Khảo sát địa chất bồn trũng Cửu Long - Pdf 20

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Thò Luận
LỜI MỞ ĐẦU
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời gian gần đây ngành dầu khí đã có những đóng góp
rất lớn cho nền kinh tế nước nhà, tìm năng dầu khí của nước ta được
tập trung nhiều nhất là trên thềm lục đòa miền Nam Việt Nam, trong
đó bồn trũng Cữu Long là bể trầm tích được xếp vào loại có tiềm
năng dầu khí lớn nhất.
Bên cạnh các công tác nghiên cứu cấu trúc đặc điểm đòa chất,
khảo sát vật lý, thăm dò đòa chấn v.v… thì việc nghiên cứu đòa hóa đá
mẹ giúp cho công tác thăm dò có hiệu quả hơn và giảm thiểu rủi ro.
Đồng thời cho phép nghiên cứu điều kiện tích lũy, độ trưởng thành của
vật chất hữu cơ sinh ra dầu khí, cũng như hướng di cư của dầu khí.
Có nhiều phương pháp đánh giá độ trưởng thành của đá mẹ,
trong giới hạn của khóa luận này, tác giả sử dụng phương pháp
Lopatin để đánh giá độ trưởng thành vật chất hữu cơ của đá mẹ bồn
trũng Cữu Long lô 16.2.
Do thời gian thực hiện hạn chế, nguồn tài liệu thu thập chưa
đầy đủ cùng với sự hiểu biết hạn chế của tác giả nên khóa luận sẽ
không tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận được sự đóng góp của
Thầy cô và bạn bè.
Em xin chân thành cảm ơn cô Bùi Thò Luận và các thầy cô
trong khoa Đòa Chất trường ĐH KHTN đã nhiệt tình hướng dẫn và
chỉ bảo trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này.
Xin cảm ơn rất nhiều.
Tác giả
Nguyễn Khoa Vinh
SVTH: Nguyễn Khoa Vinh 1
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Thò Luận
MỤC LỤC
MỤC LỤC

1.1 Vò trí bể Cửu Long (Trần Lê Đông, Phùng Đắc Hải – 2007) 6
1.2 Sơ đồ phân bố vò trí các giếng khoan thuộc bồn trũng Cửu
Long
11
1.3 Cột đòa tầng tổng hợp bể Cửu Long 18
2.1 Sơ đồ phân loại nguồn gốc vật liệu hữu cơ dựa trên tương
quan tỷ lệ hàm lượng nguyên tố H/C và O/C
34
2.2 Đặc điểm của quá trình nhiệt phân 37
3.1 Sơ đồ vò trí mặt cắt theo đường BB’ vùng nghiên cứu 45
3.2 Mặt cắt đòa chất BB’ dọc bể Cửu Long 46
3.3 Lòch sử chôn vùi VLHC giếng khoan Tam Đảo – bồn trũng
Cửu Long
50
3.4 Lòch sử chôn vùi VLHC giếng khoan Bà Đen – bồn trũng
Cửu Long
54
3.5 Lòch sử chôn vùi VLHC điểm M 58
3.6 Mặt cắt đòa hóa các đới trưởng thành của VLHC các giếng
khoan Bà Đen, Tam Đảo và điểm M thuộc mặt cắt BB’ dọc
bể Cửu Long
60
Sơ đồ Nội dung Trang
2.3 Các phương pháp nghiên cứu đòa hóa 35
SVTH: Nguyễn Khoa Vinh 3
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Thò Luận
Bảng Nội dung Trang
2.1 Đánh giá độ trưởng thành của đá mẹ dựa vào độ phản xạ
Vitrinite
36

SVTH: Nguyễn Khoa Vinh 5
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Thò Luận
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT BỒN
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT BỒNTRŨNG CỬU LONG
TRŨNG CỬU LONG
1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ:
Bể trầm tích Cửu Long nằm chủ yếu trên thềm lục đòa phía Nam Việt
Nam, và một phần đất liền thuộc khu vực cửa sông Cửu Long. Bể có hình bầu
dục, vồng ra về phía biển và nằm dọc theo bờ biển Vũng Tàu – Bình Thuận. Bể
Cửu Long tiếp giáp với đất liền về phía Tây Bắc, ngăn cách với bể Nam Côn
Sơn bởi đới nâng Côn Sơn, phía Tây Nam là đới nâng Khorat – Natuna và phía
Đông Bắc là đới cắt trượt Tuy Hòa ngăn cách với bể Phú Khánh, có tọa độ đòa lý
khoảng 9
o
00

-11
o
00

vó Bắc và 106
o
30

-109
o
00

Biển Đông trong đó có tuyến cắt qua bể Cửu Long.
Đầu năm 1970, công ty Ray Geophysical Mandrel lại tiến hành đo đợt 2 ở
Nam Biển Đông và dọc bờ biển 8.639 km, đảm bảo mạng lưới cỡ 30x50 km, kết
hợp giữa các phương pháp từ, trọng lực và hàng không trong đó có tuyến cắt qua
bể Cửu Long.
SVTH: Nguyễn Khoa Vinh 7
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Thò Luận
Năm 1973 – 1974 đã đấu thầu trên 11 lô, trong đó có 3 lô thuộc về bể
Cửu Long là 09, 15 và 16.
Năm 1974, công ty Mobil trúng thầu trên lô 09 đã tiến hành khảo sát đòa
vật lý, chủ yếu là đòa chấn phản xạ, có từ và trọng lực với khối lượng là 3.000
km tuyến. Vào cuối năm 1974 và đầu năm 1975, công ty Mobil đã khoan giếng
khoan tìm kiếm dầu đầu tiên trong bể Cửu Long, BH-1X ở phần đỉnh của cấu
tạo Bạch Hổ. Kết quả thử vỉa đối tượng cát kết Miocene dưới ở chiều sâu 1.755
– 2.819 m đã cho dòng dầu công nghiệp, lưu lượng dầu đạt 342 m
3
/ngày. Kết
quả này đã khẳng đònh triển vọng và tiềm năng dầu khí của bể Cửu Long.
1.2.2 Giai đoạn 1975 – 1979.
Năm 1976, công ty đòa lý CGG của Pháp khảo sát 1.210,9 km theo các
con sông của đồng bằng Sông Cửu Long và vùng ven biển Vũng Tàu-Côn Sơn.
Kết quả của công tác khảo sát đòa chấn đã xây dựng được các tầng phản xạ
chính: từ CL20 đến CL80 và khẳng đònh sự tồn tại của bể Cửu Long với một mặt
cắt trầm tích Đệ Tam dày.
Năm 1987, công ty Geco (Nauy) thu nổ đòa chấn 2D trên lô 10, 09, 16, 19,
20, 21 với tổng số 11.898,5 km và làm chi tiết trên cấu tạo Bạch Hổ với mạng
lưới tuyến 2x2 và 1x1 km. Riêng đối với lô 15, công ty Deminex đã hợp đồng
với Geco khảo sát 3221,7 km tuyến đòa chấn với mạng lưới là 3,5x3,5km trên lô
15 và cấu tạo Cửu Long (nay là Rạng Đông). Căn cứ vào kết quả minh giải tài
liệu đòa chấn này Deminex đã khoan 4 giếng khoan tìm kiếm trên các cấu tạo

Dầu khí, hàng loạt các công ty đầu tư nước ngoài đã ký hợp đồng phân chia sản
phẩm hoặc cùng đầu tư vào các lô mở và có triển vọng tại bể Cửu Long. Đến
SVTH: Nguyễn Khoa Vinh 9
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Thò Luận
cuối năm 2003 đã có 9 hợp đồng tìm kiếm thăm dò được ký kết trên các lô: 09-1,
09-2, 09-3, 01&02, 01&02/96, 12-1, 15-2, 16-1, 16-2 và 17.
Triển khai các hợp đồng đã ký và công tác khảo sát đòa vật lý thăm dò,
các công ty dầu khí đã ký hợp đồng với các công ty dòch vụ khảo sát đòa chấn có
nhiều kinh nghiệm trên thế giới như: CGG, Geco-Prakla, Western Geophysical
Company, PGS, v.v. Hầu hết các lô trong bể đã được khảo sát đòa chấn tỉ mỉ
không chỉ phục vụ cho công tác thăm dò mà cả cho công tác chính xác mô hình
vỉa chứa. Khối lượng khảo sát đòa chấn trong giai đoạn này, 2D là 2.408 km và
3D là 7.304,6 km
2
. Khảo sát đòa chấn 3D được tiến hành trên hầu hết các diện
tích có triển vọng và trên tất cả các vùng mỏ đã phát hiện.
Trong lónh vực xử lý tài liệu đòa chấn 3D có những tiến bộ rõ rệt khi áp
dụng quy trình xử lý dòch chuyển thời gian và độ sâu trước cộng (PSTM, PSDM).
Cho đến hết năm 2003, tổng số giếng khoan thăm dò, thẩm lượng và khai
thác đã khoan ở bể Cửu Long khoảng 300 giếng, trong đó riêng VietsovPetro
chiếm trên 70%.
Bằng kết quả khoan, nhiều phát hiện dầu khí đã được xác đònh: Rạng
Đông (lô 15.2), Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng, Sư Tử Trắng (lô 15.1), Topaz North,
Diamond, Pearl, Emerald (lô 01), Cá Ngừ Vàng ( lô 09.2), Voi Trắng (lô 16.1),
Đông Rồng, Đông Nam Rồng (lô 09-1) (hình 1.2). Trong số phát hiện này có cả
năm mỏ dầu: Bạch Hổ, Rồng (bao gồm cả Đông Rồng và Đông Nam Rồng),
Rạng Đông, Sư Tử Đen, Hồng Ngọc hiện đang được khai thác, với tổng sản
lượng khoảng 45.000 tấn/ngày. Tổng lượng dầu đã thu hồi từ năm mỏ kể từ khi
đưa vào khai thác cho đến năm 2005 là khoảng 170 triệu tấn.
SVTH: Nguyễn Khoa Vinh 10

O
01/97
16.2
15.2
15.1
02/97
03
09.1
09.2
09.3
25
16.1
17
04.104.2
15.2/95
C UU LO N G J OC
PVE P
PE TR ON AS
JV PC
HOA N VU JOC
L AM S ON J OC
ONG C
L AM S ON J OC
VSP
VSP
HO A NG LONG JOC
THA NG LONG J O C
VRJ JOC
VP E P
30 Km

15-C-1X
15-B-1X
BG-1X
BV-1X
BA DEN-1X
RONG
RONG-1
17-N-1X
NO-1X
17-C-1X
TAM DAO-1X
17-DD-1X
17-VT-1X
WOLF-1X
BACH HO-1X
BACH HO-4X
CNV-1,2,3,4X
COD-1X
BACH HO-10X
TGT-3X
TGT-1X
TGV-1X
VT-1X
VV-1X
VT-2X
TGT-2X
SD-1X
SV-1X
SD-2X
SV-2X

tổng hợp của bể (hình 1.3). Để thuận tiện cho công tác tìm kiếm, thăm dò và
khai thác dầu khí các phân vò đòa tầng được đối sánh với các tập đòa chấn. Các
mặt phản xạ đòa chấn đều trùng với các ranh giới của các phân vò đòa tầng.
1.3.1 MÓNG TRƯỚC KAINOZOIC:
Ở bể Cửu Long cho đến nay đã khoan hàng trăm giếng sâu vào móng
trước Kainozoic tại nhiều vò trí khác nhau trên toàn bể. Về mặt thạch học, đá
móng có thể xếp thành 2 nhóm chính: granite và granodiorite – diorite, ngoài
ra còn gặp đá biến chất và các thành tạo núi lửa.
So sánh kết quả nghiên cứu các phức hệ magma xâm nhập trên đất liền với
đá móng kết tinh ngoài khơi bể Cửu Long, theo đặc trưng thạch học và tuổi tuyệt
đối có thể xếp tương đương với 3 phức hệ: Hòn Khoai, Đònh Quán và Cà Ná.
Phức hệ Hòn Khoai có thể xem là phức hệ đá magma cổ nhất trong móng
của bể Cửu Long, phức hệ có tuổi Triassic muộn, tương ứng khoảng 195 đến 250
tr.năm. Theo tài liệu Đòa chất Việt Nam tập II, các thành tạo magma thì
granitoid Hòn Khoai được ghép chung với các thành tạo magma xâm nhập phức
hệ Ankroet-Đònh Quán gồm chủ yếu là đá Amphybol-Biotite-Diorite, monzonite
và adamelite. Đá bò biến đổi, cà nát mạnh. Phần lớn các khe nứt đã bò lấp đầy
bởi các khoáng vật thứ sinh: calcite-epidote-zeolite. Đá có thể phân bố chủ yếu
ở phần cánh của các khối nâng móng, như cánh phía Đông Bắc mỏ Bạch Hổ.
Phức hệ Đònh Quán gặp khá phổ biến ở nhiều cấu tạo Bạch Hổ (vòm
Bắc), Ba Vì, Tam Đảo và Sói. Ở các mỏ Hồng Ngọc, Rạng Đông, Sư Tử Đen và
SVTH: Nguyễn Khoa Vinh 12
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Thò Luận
Sư Tử Vàng (ở phía Bắc bể), chủ yếu là đá granodiorite, đôi chỗ gặp monzonite-
biotite-thạch anh đa sắc. Đá thuộc loại kiềm vôi, có thành phần axit vừa phải
SiO
2
dao động 63÷67%. Các thành tạo của phức hệ xâm nhập này có mức độ
dập vỡ và biến đổi cao. Hầu hết các khe nứt đều được lấp đầy bởi các khoáng
vật thứ sinh: calcite, zeolite, thạch anh và clorite. Trong đới biến đổi mạnh

trũng trước núi Cretaceous-Paleocene-Eocene. Các bào tử phấn phát hiện được
trong mặt cắt này như: Klukisporires, Triporopollenites, Trudopollis, Plcapolis,
Jussiena, v.v., thuộc nhóm thực vật khô cạn thường phổ biến trong Eocene. Mặt
cắt của hệ tầng được xếp tương ứng với tập CL7 của tài liệu đòa chấn. Chiều dày
hệ tầng có thể đạt tới 600m.
Oligocene dưới:
Hệ tầng Trà Cú (E
3
1
tc)
Là hệ tầng đã được xác lập ở giếng khoan Cửu Long – 1X.
Trầm tích gồm chủ yếu là sét kết, bột kết và cát kết, có chứa các vỉa than
mỏng và sét vôi, được tích tụ trong điều kiện sông hồ. Đôi khi gặp các đá núi
lửa, thành phần chủ yếu là porphyr diapaz, tuff basalt, và gabro-diapaz. Chiều
dày của hệ tầng tại phần trũng trung tâm, phần sườn các khối nâng Trung Tâm
như Bạch Hổ, Rồng và Sư Tử Trắng có thể đạt tới 500m.
Theo đặc trưng tướng đá hệ tầng được chia thành 2 phần: trên và dưới.
Phần trên chủ yếu là các thành tạo hạt mòn còn phần dưới là các thành tạo hạt
thô. Giữa 2 phần là ranh giới chỉnh hợp.
SVTH: Nguyễn Khoa Vinh 14
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Thò Luận
Hệ tầng Trà Cú có tiềm năng chứa và sinh dầu khí khá cao. Các vỉa cát
kết của hệ tầng là các vỉa chứa dầu khí chủ yếu trên mỏ Đông Nam Rồng, Sư Tử
Trắng và là đối tượng khai thác thứ hai sau móng nứt nẻ trên mỏ Bạch Hổ.
Chiều dày của hệ tầng dao động từ 0 - 800m.
Oligocene trên:
Hệ tầng Trà Tân (E
3
2
tt) được xác lập ở giếng khoan 15A-1X.

nông ở phần trên. Đá núi lửa đã được phát hiện thấy ở nhiều giếng khoan thuộc
lô 01 ở phía Bắc bể, chủ yếu là basalt và tuff basalt.
Tầng sét kết chứa Rotalia là tầng đá chắn khu vực tuyệt vời cho toàn bể.
Các vỉa cát xen kẻ nằm trong và ngay dưới tầng sét kết Rotalia và ở phần trên
của phía dưới mặt cắt có khả năng thấm chứa khá tốt, chúng là đối tượng tìm
kiếm quan trọng thứ 3 ở bể Cửu Long. Dầu hiện cũng đang được khai thác từ các
tầng cát này như ở mỏ Hồng Ngọc, Rạng Đông, Bạch Hổ và sắp tới là Sư Tử
Đen.
Miocene giữa
Hệ tầng Côn Sơn (N
1
2
cs)
Được xác lập ở giếng khoan 15B-1X. Hệ tầng gồm chủ yếu cát kết hạt
thô-trung, bột kết (chiếm đến 75÷80%), xen kẽ với các lớp sét kết màu xám,
nhiều màu dày 5÷15m, đôi nơi có lớp than mỏng. Bề dày hệ tầng thay đổi từ
250÷900m. Trầm tích của hệ tầng được thành tạo trong môi trường sông (aluvi)
ở phía Tây, đầm lầy-đồng bằng ven bờ ở phía Đông, Đông Bắc. Hệ tầng này và
các hệ tầng trẻ hơn của bể xem như không có triển vọng chứa dầu khí.
SVTH: Nguyễn Khoa Vinh 16
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Thò Luận
Miocene trên
Hệ tầng Đồng Nai (N
1
3
đn)
Được xác lập ở giếng khoan 15G-1X.
Tuổi của hệ tầng được xác đònh theo tập hợp phong phú các bào tử và
Nanoplankton, nghèo hóa đá foraminifera.
Chủ yếu là cát kết hạt trung xen kẽ với bột và các lớp mỏng sét màu xám

P H U Ï Đ IE ÄP
T H A ÏC H H O ÏC
B
i
e
ån

Đ
o
â
n
g
M
Ơ

T


T
H

C
H

H

C
B E À D A ØY ( m )
500 -700
100-40 0

Q
N
2
C
Đ
Ơ
ÙI

F
O
R
A
M

(
N
i
)
(
B
l
o
w
,

1
9
6
9


N
O

(
N
n
i
)
(
M
a
r
t
i
n
i
,

1
9
7
3
)
Đ
Ơ
ÙI

B
A
ØO

S
ơ
n
8 00-1000
Cát hạt mịn, trung, thơ xen với các lớp bột,
sét màu xám vàng nhạt, xám nâu nhạt,vỉa mỏng sét vơi,
sét vơi và vỉa mỏng than. Đặc điểm gắn kết yếu
“BI”
B
II
N
9
-
N
1
5
N
2
1
F
l
o
r
s
c
h
u
e
t
z

o
b
a
t
a

F
l
o
r
s
c
h
u
e
t
z
i
a

s
e
m
i
l
o
b
a
t
a

N
1
-
N
8
N
1
1
F
l
o
r
s
c
h
u
e
t
z
i
a

l
e
v
i
p
o
l
i


P
i
n
u
s
p
o
l
l
e
n
i
t
e
s
N
N
1
0
-
N
N
1
1
Đ
o
àn
g


r
s
c
h
u
e
t
z
i
a

m
e
r
i
d
i
o
n
a
l
i
s
F
l
o
r
s
c
h

i
c
e
a
T H O ÁN G
M IO CE N E (N )
1
N
2
Q
+
H
E
Ä
N E O G E N E
Đ
e
ä

t
ư
ù
G
I
Ơ
ÙI
CENOZOIC
K
h
o

các đá magma xun cắt dạng đai mạch chủ yếu là
andezit, gabro diabaz.
“M”
“E”
“F”
“EI”
M
E
D
F?
H
i
e
ám

f
o
r
a
m

b
a
ùm

đ
a
ù
y
O

p
,
G
l
o
b
i
g
e
r
i
n
o
i
d
e
s

s
p
p
,

O
s
t
r
a
c
o

h
u
e
t
z
i
a

t
r
i
l
o
b
a
t
a
M
a
g
n
a
s
t
r
i
a
t
i
t

C
i
c
a
t
r
i
c
o
s
i
s
p
o
r
i
t
e
s

d
o
r
o
g
e
n
s
i
s

s
,

V
e
r
r
u
t
i
c
o
l
p
o
r
i
t
e
s

p
a
c
h
y
d
e
r
m

l
y
p
o
d
i
i
s
p
o
r
i
t
e
s

p
e
r
v
e
r
r
u
c
a
t
u
s
,

F
l
o
r
s
c
h
u
e
t
z
i
a

t
r
i
l
o
b
a
t
a
C
r
a
s
s
o
r

p
a
c
h
y
d
e
r
m
u
s
.
M
a
g
n
a
s
t
r
i
a
t
i
t
e
s

h
o

i
e
n
s
i
s
,

v
a
n
r
a
a
d
s
h
o
o
v
e
n
i
,

O L I G O C E N E
P A L E O G E N ET + J + K
MESOZOIC
V
V

chiều dày trầm tích không đáng kể, chủ yếu là trầm tích hệ tầng Đồng Nai và
Biển Đông. Đới nâng không có tiền đề, dấu hiệu dầu khí vì vậy đã không được
nghiên cứu chi tiết và không xác đònh sự phát triển các đứt gãy kiến tạo.
SVTH: Nguyễn Khoa Vinh 19
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Thò Luận
Các đơn vò cấu trúc vừa nêu được xem là rất ít hoặc không có triển vọng
dầu khí, vì vậy chúng ít khi được đề cập đến trong các công trình không được
xem như một đơn vò cấu thành của bể Cửu Long.
Đới nâng Phú Quý được xem như phần kéo dài của đới nâng Côn Sơn về
phía Đông Bắc, thuộc lô 01 và 02. Đây là đới nâng cổ, có vai trò khép kín và
phân tách bể Cửu Long với phần phía Bắc của bể Nam Côn Sơn. Tuy nhiên, vào
giai đoạn Neogene – Đệ Tứ thì diện tích này lại thuộc phần mở của bể Cửu
Long. Chiều dày trầm tích thuộc khu vực đới nâng này dao động từ 1,5 đến 2km.
Cấu trúc của đới bò ảnh hưởng khá mạnh bởi các hoạt động núi lửa, kể các núi
lửa trẻ.
Trũng chính Cửu Long. Đây là phần lún chìm chính của bể, chiếm tới ¾
diện tích bể, gồm các lô 01, 02, 09, 17. Theo đường đẳng dày 2 km thì trũng
chính bể Cửu Long thể hiện rõ nét là một bể khép kín có dạng trăng khuyết với
vòng cung hướng ra về phía Đông Nam. Toàn bộ triển vọng dầu khí đều tập
trung ở trũng này. Vì vậy, cấu trúc của trũng được nghiên cứu khá chi tiết và
được phân chia ra thành các đơn vò cấu trúc nhỏ hơn như một bể độc lập thực
thụ. Các đơn vò cấu tạo bậc 3 gồm: trũng Đông Bắc; trũng Tây Bạch Hổ; trũng
Đông Bạch Hổ; sườn nghiêng Tây Bắc; sườn nghiêng Đông Nam; đới nâng
Trung Tâm; đới nâng phía Bắc; đới nâng phía Đông; đới phân dò Đông Bắc; đới
phân dò Tây Nam.
Sườn nghiêng Tây Bắc là dải sườn bờ Tây Bắc của bể kéo dài theo hướng
TB-ĐN, chiều dày trầm tích tăng dần về phía Tây Nam từ 1 đến 2,5 km. Sườn
nghiêng bò cắt xẻ bởi các đứt gãy kiến tạo có hướng ĐB-TN hoặc TB-ĐN, tạo
thành các mũi nhô. Trầm tích Đệ Tam của bể thường có xu hướng vát nhọn và
gá đáy lên móng cổ granitoid trước Kainozoi.

ngăn cách bởi một đòa hào nhỏ có chiều dày trầm tích khoảng 6km. Đới nâng
bao gồm cấu tạo Vừng Đông và dải nâng kéo dài về phía Đông Bắc.
Đới nâng phía Đông chạy dài theo hướng ĐB-TN, phía TB ngăn cách với
trũng ĐB bởi hệ thống đứt gãy có phương á vó tuyến và ĐB-TN, phía ĐN ngăn
cách với đới phân dò Đông Bắc bởi võng nhỏ, xem như phần kéo dài của trũng
Đông Bạch Hổ về phía Đông Bắc. Trên đới nâng đã phát hiện được các cấu tạo
dương như: rạng Đông, Phương Đông và Jade.
Đới phân dò Đông Bắc (phần đầu Đông Bắc của bể) nằm kẹp giữa đới
nâng Đông Phú Quý và sườn nghiêng Tây Bắc. Đây là khu vực có chiều dày
trầm tích trung bình và phân dò mạnh bởi các hệ thống đứt gãy có đường phương
ĐB-TN, á kinh tuyến và á vó tuyến tạo thành nhiều đòa hào, đòa lũy nhỏ (theo bề
mặt móng). Một số các cấu tạo dương đòa phương đã xác đònh như: Hồng Ngọc,
Pearl, Turquoise, Diamond, Agate.
Đới phân dò Tây Nam nằm về đầu Tây Nam của trũng chính. Khác với
đới phân dò ĐB, đới này bò phân dò mạnh bởi hệ thống những đứt gãy với đường
phương chủ yếu là á vó tuyến tạo thành những đòa hào, đòa lũy, hoặc bán đòa hào,
bán đòa lũy xen kẽ nhau. Những cấu tạo có quy mô lớn trong đới này phải kể
đến: Đu Đủ, Tam Đảo, Bà Đen và Ba Vì.
Các cấu tạo đòa phương bậc 4 là đối tượng tìm kiếm và thăm dò dầu khí
chính của bể.
SVTH: Nguyễn Khoa Vinh 22
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Thò Luận
1.5. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN ĐỊA CHẤT BỒN TRŨNG CỬU LONG
Bể trầm tích Cửu Long là bể rift nội lục điển hình. Bể được hình thành và
phát triển trên mặt đá kết tinh trước Kainozoic (thường được gọi là mặt móng).
Đặc điểm cấu trúc của bể thể hiện trên bản đồ cấu trúc mặt móng – CL80. Các
bản đồ cấu trúc mặt không chỉnh hợp trong Oligocence trên – CL52, nóc
Oligocene – CL50, Miocene dưới – CL40, có thể thấy rõ quá trình phát triển bể.
Thời kỳ trước tạo rift. Trước Đệ Tam, đặc biệt từ Jura muộn đến
Paleocene là thời gian thành tạo và nâng cao đá móng magma xâm nhập (các

Đ-T sang ĐB-TN vào cuối Oligocene. Các quá trình này đã gia tăng các hoạt
động tách giãn và đứt gãy ở bể Cửu Long trong Oligocene và nén ép vào cuối
Ologocene.
Do các hoạt động kiến tạo nêu trên, ở bể Cửu Long các đứt gãy chính
điển hình là các đứt gãy dạng gàu xúc, phương ĐB-TN cắm về ĐN, một số có
hướng Đ-T, nhiều bán đòa hào, đòa hào cùng hướng phát triển theo các đứt gãy
được hình thành. Các bán đòa hào, đòa hào này được lấp đầy nhanh chóng bằng
các trầm tích vụn thô, phun trào chủ yếu thành phần bazơ – trung tính và trầm
tích trước núi. Trong thời gian đầu tạo bể có lẽ do chuyển động sụt lún khối
tảng, phân dò nên tại các đới trũng khác nhau có thể có các thời kỳ gián đoạn,
bào mòn và trầm tích khác nhau. Do khu vực tích tụ trầm tích và cung cấp trầm
tích nằm kế cận nhau nên thành phần trầm tích ở các đới trũng khác nhau có thể
khác biệt nhau. Đặc điểm phát triển các bề mặt không chỉnh hợp ở thời kỳ này
mang tính đòa phương cao và cần được lưu ý khi tiến hành liên kết, đối sánh
thạch đòa tầng. Vào Oligocene sớm, bao quanh và nằm kề áp lên các khối nhô
móng kết tinh phổ biến là trầm tích lục đòa – sông ngòi và đầm hồ, với các tập
SVTH: Nguyễn Khoa Vinh 24
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Thò Luận
sét dày đến một vài chục mét (như trên cấu tạo Sư Tử Trắng và cánh Đông Bắc
mỏ Bạch Hổ).
Quá trình tách giãn tiếp tục phát triển làm cho bể lún chìm sâu, rộng hơn.
Các hồ, trũng trước núi trước đó được mở rộng, sâu dần, liên thông nhau và có
chế độ trầm tích khá đồng nhất. Các tầng trầm tích hồ dày, phân bố rộng được
xếp vào hệ tầng Trà Tân được thành tạo, mà chủ yếu là chất hữu cơ màu nâu,
nâu đen tới đen. Các hồ phát triển trong các đòa hào riêng biệt được liên thông
nhau, mở rộng dần và có hướng phát triển kép dài theo phương ĐB-TN, đây
cũng là phương phát triển ưu thế của hệ thống đứt gãy mở bể. Các trầm tích giàu
sét của tầng Trà Tân dưới có diện phân bố hẹp, thường vắng mặt ở phần rìa bể,
phần kề với các khối cao đòa lũy và có dạng nêm điển hình, chúng phát triển dọc
theo các đứt gãy với bề dày thay đổi nhanh. Các trầm tích giàu sét của tầng Trà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status