Báo cáo khoa học
XÁC ĐỊNH MỨC Bổ SUNG URÊ THíCH HỢP
TRONG KHẨU PHẦN ĂN CỦA BÒ THịT Có SỬ
DỤNG BÃ DỨA Ủ CHUA
Tạp chí KHKT Nông nghiệp 2007: Tập V, Số 4: 17-21 Đại học Nông nghiệp I
XáC ĐịNH MứC Bổ SUNG URÊ THíCH HợP TRONG KHẩU PHầN ĂN CủA Bò THịT
Có Sử DụNG Bã DứA ủ CHUA
Determination of suitable levels of urea to be suplemented in beef cattle diets
with pineapple pulp silage
Nguyễn Bá Mùi
*
, Nguyễn Ngọc Đức
**
SUMMARY
An experiment was conducted to determine suitable levels of urea to be supplemented in
beef cattle diets with pineapple pulp silage. A total of 20 growing Brahman cattle of 131 kg BW
on the average were randomly allotted to one of four groups. The control diet (group 1) was
formulated replacing 40% elephant grass with pineapple pulp silage. In the other diets, 1%, 2%,
and 3% urea were supplemented respectively for group 2, group 3 and group 4. In addition,
each cattle in all groups was given 1 kg concentrate and free access to drinking water. Results
showed that supplementing urea in the diets with pineapple pulps resulted in better dry matter
intake compared to the control. Supplementing 1%, 2%, 3% urea to the control diet increased
daily weight gain from 60 to 162 gram/head/day (P<0.05). Feed cost per kg of weight gain of the
diets supplemented with urea was from 714 to 1728 VND lower than that of the control.
lợng đờng dễ tan cao. Phụ phẩm dứa ủ chua
đã đợc sử dụng làm thức ăn cho bò thịt, bã
dứa ủ chua đợc bổ sung cho bò sữa (Nguyễn
Bá Mùi, 2002). Nhợc điểm của loại phụ phẩm
này là hàm lợng xơ cao, nhng hàm lợng
protein lại thấp. Kết quả nghiên cứu của
Nguyễn Bá Mùi (2005) cho thấy khi thay thế
40% cỏ xanh của khẩu phần bằng bã dứa ủ
chua (tính theo VCK) đợc bổ sung 1,5% urê
(tính theo VCK của bã dứa) đã làm cho bò tăng
trọng cao hơn lô thay thế 40% cỏ xanh bằng bã
dứa ủ chua không bổ sung urê là 130
g/con/ngày (552 so với 422 g/con/ngày). Vì
vậy, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu xác
định mức bổ sung urê thích hợp trong khẩu
phần ăn của bò thịt có sử dụng bã dứa ủ chua.
**
Khoa Chăn
nuôi & Nuôi trồng thuỷ sản, Đại học Nông nghiệp I Hà Nội,
**
Phòng Nông nghiệp, Mỹ Đức - Hà Tây
17
Nguyễn Bá Mùi, Nguyễn Ngọc Đức
2. VậT LIệU Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN
CứU
Thí nghiệm đợc tiến hành theo phơng
pháp phân lô so sánh trong vụ thu-đông. Tổng
số 20 bò cái tơ giống Brahman, cùng lứa tuổi đã
Khẩu phần cơ sở
và bổ sung 3% urê
(tính theo VCK của
bã dứa ủ)
Số lợng bò (con) 5 5 5 5
Khối lợng bò (kg)
131,6 2,41 130,4 2,21 130,8 2,42 132,2 2,44
Tuổi bò (tháng) 8-9 8-9 8-9 8-9
Thời gian chuẩn bị (ngày) 10 10 10 10
Thời gian TN (ngày) 60 60 60 60
Bảng 2. Cấu trúc khẩu phần thí nghiệm
Lô 1 Lô 2 Lô 3 Lô 4
Yếu tố thí nghiệm
Khẩu phần cơ sở
(thay thế 40% cỏ
voi tơi (tính theo
VCK) bằng bã dứa
ủ chua)
Khẩu phần cơ sở và
bổ sung 1% urê
(tính theo VCK của
bã dứa ủ)
Khẩu phần cơ sở và
bổ sung 2% urê
(tính theo VCK của
bã dứa ủ)
Khẩu phần cơ sở
và bổ sung 3% urê
(tính theo VCK của
bã dứa ủ)
18
Xác định mức bổ sung urê thích hợp trong khẩu phần ăn của bò thịt
lợng của bò, tiêu tốn thức cho 1 kg tăng trọng,
chi phí thức ăn cho 1 kg tăng trọng.
Số liệu thí nghiệm đợc phân tích phơng
sai trên phần mềm của chơng trình SAS. 8
(2000). Phơng pháp LSD đợc dùng để kiểm
tra sự khác nhau giữa các giá trị trung bình
giữa các lô.
3. KếT QUả Và THảO LUậN
3.1. Khối lợng vật chất khô và protein thô
thu nhận của bò
Kết quả thí nghiệm theo dõi lợng thức ăn
thu nhận của đàn bò đã cho thấy lợng VCK
thu nhận của bò ở lô 1 là thấp nhất (4,02
kg/con/ngày) và cao nhất ở lô 4 (4,85
kg/con/ngày) (P<0,05). Các lô bổ sung 1% urê
(lô 2), 2% urê (lô 3) và 3% urê (lô 4) đều có
lợng VCK thu nhận cao hơn lô đối chứng.
Lợng VCK thu nhận/100 kg thể trọng ở lô 1
là thấp nhất (2,77 kg) và cao nhất ở lô 4 (3,23
kg)(P<0,05). Lợng protein thô thu nhận của
bò thấp nhất ở lô 1 (không bổ sung urê) là 349
g/con/ngày và cao nhất ở lô 4 (bổ sung 3% urê)
là 550 g/con/ngày (p<0,05) (Bảng 3).
Theo Chemost và Kayouli (1997) cho biết
khi hàm lợng protein thô trong khẩu phần ăn
thấp, thì hệ vi sinh vật dạ cỏ tăng sinh khối
chậm và hoạt động kém hiệu quả. Do vậy, cho
bò ăn khẩu phần có bã dứa ủ chua và bổ sung
(tính theo VCK của
bã dứa ủ)
VCK (kg/con)
4,02
c
0,12 4,29
bc
0,14 4,50
b
0,16 4,85
a
0,13
VCK (kg/100 kg P) 2,77
c
2,95
bc
3,06
b
3,23
a
Protein thô (g/con)
349
d
3,2 410
c
2,8 470
b
3,1 550
a
3,4
các lô bổ sung urê cao hơn lô không đợc bổ
sung urê. Nhận định này cũng phù hợp với
nghiên cứu của Nguyễn Xuân Trạch và cs
(2002) đã chứng minh rằng việc kiềm hoá rơm
19
Nguyễn Bá Mùi, Nguyễn Ngọc Đức
bằng urê đã làm tăng hàm lợng protein thô
trong rơm và tăng khả năng phân giải ở dạ cỏ.
Nhờ tác dụng kiềm hoá và bổ sung nitơ đã làm
tăng tốc độ, tỷ lệ phân giải của rơm bởi vi sinh
vật trong dạ cỏ, đồng thời cũng làm tăng quá
trình tổng hợp protein của vi sinh vật. Khi bổ
sung 1,5% urê (theo VCK của bã dứa) cho thấy
tăng trọng của đàn bò cao hơn lô không bổ
sung là 130 g/con/ngày (Nguyễn Bá Mùi,
2005). Nh vậy, khi bổ sung 3% urê cho kết
quả tăng trọng cao hơn khi bổ sung 1,5% urê.
Theo Nguyễn Xuân Trạch và Bùi Quang Tuấn
(2006) tăng trọng của bò ăn rơm khô ủ với 4%
urê cao hơn bò ăn rơm khô không xử lý là 128,3
g/con/ngày (337,7 so với 209,3 g/con/ngày).
Theo Vũ Văn Nội và cộng sự (1999) sử dụng
tảng urê-rỉ mật cho bò F1 hớng thịt cho thấy
tăng trọng bình quân 386 - 492 g/con/ngày,
vợt 60% so với chăn nuôi quảng canh. Kết
quả cho thấy bò ăn bã dứa ủ chua và cỏ voi có
bổ sung 3% urê tăng trọng cao hơn lô không bổ
sung là 162 g/con/ngày. Nh vậy sự chênh lệch
giữa thí nghiệm và đối chứng cao hơn các kết
Số lợng bò (con) 5 5 5 5
Khối lợng bò trớc TN (kg)
131,6 2,41 130,4 2,21 130,8 2,42 132,2 2,44
Khối lợng bò sau TN (kg)
158,2 2,68 160,6 3,24 163,9 3,42 168,5 3,18
Tăng trọng kỳ (kg/con)
26,60
c
1,26 30,20
b
1,67 33,10
ab
1,68 36,30
a
1,69
Tăng trọng ngày (g/con)
443
c
21 503
b
28 552
ab
28 605
a
28
Tiêu tốn thức ăn :
+ VCK (kg/kg tăng trọng)
9,07
a
0,13 8,53
(P<0,05). Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng
của bò ở các lô bổ sung urê ở các lô: 1% (lô 2)
và 2% (lô 3), 3% (lô 4) và 2% (lô 3) có sự khác
nhau không có ý nghĩa thống kê (P>0,05). Với
các lô bổ sung urê đã làm giảm tiêu tốn VCK
trên 1 kg tăng trọng so với đối chứng từ 0,48 -
0,99 kg. Bò ăn các khẩu phần có bổ sung urê,
lợng protein thô thu nhận hàng ngày của bò
đợc tăng lên, làm tăng quá trình tổng hợp
protein của vi sinh vật dạ cỏ, tăng trọng hàng
ngày cao hơn và giảm tiêu tốn thức ăn trên kg
tăng trọng (Bảng 4).
- Chi phí thức ăn cho 1 kg tăng trọng
Chi phí thức ăn cho 1 kg tăng trọng ở lô1
(60% cỏ voi và 40% bã dứa ủ chua) là cao nhất
(12.771 đồng) và thấp nhất ở lô 4 (bổ sung 3%
urê) là 11.043 đồng (P<0,05). Nh vậy, chi phí
thức ăn cho 1 kg tăng trọng của bò ở các lô có
bổ sung urê thấp hơn từ 714 đến 1728 đồng so
với lô không bổ sung urê, hơn nữa việc sử dụng
bã dứa ủ chua để thay thế một phần thức ăn
xanh và bổ sung urê không những làm giảm
chi phí thức ăn trên 1 kg tăng trọng mà còn
khắc phục đợc tình trạng khan hiếm thức ăn
thô xanh trong vụ đông.
20
Xác định mức bổ sung urê thích hợp trong khẩu phần ăn của bò thịt
4. KếT LUậN
Việc bổ sung urê đã làm tăng lợng thức
Nội 9-10 tháng 1/2001, tr. 31- 41.
Nguyễn Bá Mùi (2002). Nghiên cứu phụ phẩm
dứa ủ chua làm thức ăn gia súc, Luận
văn tiến sỹ nông nghiệp, tr. 81-118.
Nguyến Bá Mùi (2005). ảnh hởng của việc
bổ sung urê trong khẩu phần nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng bã dứa ủ chua đến
khả năng sản xuất của đàn bò thịt.Tạp
chí Nông nghiệp & Phát triển nông thôn,
NXB LĐXH, tr. 44-45.
Vũ Văn Nội, Nguyễn Văn Vinh, Phạm Kim
Cơng, Đinh Văn Tuyền (1999).
Nghiên cứu sử dụng các nguồn thức ăn
sẵn có để nâng cao khả năng sản xuất
thịt và hiệu quả kinh tế, Báo cáo khoa
học kỹ thuật chăn nuôi thú y (1998 -
1999), Nhà xuất bản Nông nghiệp, tr. 23-
30.
Bùi Quang Tuấn, Nguyễn Văn Hải (2004).
Nghiên cứu sử dụng thân cây chuối lá
làm thức ăn cho bê sữa lai sinh trởng
trong vụ đông, Tạp chí khoa học kỹ
thuật nông nghiệp, Trờng đại học Nông
nghiệp I, Tập II số 1/2004, tr. 52-55.
Nguyễn Xuân Trạch, Mai Thị Thơm, Nguyễn
Hùng Sơn (2006). ảnh hởng của ủ
chua và kiềm hoá rơm lúa tơi đế khả
năng phân giải in-sacco của rơm, Tạp
chí Khoa học kỹ thuật nông nghiệp,
Trờng đại học Nông nghiệp I, Tập IV
Worshop on Improved utilization of
byproducts for animal feeding in
Vietnam, held on 28-30 March 2001 in
Hanoi, pp. 178-204.
21
22