Tp chớ Khoa hc v Phỏt trin 2010: Tp 8, s 6: 959 - 968 TRNG I HC NễNG NGHIP H NI
ảNH HƯởNG CủA MùA Vụ ĐếN TIểU KHí HậU CHUồNG NUÔI
TạI MộT Số TRANG TRạI CHĂN NUÔI LợN ở HUYệN VĂN GIANG - TỉNH HƯNG YÊN
Evaluating the Impact of Different Seasons on the Air Quality Inside
Some Pig Farms in Van Giang District of Hung Yen Province
V ỡnh Tụn
1,2 1 2
, Lờ Hu Hiu v Nguyn Vn Duy
1
Khoa Chn nuụi & Nuụi trng thu sn - Trng i hc Nụng nghip H Ni
2
Trung tõm Nghiờn cu liờn ngnh PTNT - Trng i hc Nụng nghip H Ni
a ch email tỏc gi liờn h: [email protected]
TểM TT
Nghiờn cu c tin hnh trờn 3 trang tri chn nuụi ln huyn Vn Giang - tnh Hng Yờn
trong mựa ụng v mựa hố nhm ỏnh giỏ nh hng ca yu t mựa v n tiu khớ hu chung
nuụi, thụng qua mt s ch tiờu: nhit , m , tc giú, hm lng khớ CO
2
, H
2
S v NH
3
. C s
khoa hc ca nghiờn cu s giỳp ngi chn nuụi cú nhng nh hng trong vic thit k, xõy
dng chung tri cng nh chm súc nuụi dng ln phự hp c im ca tng mựa. Kt qu
cho thy, c mựa hố v mựa ụng, cỏc ch tiờu nhit v m khụng khớ trong chung nuụi
u nm trong gii hn cho phộp. Trong khi ú hm lng cỏc khớ CO
2
, H
2
S v NH
3
around the pig house. Results of this research provide farmers
with basic knowledge not only about designing and building pig cages but also rasing pigs suitably
with different seasons. The results showed that, in both summer and winter, the value of temperature
and humidity in pigsites was under permissible limits. Meanwhile, the concentration of CO
2
, H
2
S and
NH
3
were higher than permitted values. In summer, the the concentration of CO
2
, H
2
S, NH
3
was higher
than standard values (3.6 - 5.0; 2 - 26; 1.5 - 8 times respectively). In winter, the amount of these gases
were higher the standard values (4.6 - 12.5; 2 - 26; 8.5 - 13.5 times respectively). In winter, the air
quality was not good as that in summer with higher level poisonous gases (CO
2
: 1.2 to 1.5; H
2
S: 1.1 to
10; NH
3
: 1.1 to 6.3 times as compared with those in summer). Seasonal factor affected remarkably on
indoor climate of pig house.
Key words: Air quality, indoor climate, pig house, pig production, season.
nuôi lợn có mức độ ô nhiễm cao nhất. Mặt
khác, chất lợng tiểu khí hậu chuồng nuôi
cũng chịu sự tác động rất lớn bởi môi trờng
bên ngoi, đặc biệt trong điều kiện Văn
Giang cũng nh nhiều địa phơng khác của
miền Bắc Việt Nam đều có khí hậu nhiệt đới
gió mùa: mùa đông lạnh, mùa hè nóng ẩm.
Sự thay đổi hình thái thời tiết theo mùa sẽ
ảnh hởng tới môi trờng không khí bên
trong chuồng nuôi, vì vậy việc nghiên cứu
ảnh hởng của yếu tố mùa vụ tới chất lợng
môi trờng không khí trong chuồng nuôi có ý
nghĩa quan trọng trong việc thiết kế xây
dựng chuồng trại, hon thiện quy trình chăn
nuôi. Từ cơ sở thực tế ny, đề ti nghiên
cứu ảnh hởng của mùa vụ đến tiểu khí hậu
chuồng nuôi tại một số trang trại chăn nuôi
lợn ở huyện Văn Giang tỉnh Hng Yên đã
đợc thực hiện.
2. VậT LIệU NGHIÊN CứU
2.1. Vật liệu
Các mẫu không khí trong chuồng nuôi
của các trang trại chăn nuôi lợn ở huyện Văn
Giang tỉnh Hng Yên đợc lấy v phân tích
theo mùa đông v mùa hè.
2.2. Địa điểm v thời gian nghiên cứu
- Trang trại chăn nuôi lợn theo phơng
thức công nghiệp với hệ thống chuồng trại
đợc xây dựng theo kiểu chuồng hở:
+ Trang trại 1 của gia đình ông Đặng
(nghiên cứu ny không đề cập đến lợng
nớc tiểu của lợn).
- Xác định các thông số kỹ thuật liên
quan đến tiểu khí hậu chuồng nuôi lm trên
mùa đồng v mùa hè, tiến hnh 3
lần/mùa/trại. Với mỗi lần lấy mẫu, việc lấy
mẫu đều đợc thực hiện trong 3 ngy liên tục.
+ Xác định thông số về thiết kế chuồng
trại: hớng chuồng, độ cao mái, kiểu mái, độ
cao nóc
960
V ỡnh Tụn, Lờ Hu Hiu v Nguyn Vn Duy
+ Phơng pháp xác định nhiệt độ, ẩm
độ, tốc độ gió theo TCVN 5508-1991.
phát triển sản xuất các sản phẩm nông
nghiệp cung cấp cho thị trờng trong v
ngoi huyện, đặc biệt l khu vực thnh phố
H Nội. Những năm gần đây, nhờ có những
chính sách phát triển chăn nuôi của tỉnh
Hng Yên v đặc biệt l của huyện, chăn
nuôi lợn ở Văn Giang đã phát triển rất
nhanh cả về số lợng đn lợn v năng suất
chăn nuôi (Bảng 1).
+ Các chất khí CO
2
, H S v NH
2 3
trong
không khí chuồng nuôi đợc lấy mẫu v
nuôi ở quy mô vừa (có từ 20 - 50 lợn nái hoặc
100 - 300 lợn thịt) v 108 hộ chăn nuôi ở quy
mô nhỏ (có dới 20 lợn nái hoặc dới 100 lợn
thịt) (Phòng Nông nghiệp huyện Văn Giang,
2008). Nh vậy có thể thấy hoạt động chăn
nuôi lợn trang trại ở Văn Giang đã v đang
đóng vai trò chủ đạo v chủ yếu ở quy mô
chăn nuôi vừa.
- Mùa hè: lấy mẫu vo các tháng 6, 7 v
8. Mùa đông: lấy mẫu vo các tháng 11, 12
v tháng 1.
- Giá trị cho phép (GTCP) của nhiệt độ,
ẩm độ đợc xác định theo Lê Hồng Mận v
cs. (2003), GTCP của tốc độ gió, hm lợng
CO
, H S v NH
2 2 3
đợc xác định theo Đỗ Ngọc
Hoè (1994).
- Kết quả phân tích đợc xử lý bằng
phần mềm Excel 2003.
3. KếT QUả V THảO LUậN
3.1. Tình hình chăn nuôi lợn ở Văn Giang
Văn Giang l một huyện nằm ở phía Tây
Bắc tỉnh Hng Yên, phía Bắc v Tây Bắc
giáp với thnh phố H Nội phía Nam giáp
huyện Khoái Châu, huyện Văn Lâm, phía
Đông giáp huyện Yên Mỹ, phía Tây giáp tỉnh
H Tây cũ với tổng diện tích 71,79 km
2
lợng vừa phải với chuồng nuôi lợn thịt của
trại. Theo thông báo của các chủ trang trại,
lợn con sau khi cai sữa nuôi thêm một thời
gian ngắn, khoảng 20-25 ngy sau đó sẽ bán
cho các hộ chăn nuôi khác để nuôi thịt với
giá từ 850.000 900.000 đồng/con. Tuy trại 2
sản xuất ra một số lợng lợn con cai sữa rất
lớn nhng chỉ giữ lại một số lợng nhỏ để
nuôi thịt, phần còn lại l bán v điều ny đã
khiến cho sản lợng thịt lợn của trại chỉ đạt
mức trung bình 15 tấn/năm. Trong khi đó ở
trại 1, số lợn con cai sữa/năm l 350 con
nhng sản lợng thịt lại đạt tới 22 tấn/năm.
Trại 3 có số lợn con cai sữa sản xuất ra cha
bằng một nửa của trại 2 nhng sản lợng
thịt lợn sản xuất ra cũng đạt 14,3 tấn/năm,
sấp sỉ với trại 2 (15 tấn/năm). Với quy mô v
công suất chăn nuôi nh vậy sẽ có liên quan
trực tiếp đến lợng chất thải đợc tạo ra từ
các trang trại từ đó ảnh hởng đến chất
lợng không khí trong chuồng nuôi
3.3. Ước tính lợng chất thải tạo ra từ các
trang trại
Quy mô chăn nuôi v công suất chăn
nuôi sẽ quyết định lợng chất thải tạo ra.
Lợng chất thải rắn v chất thải lỏng hng
năm ở các trại đợc trình by ở bảng 3.
Bảng 2. Công suất chăn nuôi của các trang trại
Ch tiờu VT Tri 1 Tri 2 Tri 3
S ln con cai sa/nm Con 350 500 230
962
V ỡnh Tụn, Lờ Hu Hiu v Nguyn Vn Duy
Chất thải rắn đó l lợng phân thải ra
của lợn nái, lợn con cai sữa v lợn thịt, lợng
chất thải lỏng đợc đề cập chủ yếu l lợng
nớc rửa chuồng v nớc tắm cho lợn. Kết
quả ở bảng 3 cho thấy, lợng chất thải rắn
nhiều nhất l ở trại 1 với khoảng 38,79
tấn/năm, mặc dù tổng chất thải rắn tạo ra từ
chăn nuôi lợn nái chỉ l 5.562 kg/năm, thấp
hơn ở trại 2 (8.743 kg/năm). Điều ny có thể
giải thích l do ở trại 1, lợn con sau khi cai
sữa chủ yếu đợc giữ lại để nuôi thịt, trong
khi đó, trại 2 chỉ giữ lại một lợng lợn con
nhất định. Với số lợng lợn nuôi thịt nhiều
v máy bơm nớc có công suất lớn, mặt khác
trong những ngy hè nóng trại 1 có sử dụng
hệ thống phun nớc lên mái để lm mát cho
lợn thịt nên lợng nớc thải hng năm của
trại 1 l cao nhất với khoảng 4.110 m
3
đợc
tạo ra, các trại 2 v 3 lần lợt l 1.800 m
3
v
2.260 m
3
. ở cả 3 trại nuôi, lợng nớc thải
tạo ra từ chăn nuôi lợn thịt đều rất lớn, gấp
khoảng 2 lần lợng nớc thải tạo ra từ chăn
của các trại ở thời điểm lấy mẫu trong mùa
đông v mùa hè đợc trình by ở bảng 4.
Cơ cấu đn lợn của các trại thay đổi rất
rõ trong mùa hè v mùa đông, cụ thể, có 2
trong tổng số 3 trang trại có tổng đn lợn ở
mùa đông bị giảm so với trong mùa hè (trại 1
v trại 3). Giảm nhiều nhất l ở trại 1 từ 186
con (mùa hè) xuống còn 85 con trong mùa
đông, trong đó đn lợn nái giảm mất 9 con. ở
trại 3 tuy dịch bệnh cũng có xảy ra nhng
với với mức độ ít nghiêm trọng hơn. Nguyên
nhân của sự giảm số lợng đn lợn ở 2 trại
trên l do ở 2 trại ny đã xảy ra dịch bệnh
vo khoảng trớc thời điểm lấy mẫu trong
mùa đông đã gây thiệt hại nặng nề, đặc biệt
l ở trại 1. Đồng thời dịch bệnh cũng đã gây
chết một số lợng lớn lợn con sau khi cai sữa
v lợn thịt giai đoạn đầu (dới 30 kg). Đối
với với lợn nái bị bệnh khi điều trị một thời
gian không có dấu hiệu chuyển biến thì
trang trại đã loại thải. Trong khi đó ở trại 2,
tổng đn lợn của trại tăng từ 105 con (mùa
hè) lên 124 con (mùa đông) do đn nái đã
đợc bổ sung thêm 7 con (từ 32 con lợn nái
trong mùa hè lên 39 con trong mùa đông) v
ở trại không bị xảy ra dịch bệnh.
Bảng 4. Cơ cấu đn lợn của các trại trong mùa hè
(Đơn vị tính: con)
Mựa hố Mựa ụng
Tri
cầu kỹ thuật của chuồng nuôi lợn dựa theo
Phạm Sỹ Tiệp (2006), độ cao của nóc chuồng
lợn hợp lý l 4,0 - 4,5 m, độ cao từ nền chuồng
tới mái l 2,5 - 2,8 m. Tuy nhiên ở trại 2,
chuồng lợn thịt có chiều cao của mái trớc l
hơi thấp, chỉ đạt 1,8 m. Việc thiết kế xây dựng
chuồng trại chăn nuôi sẽ ảnh hởng đến chất
lợng môi trờng không khí trong chuồng
nuôi (Phùng Thị Vân v cs., 2003).
Các trang trại nghiên cứu đều chăn nuôi
theo mô hình khép kín, tức l nuôi lợn nái
sinh sản, lợn con v lợn thịt, tức l các hộ
đều tự túc trong việc cung cấp giống lợn nuôi
thịt. Ngoi ra, vo những thời điểm giá lợn
giống nuôi thịt cao hoặc có nhiều đn lợn con
cai sữa ở cùng một thời điểm v không có đủ
chuồng dnh cho lợn sau cai sữa thì các hộ sẽ
bán lợn cai sữa cho các hộ khác để nuôi thịt .
Kết quả khảo sát một số chỉ tiêu kỹ
thuật của chuồng nuôi (Bảng 5) cho thấy các
trang trại chăn nuôi đều đợc xây dựng rất
gần với khu nh ở v các công trình khác của
các hộ gia đình nh giếng, nh tắm, nh vệ
sinh đây chính l nguy cơ gây ô nhiễm
nguồn nớc sử dụng cho sinh hoạt của gia
đình v nguồn nớc cấp cho hoạt động chăn
nuôi, đồng thời, với khoảng cách gần nh vậy
cũng không đảm bảo thực hiện quy trình về
vệ sinh thú y trong trang trại chăn nuôi. ở
cả 3 trại nghiên cứu, chuồng nuôi đều đợc
V ỡnh Tụn, Lờ Hu Hiu v Nguyn Vn Duy
3.6. Chất lợng không khí chuồng nuôi
tại các trang trại trong mùa hè
Lại Thị Cúc v cs. (2007), nhiệt độ không khí
trong chuồng lợn thịt dao động trong khoảng
28,4 - 28,86
Môi trờng không khí trong chuồng nuôi
lợn phụ thuộc vo môi trờng của nền đại khí
hậu, việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong
chăn nuôi, mật độ nuôi, sự thoát nớc trong
chuồng v việc thu gom phân, phụ thuộc vo
mùa vụ trong năm (trích dẫn theo Sada,
2006). Ngoi ra, chất lợng không khí chuồng
nuôi cũng phụ thuộc vo phơng thức chăn
nuôi (phơng thức chăn nuôi truyền thống
hay phơng thức chăn nuôi cùng vo cùng ra)
(Phan Bùi Ngọc Thảo v cs., 2006) v kiểu
chuồng nuôi (Phùng Thị Vân v cs., 2003).
Bên cạnh đó, lợng chất thải (rắn v lỏng)
đợc tạo ra từ lợn thịt v lợn nái l khác
nhau, đồng thời với mỗi loại lợn, ngời chăn
nuôi lại có quy trình chăn nuôi v vệ sinh
chuồng trại khác nhau. Chính vì vậy, nghiên
cứu ny đã lấy mẫu độc lập để đánh giá ảnh
hởng của yếu tố mùa vụ đến môi trờng
không khí trong chuồng lợn nái v chuồng lợn
thịt. Một số chỉ tiêu đánh giá chất lợng môi
trờng không khí trong chuồng nuôi ở mùa hè
đều nằm trong giới hạn cho phép, tuy nhiên
ẩm độ trong chuồng lợn thịt có xu hớng
cao hơn ở trong chuồng lợn nái khi cả 3 trại
đều có ẩm độ ở chuồng lợn thịt l cao hơn.
Điều ny l do lợn thịt đợc nuôi trên nền
bê tông, chúng thải phân v nớc tiểu
không cố định trên nền chuồng nên thời gian
bơm nớc rửa chuồng v tắm cho lợn thịt
nhiều hơn so với lợn nái. Mặt khác, ở trại 1
v trại 3, chuồng lợn thịt có mái tơng đối
thấp, trong những ngy hè thời gian tắm v
rửa chuồng nhiều lm cho ẩm độ trong
chuồng lợn thịt của các trại ny cao hơn so
với trại 2 (đợc thể hiện thông qua lợng
nớc thải tạo ra hng năm từ lợn thịt của
trại 1 v trại 3 tơng ứng l 4111 v 2268 m
Các trại nghiên cứu đều có chuồng trại
đợc xây dựng theo kiểu thông thoáng tự
nhiên vì vậy các chỉ tiêu vật lý, hóa học
trong chuồng nuôi chịu ảnh hởng rất lớn
bởi nền đại khí hậu. Kết quả ở bảng 6 v
bảng 7 cho thấy trong mùa hè, chỉ tiêu về
nhiệt độ chuồng nuôi ở cả ô chuồng lợn thịt
v ô chuồng lợn nái đều không đáp ứng đợc
chỉ tiêu vệ sinh cho phép, nhiệt độ trong
chuồng lợn nái dao động từ 31,31- 32,46
0
C,
trong chuồng lợn thịt l 31,31 - 32,25
3
965
Nghiờn cu nh hng ca mựa v n tiu khớ hu chung nuụi ti mt s trang tri chn nuụi ln
Bảng 7. Một số chỉ tiêu chất lợng không khí chuồng lợn thịt trong mùa hè
Tri 1 Tri 2 Tri 3
GTCP
Ch tiờu VT
X
X
X
SE SE SE
0
Nhit C 32,25 0,57 31,16 1,09 31,79 1,22 14-22
m % 70,67 1,76 66,67 2,96 78,80 1,71 60-80
Vn tc giú m/s 0,26 0,02 0,17 0,02 0,37 0,05 0,3
CO
% 1,48 0,07 1,50 0,28 1,07 0,41 0,25-0,30
2
H
2
S mg/l 0,30 0,10 0,25 0,28 0,13 0,04 0,015
NH
mg/l 0,13 0,03 0,16 0,01 0,05 0,02 0,02
3
Chỉ tiêu tốc độ gió trong chuồng lợn nái
ở cả 3 trại đều đáp ứng yêu cầu về chỉ tiêu vệ
sinh, nằm trong khoảng 0,31 - 0,67 m/s.
Trong khi đó, ở chuồng nuôi lợn thịt có 2
chuồng lợn thịt cao gấp 3,6 - 5,0 lần , Lại Thị
Cúc v cs. (2007) cho biết, khí CO
2
trong
chuồng nuôi lợn thịt của một số nông hộ
thuộc Gia Lâm - H Nội có nồng độ trong
khoảng 0,25 - 0,29%; nồng độ CO
trong kết
quả nghiên cứu của Sada v cs. (2006) l
0,06 - 0,07% thấp hơn so với kết quả của
nghiên cứu ny. Hm lợng khí H
2
S ở
chuồng lợn nái dao động trong khoảng 0,03 -
0,39 mg/l, cao hơn GTCP từ 2 - 26 lần. Chỉ
tiêu ny tơng ứng ở chuồng lợn thịt l 0,13 -
0,30 mg/l, vợt GTCP từ 8,67 - 20 lần. Theo
Phùng Thị Vân v cs. (2006), hm lợng H
2
S
vợt quá GTCP 4,7 lần. Theo Lại Thị Cúc v
cs. (2007), hm lợng H
2
S vợt quá GTCP từ
19,16 - 22,72 lần. Khí NH
3
có hm lợng từ
0,03 - 0,15 mg/l ở chuồng lợn nái (gấp 1,5 -
7,5 lần GTCP) v từ 0,05 - 0,16 mg/l ở
chuồng lợn thịt (gấp 2,5 - 8 lần GTCP).
966
V ỡnh Tụn, Lờ Hu Hiu v Nguyn Vn Duy
Bảng 8. Một số chỉ tiêu chất lợng không khí chuồng lợn nái trong mùa đông
Tri 1 Tri 2 Tri 3
GTCP
Ch tiờu VT
X
X
X
SE SE SE
0
Nhit C 21,78 0,52 22,38 0,63 21,80 1,00 14-22
m % 76,50 0,76 76,67 0,88 65,50 3,50 60-80
Vn tc giú m/s 0,33 0,02 0,22 0,05 0,23 0,15 0,3
% 1,76 0,04 1,93 0,33 1,39 0,06 0,25-0,30
CO
2
H
2
S mg/l 0,35 0,04 0,44 0,05 0,30 0,13 0,015
mg/l 0,19 0,02 0,17 0,03 0,19 0,01 0,02
NH
3
Bảng 9. Một số chỉ tiêu chất lợng không khí chuồng lợn thịt trong mùa đông
Tri 1 Tri 2 Tri 3
Ch tiờu VT
GTCP
X
X
trong mùa hè. Hm lợng khí H
0
C, thấp hơn ở mùa hè từ 8,9 - 10,6
0
C;
trong chuồng lợn thịt l 20,84 - 23,21
2
S ở chuồng
lợn nái dao động trong khoảng 0,3 - 0,44
mg/l, cao gấp 20 - 29 lần GTCP, nếu so với
mùa hè, giá trị ny cao gấp 1,3 lần ở trại 2,
gấp 20 lần ở trại 3. ở trại 1, chỉ tiêu hm
lợng H
0
C, thấp
hơn mùa hè khoảng 8 - 11
0
C. Trại 1 v trại 2
có độ ẩm không khí trong chuồng nuôi ở mùa
đông đều cao hơn so với mùa hè, trong khi đó
so với mùa hè ẩm độ không khí trong chuồng
nuôi của trại 3 lại thấp hơn. Mức độ lu
thông của không khí trong chuồng nuôi ở
mùa đông kém hơn so với trong mùa hè v
đều không đáp ứng đợc chỉ tiêu vệ sinh. Tốc
độ gió ở chuồng lợn nái l 0,20 - 0,33 m/s,
thấp hơn 1,2 - 2,9 lần so với trong mùa hè;
chỉ tiêu ny ở chuồng lợn thịt l 0,10 - 0,20
m/s, thấp hơn 1,7 - 2,4 lần trong mùa hè.
Nồng độ khí CO
4. KếT LUậN
- Trong mùa hè, ở khu chuồng lợn nái,
chỉ tiêu ẩm độ tơng đối v tốc độ không khí
nằm trong giới hạn cho phép. Các chỉ tiêu
khác đều cao hơn tiêu chuẩn vệ sinh. Hm
lợng khí gây ô nhiễm đều vợt quá tiêu
chuẩn vệ sinh cho phép, hm lợng CO
Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng (2003). Thức ăn
v nuôi dỡng lợn. NXB. Nông nghiệp.
Lê Trung Cần (2008).
Bi giảng về thực
trạng chăn nuôi lợn ở Văn Giang trong lớp
tập huấn về khai thác v quản lý nguồn
ti nguyên thiên nhiên.
2
dao
động trong khoảng 1,12-1,50%; khí H
2
S:
0,03-0,39 mg/l; khí NH
3
: 0,03-0,15 mg/l. Khu
chuồng lợn thịt có độ thông thoáng kém hơn,
tốc độ gió dao động trong khoảng 0,17-0,37
m/s, hm lợng các khí gây ô nhiễm nh
CO
Ngọc Tiến (2003). ảnh
hởng của môi trờng
tới năng suất chăn nuôi lợn, Báo Nông
nghiệp số 123.
l 0,30-0,44 mg/l; NH
Phùng Đức Tiến, Nguyễn Duy Điều, Hong
Văn Lộc, Bạch Thị Thanh Dân, Nguyễn
Mạnh Hùng, Nguyễn Văn Kiên, Tăng Văn
Dơng (2009).
3
l 0,17-0,19 mg/l. Khu
chuồng lợn thịt có hm lợng các khí CO
2
,
H
2
S v NH
3
tơng ứng lần lợt l 1,57-
3,76%; 0,33-0,35 mg/l; 0,17-0,27 mg/l.
Đánh giá thực trạng ô
nhiễm môi trờng trong chăn nuôi, Tạp chí
Khoa học kỹ thuật Chăn nuôi, số 4, tr 10.
- Mùa đông có chất lợng tiểu khí hậu
chuồng nuôi kém hơn so với trong mùa hè.
Trong mùa đông hm lợng các khí độc gây ô
nhiễm đều cao hơn so với trong mùa hè (CO
Phùng Thị Vân, Phạm Sỹ Tiệp, Nguyễn Văn
Lục, Nguyễn Giang Phúc, Trịnh Quang
Tuyên (2006). Xây dựng mô hình chăn
nuôi lợn trong nông hộ nhằm giảm thiểu ô
nhiễm môi trờng v nâng cao năng suất
chăn nuôi. Tạp chí Nông nghiệp v Phát
triển nông thôn, số 14, tr 30-33.