Website:
http://www.docs.vn
Email :
[email protected]
Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự tăng trưởng và
phát triển của nền kinh tế. Nền kinh tế của một quốc gia nói chung và của một địa
phương nói riêng sẽ không thể phát triển được nếu không được đảm bảo các điều
kiện về nguồn nhân lực cũng như về cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Hiện nay, hầu hết các
quốc gia trên thế giới đều coi việc quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật là
vấn đề thuộc hàng ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Đại hội lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ, một trong những nội
dung quan trọng của chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thời gian
tới là: "Xây dựng đồng bộ và từng bước hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng; giao
thông điện lực, thông tin, thủy lợi, cấp nước, thoát nước ... Phát triển mạng lưới đô
thị phân bố hợp lý trên các vùng, hiện đại hóa dần các thành phố lớn"[37. Trang
94].
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của đất nước, nền kinh tế của
Tỉnh Nghệ An nói chung và Thị xã Cửa Lò nói riêng đang phát triển lớn mạnh thể
hiện đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, thể hiện sự quan tâm chỉ đạo lãnh
đạo đúng đắn của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, đồng thời thể hiện sức mạnh trí tuệ và vật
chất của Đảng bộ và nhân dân Thị xã, sự chỉ đạo, điều hành của UBND phối hợp
với các đoàn thể quần chúng ở các cấp có những tiến bộ mới trong việc đưa nghị
quyết của Đảng vào cuộc sống.
Chủ trương của tỉnh Nghệ An và Thị uỷ, HĐND, UBND Thị xã là phải tập trung
xây dựng cơ sở hạ tầng để đáp ứng nhu cầu phát triển của một đô thị du lịch, nghỉ
mát và công nghiệp cảng, đánh bắt chế biến hải sản, đưa Thị xã Cửa Lò trở thành
một điểm du lịch nghỉ mát lý tưởng được cả nước. Tuy nhiên, cho đến nay cơ sở hạ
1
Website:
http://www.docs.vn
Email :
[email protected]
Tel : 0918.775.368
Về thời gian: Luận văn chủ yếu tập trung vào giai đoạn từ 1995 trở lại đây,
đặc biệt là từ năm 2000 đến nay. Kiến nghị và giải pháp của luận văn chủ yếu áp
dụng cho việc phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật của thị xã giai đoạn 2004 – 2010 và
định hướng đến năm 2020.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, kết
hợp phân tích với tổng hợp, kết hợp quy nạp với diễn dịch và phương pháp thống
kê, biểu bảng v.v.. để làm rõ vai trò nhà nước trong phát triển cơ sở hạ tầng kỹ
thuật tại Thị xã Cửa Lò.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết
cấu làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị và những vấn đề lý luận về vai trò của
nhà nước trong phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị.
Chương 2: Thực trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và quản lý nhà nước trong phát
triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Thị xã du lịch Cửa lò
Chương 3: Quan điểm cơ bản và các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường vai
trò của nhà nước trong phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho Thị xã du lịch Cửa Lò.
3
Website:
http://www.docs.vn
Email :
[email protected]
Tel : 0918.775.368
Chương 1
cư đô thị. Nó chính là tiêu chuẩn để phân biệt đô thị với nông thôn.
Phân loại cơ sở hạ tầng đô thị:
Dựa trên những tiêu chí khác nhau, có thể phân chia CSHTĐT thành nhiều
loại khác nhau.
- Theo tính chất ngành cơ bản có thể phân ra:
o Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị
o Cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội đô thị
o Cơ sở hạ tầng dịch vụ xã hội đô thị.
- Theo tính phục vụ có thể phân ra:
o Cơ sở hạ tầng đô thị phục vụ sản xuất vật chất
o Cơ sở hạ tầng đô thị phục vụ về nhu cầu văn hoá tinh thần
- Theo trình độ phát triển có thể phân ra:
o Cơ sở hạ tầng đô thị phát triển cao
o Cơ sở hạ tầng đô thị phát triển trung bình
o Cơ sở hạ tầng đô thị phát triển thấp
- Theo quy mô đô thị có thể phân ra:
o Cơ sở hạ tầng siêu đô thị
o Cơ sở hạ tầng đô thị lớn
o Cơ sở hạ tầng đô thị trung bình
5
Website:
http://www.docs.vn
Email :
[email protected]
Tel : 0918.775.368
o Cơ sở hạ tầng đô thị nhỏ
Tuy vậy, trong số các tiêu chí được đưa ra để phân loại như trên, cách phân
loại căn cứ vào tính chất ngành là thông dụng nhất và có ý nghĩa nhiều nhất đối
với công tác quy hoạch và phát triển đô thị. Vì vậy cần đi sâu vào tiêu chí phân
loại này
hoá, văn nghệ, thể dục thể thao.
1.1.2. Đặc điểm của cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị nói chung và đô thị du lịch
nói riêng.
Với tư cách là một phạm trù thuộc về cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng
kỹ thuật là những cơ sở vật chất có mối quan hệ với nhau theo cấu trúc nhất định.
Nó có những dặc điểm chủ yếu như sau:
- Trước hết, cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị là một loại hàng hoá công cộng, nó
được sử dụng chung, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho một quốc gia, hoặc một
tỉnh, thành phố, một huyện, một xã.
- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị mang tính hệ thống và đồng bộ, bởi lẽ, nếu
thiếu hệ thống và đồng bộ, hiệu quả sử dụng của cơ sở hạ tầng kỹ thuật sẽ không
cao, nếu như không nói là không hiệu quả.
- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị mang đặc tính vùng và lãnh thổ. Việc xây
dựng và phát triển cơ sở hạ tầng phải xem xét tới các yếu tố địa lý, địa hình và sự
phát triển kinh tế- xã hội, sao cho hình thành, quy mô xây dựng phù hợp với phong
tục tập quán văn hoá, kiến trúc của cộng đồng dân cư trong vùng. Cơ sở hạ tầng
vừa phản ánh yếu tố kinh tế kỹ thuật, vừa phản ánh kiến trúc văn hoá địa phương.
Như vậy việc xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị phải thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh
thần của con người tạo ra tâm lý yêu lao động và yêu quê hương mình.
7
Website:
http://www.docs.vn
Email :
[email protected]
Tel : 0918.775.368
- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị có tính thích ứng trong một khoảng thời gian
dài, vì vậy phải có chiến lược phát triển cơ sở hạ tầng thích hợp ngay từ đầu. Nghĩa
là cơ sở hạ tầng không những đáp ứng được nhu cầu hiện tại mà cả trong tương lai.
Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị phải được xem xét trong mối quan hệ biện
chứng với các ngành khác và tổng thể kinh tế xã hội trong khu vực mà nó phục vụ.
Hơn thế nữa, cơ sở hạ tầng đô thị còn phản ánh trình độ phát triển cơ sở vật
chất kỹ thuật của nền kinh tế. Sở dĩ như thế vì đô thị là trung tâm kinh tế, chính trị,
văn hoá của một nước, một vùng lãnh thổ, một tỉnh, một huyện, có vai trò chủ đạo
trong sự phát triển. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị luôn được ưu tiên
phát triển. Điều đó làm cho cơ sở vật chất kỹ thuật của các đô thị thường ở trình độ
cao hơn so với các vùng nông thôn.
Sự phát triển các ngành của cơ sở hạ tầng đô thị có ảnh hưởng trực tiếp đến sự
phát triển của nền sản xuất xã hội, dịch vụ xã hội và việc nâng cao hiệu quả của nó.
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, xu hướng đô thị hoá diến ra mạnh
mẽ thì vai trò của cơ sở hạ tầng đô thị không ngừng tăng lên. Nó trở thành một
trong những nhân tố quyết định cho sự hoạt động, vận hành của một đô thị .
Hiện nay, để đáp ứng các nhu cầu về hội nhập và giao lưu quốc tế, các hình
thức mới về giao thông vận tải và thông tin liên lạc xuất hiện và phát triển không
những trong khuôn khổ từng nước, mà còn trên phạm vi quốc tế. Do đó, hình thành
cơ sở hạ tầng vật chất của sự hợp tác quốc tế mới, đó là toàn bộ các bộ phận của
các hệ thống giao thông vận tải và thông tin liên lạc trong nước và nước ngoài,
nhằm phục vụ cho hệ thống kinh tế đối ngoại, cũng như các công trình và đối tượng
phối hợp với nhau, đảm bảo cho việc bảo vệ môi trường xung quanh, sử dụng hợp
lý các nguồn nước và các nguồn tài nguyên khác, đảm bảo thông tin liên lạc của
các cơ quan khí tượng thuỷ văn, quản lý Nhà nước, các cơ quan phục vụ xã hội và
an ninh quốc phòng, nhằm mục đích phát triển dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng văn minh.
9
Website:
http://www.docs.vn
Email :
[email protected]
Tel : 0918.775.368
Đối với các đô thị du lịch, muốn thu hút được nhiều khách tham quan cần
thiết phải có một hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ và ngày càng văn minh, hiện đại.
thực hiện một nhiệm vụ không nằm trong dự kiến, là đáp ứng lợi ích xã hội và đôi
khi, họ còn đáp ứng lợi ích xã hội tốt hơn, ngay cả khi họ có ý định làm điều đó.
"Bàn tay vô hình" đó chính là các quy luật kinh tế khách quan tự phát hoạt động,
chi phối hành động của con người. ông gọi hệ thống các quy luật kinh tế khách
quan đó là "trật tự tự nhiên". Ông chỉ ra các điều kiện cần thiết để cho các quy luật
kinh tế khách quan hoạt động là: phải có sự tồn tại và phát triển của sản xuất và
trao đổi hàng hoá, nền kinh tế phải phát triển trên cơ sở tự do kinh tế, tự do mậu
dịch.
Mặc dù đánh giá rất cao vai trò của "Bàn tay vô hình", của tự do kinh tế song
ông cũng không hoàn toàn phủ nhận vai trò của nhà nước. Đoạn trích dưới đây thể
hiện rõ quan điểm của A.Smith về vai trò của nhà nước trong việc cung cấp các
hàng hóa công cộng.
"Căn cứ theo hệ thống tự nhiên, Nhà nước chỉ có ba nhiệm vụ phải chăm lo,
ba nhiệm vụ này thực sự hết sức quan trọng, nhưng thật rõ ràng và dễ hiểu đối với
nhận thức phổ thông: thứ nhất, nhiệm vụ bảo vệ xã hội thoát khỏi bạo lực và sự
xâm lược của các xã hội độc lập khác; thứ hai, nhiệm vụ bảo vệ mọi thành viên
trong xã hội thoát khỏi sự bất công, hay nhiệm vụ thiết lập sự thi hành công lý
chính xác; và thứ ba, nhiệm vụ xây dựng và duy trì những công việc công cộng
nhất định và những định chế công cộng nhất định mà không bao giờ được xây dựng
và duy trì vì lợi ích của một cá nhân hay của một số ít cá nhân bất kỳ, bởi vì đối với
một cá nhân, hay một số ít cá nhân nào đó, lợi nhuận không bao giờ có thể bồi hoàn
được cho các chi phí, nhưng đối với toàn thể xã hội thì lợi ích đó thường có giá trị
lớn lao hơn nhiều so với chi phí."
Như vậy, theo A.Smith, trong điều kiện kinh doanh bình thường có thể để
cho "Bàn tay vô hình" hay các quy luật khách quan tự phát chi phối, song đối với
"các công việc công cộng" hay "Những định chế công cộng" mà bây giờ kinh tế
11
Website:
http://www.docs.vn
Email :
Email :
[email protected]
Tel : 0918.775.368
Thứ hai, về tính không tranh giành: hàng hóa cá nhân là những hàng hóa tranh
giành, tức là việc tiêu dùng của người này sẽ loại trừ việc tiêu dùng của người kia.
Vì vậy chi phí tiêu dùng cận biên cao. Tuy nhiên, những hàng hóa công cộng lại có
chi phí tiêu dùng cận biên rất thấp, hoặc bằng 0. Người ta không thể trông mong thị
trường, hay thông qua hệ thống giá để phân bổ những mặt hàng có tính không tranh
giành trong việc tiêu dùng. Nếu để cho thị trường vận hành, số lượng hàng hóa
công cộng sẽ ít hơn số lượng tối ưu. Do tình trạng khó thu phí hoặc do không muốn
tính chi phí cho việc sử dụng hàng hóa công cộng nên nhà nước dùng ngân sách để
tài trợ cho việc cung cấp hàng hóa công cộng.
1.2.2. Sự cần thiết phải tăng cường vai trò quản lý của nhà nước trong phát
triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị .
1.2.2.1. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị thuộc loại hàng hóa công cộng nên nó
nằm trong danh mục sản xuất và quản lý của Nhà nước.
Do đặc điểm kinh tế kỹ thuật của nó, đầu tư vào cơ sở hạ tầng của nền kinh
tế như đường sá giao thông, cầu cống, các công trình văn hoá như tượng đài, công
viên... đòi hỏi lượng vốn đầu tư rất lớn, thời gian thu hồi vốn lâu, hiệu quả vốn đầu
tư thường thấp, do đó các nhà kinh doanh tư nhân không thích đầu tư vào sản xuất
loại hàng hoá này.
Song trên phương diện quốc gia, để phát triển kinh tế, khai thác tài nguyên,
mở mang dân trí,... nếu không có hệ thống đường sá, cầu cống thuận lợi, giao thông
đi lại khó khăn, kinh tế văn hoá giữa các vùng của đất nước không thể được giao
lưu; các vùng núi, vùng sâu, vùng xa không thể được khai phá và phát triển; kinh tế
của một quốc gia khó có điều kiện giao thương và hội nhập được với quốc tế.
Đối với các đô thị, các công trình này càng có ý nghĩa quan trọng. Nó thể
hiện cho bộ mặt của thành phố. Sự phát triển càng cao của nền đô thị thể hiện trước
hết ở hệ thống cơ sở hạ tầng: đường sá được quy hoạch và hiện đại; hệ thống giao
13
thị. Bởi lẽ để cho tự do xây dựng, không theo một quy hoạch kế hoạch, một sự tính
14
Website:
http://www.docs.vn
Email :
[email protected]
Tel : 0918.775.368
toán chung thống nhất từ trước, sẽ không thể có một đô thị hiện đại. Kinh nghiệm
các nước đã chỉ rõ điều này. Hầu hết các đô thị lớn đều phải được xây dựng theo
một quy hoạch, kế hoạch dự tính chung. Người đảm nhận việc quy hoạch này chỉ
có thể là nhà nước.
1.2.2.3. Yêu cầu bảo vệ các nguồn tài nguyên và cảnh quan, môi trường của đô
thị du lịch đòi hỏi phải có sự tham gia của Nhà nước trong xây dựng và quản lý cơ
sở hạ tầng kỹ thuật.
Chúng ta biết rằng, quá trình phát triển chính là quá trình sử dụng tài nguyên
và nguồn lực xã hội. Nếu việc sử dụng tài nguyên và nguồn lực không được kiểm
soát chặt chẽ sẽ gây những tác hại môi trường, làm suy giảm nguồn tài nguyên, môi
trường ô nhiễm.
Đối với các đô thị du lịch điều này càng rõ. Nếu không có sự kiểm soát của
một lực lượng nhân danh xã hội, việc sử dụng bừa bãi nguồn tài nguyên sẽ dẫn đến
tình trạng suy thoái môi trường đô thị. Để khắc phục tình trạng này, đòi hỏi nhà
nước phải có sự can thiệp, thông các các quy định, hạn chế có tính chất bắt buộc
mọi người sử dụng nguồn lực phải tuân thủ.
Như vậy, việc quản lý và phát triển cơ sở hạ tầng đô thị một cách khoa học
và hợp lý có một ý nghĩa đảm bảo quan trọng cho sự phát triển đô thị. Vì cơ sở hạ
tầng là nền tảng đảm bảo sự phát triển bền vững của cả một hệ thống đô thị quốc
gia nói riêng và sự phát triển bền vững của một quốc gia nói chung. Một quốc gia
giàu mạnh, hiện đại và văn minh phải có một cơ sở hạ tầng đô thị vững mạnh, tiện
lợi, hiện đại và đầy đủ. Do đặc điểm của việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, do
yêu cầu của quá trình xây dựng và sử dụng cơ sở hạ tầng đô thị, đòi hỏi phải tăng
Thứ nhất, tuân thủ theo quy hoạch, kế hoạch xây dựng CSHT.
Việc xây dựng CSHTKTĐT phải được thực hiện đúng nguyên tắc, đúng quy
hoạch, kế hoạch quản lý đô thị. Tuân thủ nghiêm ngặt quy hoạch xây dựng và phát
triển đô thị, các điều luật quy định có liên quan.
16
Website:
http://www.docs.vn
Email :
[email protected]
Tel : 0918.775.368
Tiến hành lập hồ sơ và lưu trỡ hồ sơ sau khi hoàn thành xây dựng mới, xây
dựng lại, sửa chữa lớn, cải tạo hiện đại hoá công trình CSHT.
Thứ hai, thực hiện các dịch vụ công cộng.
Nhà nước tiến hành hợp đồng cung cấp các dịch vụ công cộng (điện nước
thông tin, dịch vụ...) với các đối tượng cần sử dụng và hướng dẫn họ thực hiện
đúng các quy định về hành chính cũng như các quy định về kỹ thuật, phát hiện và
sử lý các vi phạm về chế độ sử dụng và khai thác các công trình CSHTĐT
Thứ ba, tuân thủ các quy định trong sửa chữa, nâng cấp.
Trong việc cải tạo sửa chữa các công trình CSHTKTĐT phải có giấy phép của
các cơ quan chức năng có thẩm quyền và được sự đồng ý của cơ quan quản lý các
công trình CSHTKTĐT.
Thứ tư, quản lý đúng quy định và có hiệu quả CSHTKTĐT.
Đảm bảo việc thực hiện nghiêm túc chế độ sử dụng, giữ gìn, bảo vệ và khai
thác các công trình CSHTKTĐT hiện có.
Phát hiện các hư hỏng, sự cố kỹ thuật và có các biện pháp sửa chữa kịp thời,
thực hiện chế độ duy tu, bảo dưỡng cải tạo nâng cấp để duy trì chức năng sử dụng
các công trình CSHTKTĐT theo đúng định kỳ.
Thứ năm, xử lý vi phạm.
Đối với các chủ sử dụng các công trình CSHTĐT phải chấp hành nghiêm
chỉnh các quy định và sự hướng dẫn của các cơ quan quản lý đô thị. Nếu xảy ra vi
Các công trình cấp nước gồm nguồn nước, các công trình khai thác nguồn
nước, hệ thống phân phối nước. Trong đó việc quản lý nguồn nước phải dựa vào
Luật Bảo vệ Tài nguyên nước. Việc khai thác sử dụng các công trình cấp nước
được quản lý theo quy phạm kỹ thuật chuyên ngành và các quy định của cơ quan
quản lý nước sạch.
18
Website:
http://www.docs.vn
Email :
[email protected]
Tel : 0918.775.368
Các công trình thoat nước gồm cống, rãnh, cửa xả, kênh, mương, ao hồ, sông
đập, trạm bơm và trạm xử lý nước thải. UBND thành phố, thị xã, thị trấn giao cho
cơ quan chuyên trách quản lý việc sử dụng và khai thác các công trình thoát nước.
Nước xả vào mạng lưới thoát nước đô thị phải đảm bảo các yêu cầu về vệ sinh môi
trường. Vì vậy, khi đấu nối công trình thoát nước cục bộ vào hệ thống thoát nước
đô thị phải được sự đồng ý của cơ quan quản lý đô thị.
- Quản lý các công trình cấp điện
UBND thành phố trực thuộc Trung ương hoặc UBND tỉnh quy định phạm vi
bảo vệ các công trình cấp điện dựa vào tiêu chuẩn quy phạm của Nhà nước và điều
kiện cụ thể của từng khu vực.
Các tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng điện cần làm đơn và ký kết hợp đồng
với cơ quan quản lý điện. Mọi nhu cầu cải tạo sửa chữa các công trình có ảnh
hưởng đến hành lang an toàn các công trình cấp điện và chiếu sáng đô thị, vì vậy
phải có biện pháp an toàn và được sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền.
- Quản lý các công trình văn hoá xã hội tại đô thị.
Các công trình văn hoá xã hội đô thị là hình thái vật thể của văn hoá đô thị, thể
hiện ở những công trình kiến trúc tượng trưng cho những thành tựu kinh tế- xã hội
của dân tộc và của một đô thị trong những điều kiện phát triển kinh tế- xã hội nhất
định. Các công trình văn hoá xã hội của đô thị trước hết là các công trình, các di
rộng chức trách cho khu vực kinh tế tư nhân và cộng đồng tham gia thực hiện các
quyền dân chủ quản lý, thực hiện nghĩa vụ đóng góp và thu hút mọi nguồn vốn,
tăng thêm hiệu quả quản lý và phát triển CSHTĐT của quốc gia.
Phân cấp quản lý là sự phân định và xếp hàng các đô thị theo quy mô, vị trí
hay tầm quan trọng của từng đô thị trong phát triển kinh tế- xã hội của đất nước,
20
Website:
http://www.docs.vn
Email :
[email protected]
Tel : 0918.775.368
của vùng hay địa phương để từ đó xác định các chính sách quản lý, đầu tư thích
hợp.
Giữa phân loại và phân cấp quản lý có mối quan hệ chặt chẽ. Nguyên tắc
chung là dựa vào phân loại để phân cấp quản lý. Đây là một trong những giải pháp
có tính nguyên tắc nhằm phân định chức năng và quyền hạn quản lý của chính
quyền các cấp cho thích hợp, tránh sự trùng chéo hoặc bỏ sót.
Ở Việt Nam, trên cơ sở phân loại đô thị, việc phân cấp quản lý hành chính nhà
nước đối với các đô thị như sau:
Đô thị loại 1 và loại 2 chủ yếu do Trung ương quản lý
Đô thị loại 3 và loại 4 chủ yếu do tỉnh quản lý
Đô thị loại 5 chủ yếu do huyện quản lý
- Quan hệ giữa tiết kiệm và hiệu quả trong quản lý cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị
Sự hình thành và phát triển, quy mô và định hướng phát triển của CSHT đô thị
nói chung phụ thuộc vào quy hoạch tổng thể không gian đô thị. Quy hoạch tổng thể
không gian đô thị chỉ thực hiện có hiệu quả khi CSHTĐT được xây dựng đồng bộ
và đi trước một bước.
Nguyên tắc này xuất phát từ thực tiễn sự tăng trưởng kinh tế phát sinh nhu cầu
phát triển CSHTKTĐT với một quy mô lớn, nhất là trong xu thế bùng nổ đô thị hoá
toàn cầu với một tốc độ choáng ngợp. Thực tiễn này, đã gây ra hệ quả phát sinh
bền vững cho môi trường. Thị dân nghèo đều trực tiếp hưởng phúc lợi từ các dịch
vụ hạ tầng tốt, bởi họ thường sống tập trung và là đối tượng gánh chịu những điều
kiện mất vệ sinh, ô nhiễm từ các chất thải và hiểm hoả do tai nạn”.
- Quan hệ giữa quy mô đô thị với hệ thống các phương tiện vật chất,
CSHTKTĐT phục vụ cho sự phát triển đô thị.
Cơ sở hạ tầng đô thị không chỉ phụ thuộc vào trình độ quy mô phát triển, sản
xuất, dịch vụ, mật độ dân cư, mà còn phụ thuộc vào các phương tiện đi lại, các thiết
22
Website:
http://www.docs.vn
Email :
[email protected]
Tel : 0918.775.368
bị sinh hoạt của dân cư. Đây là nguyên tắc hệ thống để làm sao các đặc trưng và
mục tiêu của hệ thống CSHTKTĐT được thực hiện một cách tốt đẹp.
Tính hệ thống dòi hỏi, trong việc xây dựng, phát triển CSHTĐT, nhà quản lý
phải căn cứ vào quy mô đô thị, quy mô hoạt động sản xuất và dịch vụ, quy mô dân
cư để bố trí hệ thống các phương tiện đi lại, các thiết bị phục vụ sinh hoạt của dân
cư, sao cho mọi cơ quan, tổ chức, mọi người dân sống trên phạm vi đô thị, có được
sự phục vụ đồng bộ, thuận tiện. Khi quy mô đô thị thay đổi, hệ thống phục vụ phải
thay đổi kịp thời. Điều này rất quan trọng đối với quản lý sự phát triển của các đô
thị du lịch, bởi lẽ, quy mô dân số của các đô thị này thường có sự biến động cơ học.
Do vậy, việc tính toán hệ thống các phương tiện phục vụ phải sao cho đạt được ở
mức tối đa. Tất nhiên, việc phát triển CSHT của các đô thị này cũng phải tính tới
thời kỳ quy mô dân số giảm cơ học để có phương án sử dụng hiệu quả nhất các
phương tiện vật chất đã có.
1.2.3.3. Các công cụ chủ yếu thực hiện vai trò quản lý nhà nước trong phát triển
cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị.
Để thực hiện các yêu cầu và giải quyết được các mối quan hệ quản lý
CSHTKTĐT như trên, nhà nước cần sử dụng các biện pháp quản lý thích hợp trong
thực hiện được ý chí của nhà nước.
Công cụ này được thực hiện thông qua việc nhà nước các cấp xây dựng hệ
thống các văn bản pháp quy để tạo môi trường thể chế nhằm phát triển CSHTĐT
Việc sử dụng công cụ hành chính luôn mang tính mệnh lệnh, cưỡng chế dưới
các hình thức văn bản pháp luật và có tính pháp luật buộc mọi người phải tuân
theo. Qua đó, các cơ quan hành chính, thủ trưởng và các nhà chức trách thực hiện
quyền hạn và nghĩa vụ của mình, yêu cầu mọi công dân tuân thủ theo pháp luật và
các văn bản hành chính để phát triển các công trình CSHTĐT.
24
Website:
http://www.docs.vn
Email :
[email protected]
Tel : 0918.775.368
Hệ thống các văn bản quản lý kiểm soát phát triển CSHT ĐT do các cơ quan,
ban ngành từ Trung ương tới các địa phương tỉnh, thành phố, thị xã, thị trấn,
phường chứa đựng các quy định, hướng dẫn thực hiện cấc quy đinh của cấp trên về
quản lý phát triển đo thi nói chung và quy hoạch phát triển CSHTĐT nói riêng. Tuy
nhiên, các văn bản trên có tính pháp quy tập trung vào Chính phủ, Bộ xây dựng, và
một số Bộ có liên quan để phát triển CSHTĐT theo quy hoạch.
Thực hiện phương pháp hành chính, đòi hỏi phải tiến hành một loạt các khâu
liên hoàn trong đó có:
+ Công việc phê duyệt, cấp phép xây dựng phương án;
+ Cấp chứng chỉ quy hoạch, cấp giấy phép xây dựng:
+ Thực hiện thanh tra, kiểm tra và xử phạt vi phạm.
- Quản lý cơ sở hạ tầng đô thị thông qua hệ thống chính sách kinh tế.
Đây là hệ thống các công cụ chủ yếu để thực hiện vai trò nhà nước trong
phát triển CSHT đô thị. Việc thực hiện công cụ này thông qua chính sách đầu tư
vốn và các chính sách khác nhằm tạo nguồn vốn đầu tư cho phát triển CSHT đô thị.
Như đã nói, CSHT đô thị là hàng hoá công cộng. Việc đầu tư vào hàng hoá