai mica ,
granodiorit và đôi khi là diorite thạch anh ).
Do hoạt động kiến tạo khá mạnh mẽ vào trước Kainozoi nên các đá
này bò biến đổi mạnh mẽ tạo ra các đứt gãy cũng như quá trình nứt nẻ, phong
hoá tạo ra khả năng chứa rất tốt .Nhưng bên cạnh đó còn có một số nới với bề
dày trầm tích khá lớn như ở lô 9 (mỏ Bạch Hổ , Rồng ) bề dày trên 8 km nên
khả năng nghiên cứu móng bò hạn chế .
Phần lớn đứt gãy quan trọng trong bồn trũng Cửu Long là đứt gãy
thuận kế thừa từ móng và phát triển đồng sinh với quá trình lắng đọng trầm
tích .Các đứt gãy nghòch hiện diện ít do sự nén ép đòa phương hoặc nén ép đòa
tầng . Chúng bao gồm 2 hệ thống đứt gãy sâu khu vực :
MSSV : 0216107
16
Khóa luận tốt nghiệp GVHD :Thầy Phạm Tuấn Long
SVTH : Trònh Trí Thanh
MSSV : 0216107
17
Khóa luận tốt nghiệp GVHD :Thầy Phạm Tuấn Long
Seismic section over a largeoil field, Cuu Long Basin .
Seismic section over a large oil field , Cuu Long Basin
SVTH : Trònh Trí Thanh
MSSV : 0216107
18
Khóa luận tốt nghiệp GVHD :Thầy Phạm Tuấn Long
SVTH : Trònh Trí Thanh
MSSV : 0216107
19
Khóa luận tốt nghiệp GVHD :Thầy Phạm Tuấn Long
III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA TẦNG :
Đòa tầng bồn trũng Cửu Long được thành lập dựa vào kết quả phân tích
mẫu vụn , mẫu lõi , tài liệu carota và các tài liệu phân tích cổ sinh từ các
giếng khoan trong phạm vi bồn trũng , bao gồm các thành tạo móng trước
Kainozoi .
1. Phần đá móng trước Kainozoi ;
Đá móng là đá magma toàn tinh với các đai mạch Diabaz và Pocphia
Bazan Trachit được đặc trưng bởi mức độ không đồng nhất cao về tính chất vật
lý thạch học như đã phát hiện ở các giếng khoan lô 09 và lô 16 .Đá móng ở
đây bao gồm các loại Granit Biotit thông thường , Granodiorit , và Adamelit
biotit màu sáng , ngoài ra còn có Monzonit thạch anh và Diorit á kiềm .Các
đá này tương đương với 1 số phức hệ của lục đòa như phức hệ Hòn Khoai
γ
như sau :
+ Các thành tạo trầm tích theo bình đồ cũng như theo mặt cắt khá phức tạp ,
bao gồm các loại đá lục nguyên tướng châu thổ và ven biển .
+ Trầm tích Kainozoi phủ bất chỉnh hợp lên móng trước Kainozoi với bề dày
3- 8 km , càng đi về trung tâm bồn trũng độ dày càng tăng , chỗ sâu nhất lớn
hơn 8 km.
+ Các trầm tích Kainozoi ở bồn trũng Cửu Long bao gồm các phân vò đòa tầng
có các hoá thạch đặc trưng được xác đònh bởi các bào tử phấn và vi cổ sinh từ
dưới lên bao gồm :
Các thành tạo trầm tích Paleogen
+ Trầm tích Oligocene ( P
3
) :
Theo kết quả nghiên cứu đòa chấn , thạch học , đòa tầng cho thấy trầm
tích Oligocene của bồn trũng Cửu Long được thành tạo bởi sự lấp đầy các bồn
trũng đòa hình bồn cổ , bao gồm các trầm tích lục nguyên , các loại trầm tích
sông hồ , đầm lầy , trầm tích ven biển , chúng phủ bất chỉnh hợp lên móng
trước Kainozoi .
+ Trầm tích Oligocen hạ - điệp Trà Cú (P
1
3
tr.c) :
Điệp này bao gồm các tập sét kết màu đen , xám xen kẽ với các lớp cát
, hạt từ mòn đến trung bình , độ lưa chọn tốt gắn kết chủ yếu với ximăng ,
SVTH : Trònh Trí Thanh
MSSV : 0216107
21
Khóa luận tốt nghiệp GVHD :Thầy Phạm Tuấn Long
kaolinit , lắng đọng trong môi trường sông hồ , đầm lầy hoặc châu thổ .Phần
bên trên trầm tích Oligocene hạ là lớp sét dày .Trên các đòa hình nâng cổ ở
trũng Cửu Long .Càng lên trên của phụ điệp khuynh hướng cát hạt thô càng rõ
.
SVTH : Trònh Trí Thanh
MSSV : 0216107
22
Khóa luận tốt nghiệp GVHD :Thầy Phạm Tuấn Long
+ Phụ điệp Bạch Hổ trên ( N
1
1
bh
2
):
Phần dưới phụ điệp này là những lớp cát hạt nhỏ lẫn với những lớp bột
mỏng .Phần trên chủ yếu là sét kết , bột kết , đôi chỗ gặp những vết than ,
glauconit .
* Trầm tích Mioxen trung – điệp Côn Sơn ( N
1
2
cs ):
Trầm tích điệp này phủ bất chỉnh hợp trên trầm tích Mioxen hạ , bao
gồm sự sen kẽ giữa các tập cát dày gắn kết kém với các lớp sét vôi màu xanh
thẫm , đôi chổ gặp các lớp than và dolomite .
Trầm tích của điệp được thành taọ chủ yếu trong môi trường ven bờ và
có mặt đầy đủ trên toàn bộ bồn trũng Cửu Long .
* Trầm tích Mioxen thượng – điệp Đồng Nai (N
1
3
đn ):
Trầm tích được phân bố trên toàn bộ bồn trũng Cửu Long và một phần
của đồng bằng sông Cửu Long ( ở giếng khoan Cửu Long 1 ) .Trầm tích của
hữu cơ tổ hợp Kerogen loại I , II ,III nhưng diện phân bố mang tính đòa phương
cục bộ . Các thành tạo này chính là các tầng đá mẹ lý tưởng nhưng qui mô
không lớn .
Các thành tạo trầm tích sét kết , bột kết tuổi Oligocene muộn được
thành tạo trong môi trường hồ nước ngọt xen kẽ luân phiên theo lòch sử phát
triển bề mặt trầm tích Cửu Long .Hàm lương vật chất hữu cơ chủ yếu là
sapropel/amorphus (Kerogen loại I-II ) ở trung tâm bể và giảm dần khi ra ven
rìa đồng thời thành phần humic ( Kerogen loại III ) cũng tăng lên tương đối .
Hàm lượng vật chất hữu cơ khoảng 1.0-.7% và có những tập trầm tích đạt giá
trò cao hơn .Các thành tạo này là nguồn đá mẹ chính và lý tưởng với bề dày
trầm tích khá lớn và chúng là nguồn đá mẹ chính cho sinh thành HC của bồn
trũng Cửu Long .
SVTH : Trònh Trí Thanh
MSSV : 0216107
25