Một số biện pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về xây dựng phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật tại đô thị - Pdf 35

`

LỜI MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hòa cùng xu hướng phát triển của các nước trong khu vực, từ đầu những
năm 2000, lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã chủ trương, triển khai
chương trình phát triển phía Bắc tỉnh Quảng Ngãi với các dự án liên quan chặt chẽ
với nhau: Dãi du lịch ven biển
– Điện Dương, Khu công nghiệp – , Khu đô
thị mới – , Cụm công nghiệp Trảng Nhật song song với việc hoàn chỉnh, phát
triển hạ tầng các khu vực lân cận. Trong đó, dự án Khu đô thị mới –
và Khu
công nghiệp –
được xem là các dự án trọng điểm trong việc phát triển kinh tế
- xã hội phía Bắc Quảng Ngãi.
Dự án phát triển phía Bắc Quảng Ngãi được sự quan tâm nhiệt thành của
Chính phủ, cụ thể ngày 18/5/1999, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số
124/QĐ-TTg về việc phê duyệt quy hoạch chung đô thị mới

. Đô thị mới

nằm trong chuỗi đô thị, khu công nghiệp, dịch vụ và du lịch ven biển từ Non
nước thành phố Đà Nẵng đến Hội An, góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội khu vực
phía Bắc Quảng Ngãi, hình thành một khu đô thị của tỉnh, liên hoàn đồng bộ với
các khu du lịch, khu đô thị sinh thái của thành phố Đà Nẵng và thành phố Hội An.
Với vị trí vô cùng quan trọng như trên, lãnh đạo Tỉnh ủy và UBND tỉnh
Quảng Ngãi luôn chỉ đạo sâu sát trong quá trình phát triển đô thị. Ngày
14/01/2003, UBND tỉnh đã ra Quyết định số 06/2003/QĐ-UB thành lập Ban Quản
lý đô thị mới –
(sau đó được đổi tên thành Ban Quản lý Phát triển đô thị mới


4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mac – Lê nin
để nghiên cứu. Bên cạnh đó, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu kinh nghiệm,
thu thập số liệu thực tế để phân tích đánh giá. Số liệu được thu thập thông qua báo
cáo tổng kết đánh giá hàng năm của Ban Quản lý, các quy định về thủ tục hành
chính và thực tiễn công tác tại Ban Quản lý. Từ số liệu thu thập được, đề tài tiến
hành phân tích thực trạng công tác quản lý hoạt động đầu tư, xây dựng hạ tầng kỹ
thuật để có các đề xuất và giải pháp phù hợp.
5. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Với mục đích và phạm vi nghiên cứu như trên, ngoài nội dung mở đầu và
kết luận, tiểu luận được tổ chức thành 3 Chương, như sau:
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY
DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG KỸ THUẬT ĐÔ THỊ
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG
KẾT CẤU HẠ TẦNG KỸ THUẬT TẠI ĐÔ THỊ MỚI
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN
LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG KẾT CẤU HẠ TẦNG KỸ THUẬT TẠI ĐÔ
THỊ MỚI

2


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT
TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG KỸ THUẬT ĐÔ THỊ
1. VAI TRÒ CỦA KẾT CẤU HẠ TẦNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ,
XÃ HỘI
1.1. Các khái niệm
1.1.1. Khái niệm kết cấu hạ tầng
Hiểu một cách khái quát, kết cấu hạ tầng là một bộ phận đặc thù của cơ sở


công trình giao thông vận tải (đường bộ, đường sắt, đường biển, đường sông,
đường hàng không, đường ống), bưu chính - viễn thông, các công trình thủy lợi
phục vụ sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp… Kết cấu hạ tầng kinh tế là bộ phận
quan trọng trong hệ thống kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển nhanh, ổn
định, bền vững và là động lực thúc đẩy phát triển nhanh hơn, tạo điều kiện cải
thiện cuộc sống dân cư.
(2) Kết cấu hạ tầng xã hội: xếp vào loại này gồm nhà ở, các cơ sở khoa học,
bệnh viện, các công trình văn hóa, thể thao… và các trang thiết bị đồng bộ với
chúng. Đây là điều kiện thiết yếu để phục vụ, nâng cao mức sống của cộng đồng
dân cư, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực phù hợp với tiến trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Như vậy, kết cấu hạ tầng xã hội là tập hợp một số
ngành có tính chất dịch vụ xã hội; sản phẩm do chúng tạo ra thể hiện dưới hình
thức dịch vụ và thường mang tính chất công cộng, liên hệ với sự phát triển con
người cả về thể chất lẫn tinh thần.
1.1.2. Khái niệm kết cấu hạ tầng đô thị
Kết cấu hạ tầng đô thị là hệ thống các phương tiện kỹ thuật làm nền tảng cho
sự phát triển của đô thị, bao gồm các công trình: giao thông vận tải, cấp – thoát
nước đô thị; cấp điện và chiếu sáng đô thị; thông tin liên lạc, bưu chính – viễn
thông; các công trình phục vụ việc thu gôm, vận chuyển và xử lý chất thải đô thị.
1.2. Vai trò của kết cấu hạ tầng kỹ thuật đối với sự phát triển kinh tế - xã hội:
Kết cấu hạ tầng kỹ thuật có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu
quả hoạt động của từng đơn vị kinh tế cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Như, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động; đảm bảo
những điều kiện vật chất thuận lợi nhất để các cơ sở sản xuất và dịch vụ hoạt động
có hiệu quả. Nó như là hệ thống huyết mạch của nền kinh tế, có nhiệm vụ thực
hiện những mối liên hệ giữa các bộ phận và các vùng của nền kinh tế. Ngoài ra kết
cấu hạ tầng kỹ thuật còn góp phần nâng cao trình độ văn minh đô thị; giải quyết
môi sinh môi trường; đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
2. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU CỦA ĐẢNG VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG KẾT

trước hết là trong thực hiện chính sách đền bù, giải phóng mặt bằng; bảo đảm lợi
ích hài hòa giữa Nhà nước, người dân và nhà đầu tư.
4. Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng phải kết hợp chặt chẽ với bảo đảm
quốc phòng, an ninh; thu hẹp khoảng cách vùng, miền; gắn với tiết kiệm đất canh
tác, bảo vệ môi trường, tăng trưởng xanh và ứng phó với biến đổi khí hậu.
2.2. Mục tiêu
Tập trung huy động mọi nguồn lực để đầu tư giải quyết cơ bản những tắc
nghẽn, quá tải, bức xúc và từng bước hình thành hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế,
xã hội tương đối đồng bộ với một số công trình hiện đại, bảo đảm cho phát triển
nhanh và bền vững, tăng cường hội nhập quốc tế, bảo vệ môi trường, ứng phó với
biến đổi khí hậu, xây dựng nông thôn mới, thu hẹp khoảng cách các vùng, miền và
nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh và giữ vững độc lập chủ
quyền quốc gia, đáp ứng yêu cầu nước ta cơ bản đạt được quy mô và trình độ của
nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.
Cùng với yêu cầu phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội,
cần tập trung nguồn lực cho 4 lĩnh vực trọng tâm với các mục tiêu cụ thể như sau:

5


- Về hạ tầng giao thông, đảm bảo kêt nối các trung tâm kinh tế lớn với nhau
và với các đầu mối giao thông cửa ngõ bằng hệ thống giao thông đồng bộ, năng lực
vận tải được nâng cao, giao thông được thông suốt, an toàn.
- Về hạ tầng cung cấp điện, bảo đảm cung cấp đủ điện cho sản xuất và sinh
hoạt, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đi đôi với tiết kiệm,
giảm tiêu hao điện năng.
- Về hạ tầng thủy lợi và ứng phó với biến đổi khí hậu, đảm bảo tưới tiêu chủ
động cho diện tích lúa 2 vụ, các vùng cây công nghiệp và nguyên liệu, nuôi trồng
thủy sản tập trung. Chủ động phòng , tránh bão, lũ, ứng phó với biến đổi khí hậu và
nước biển dâng.

vụ công cộng trong các đô thị ngày càng tăng, trong khi đó các công trình kết cấu
hạ tầng kỹ thuật có xu hướng xuống cấp nhanh chóng, mà nguồn lực của Nhà nước
lại hạn hẹp. Sự phân công, phân cấp, phối hợp trong quản lý nhà nước về xây dựng
phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị rất phức tạp. Thêm vào đó, quản lý nhà nước về
kết cấu hạ tầng ở nước ta trong những năm qua còn nhiều tồn tại, bất cập, môi
trường pháp lý cũng như cơ chế chính sách chưa thật sự thông thoáng; thủ tục đầu
tư còn rườm rà; công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm trong lĩnh vực này
còn nhiều bất cập, hiệu quả thấp. Hơn nữa, nước ta đang thực hiện công cuộc “đổi
mới” đất nước trong xu thế toàn cầu hóa và xu thế hội nhập… Do vậy, không
ngừng đổi mới và tăng cường quản lý nhà nước về xây dựng phát triển kết cấu hạ
tầng kỹ thuật là đòi hỏi tất yếu khách quan đặt ra cho tất cả các chính quyền đô thị
và mọi quốc gia.
4. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, NHỮNG VẤN ĐỀ CHỦ YẾU TRONG QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG KỸ THUẬT
ĐÔ THỊ Ở VIỆT NAM
4.1. Quan điểm quản lý, mục tiêu phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật
Quan điểm quản lý, mục tiêu phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam
trong những năm qua chủ yếu tập trung triển khai các chính sách và biện pháp như:
- Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước ở đô thị;
- Xây dựng các chính sách và các giải pháp tạo vốn, sử dụng hiệu quả nguồn
vốn đầu tư trong nước và nước ngoài vào mục đích phát triển cơ sở hạ tầng đô thị;
- Đổi mới chính sách về nhà ở và đất ở tại các đô thị; ban hành các văn bản
pháp luật về đô thị; tăng cường việc quản lý môi trường để đảm bảo điều kiện sống
và làm việc ở đô thị.
1.4.2. Những vấn đề chủ yếu trong quản lý nhà nước về xây dựng phát triển hạ
tầng kỹ thuật đô thị
- Quản lý vốn đầu tư;
- Quản lý quy hoạch phát triển đô thị;
- Quản lý vấn đề kỹ thuật và chuyển giao công nghệ;
- Quản lý vấn đề về đầu tư xây dựng các công trình phải gắn liền với văn

Đặc điểm hiện trạng ban đầu phần lớn là cát trắng, đất hoang hóa và rừng
thông. Dân cư chỉ tập trung ở một số tuyến đường chính. Đây là một vùng đất
thuần nông, đất đai cằn cỗi, nên năng suất các loại hoa màu rất thấp.
Tuy nhiên, với vị trí thuận lợi như trên, đô thị mới

sẽ được hình
thành trong thời gian không xa. Góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội khu vực Bắc
Quảng Ngãi, hình thành một khu đô thị của tỉnh, liên hoàn đồng bộ với các khu du
lịch, đô thị sinh thái của thành phố Đà Nẵng và thành phố Hội An.
1.2. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội
Khu nghiên cứu thuộc địa giới hành chính của 5 xã vùng cát thị xã Điện
Bàn, dân số hiện có khoảng 150.000 người, trong đó có 2 phường có bờ biển là
và Điện Dương. Dân cư sống chủ yếu bằng nghề nông. Các hộ định cư 2 bên
đường ĐT 603 và ĐT 607 hiện đang chuyển sang làm dịch vụ, kinh doanh, thương
mại. Khu vực buôn bán mạnh nhất gần trước cổng khu công nghiệp –
và ngã

. Thu nhập bình quân đầu người của khu vực này khoảng 1.000.000
đồng/người/tháng.
Trong bức tranh chung của thị xã Điện Bàn, đây là vùng kinh tế đang phát
triển mạnh mẽ với động lực là khu công nghiệp – . Ngoài ra, hoạt động dịch

8


vụ phát triển mạnh mẽ ở vùng giáp ranh giữa Đà Nẵng và Quảng Ngãi, các trường
cao đẳng, đại học ở Hòa Hải, Hòa Quý (Đà Nẵng) và Trường Đại học Nội vụ cơ sở
miền Trung tại đô thị mới – .
Với đặc điểm tình hình kinh tế trên, huyện Điện Bàn đã lập đề án quy hoạch
chung đô thị Điện Bàn tầm nhìn đến 2020 theo định hướng không gian đô thị từ

phía Bắc và đang mở rộng sang giai đoạn 2, các dự án du lịch, khách sạn, resort
ven biển
, Điện Dương, Hà My đang được triển khai, các dự án thuộc làng Đại
học Đà Nẵng, các dự án Trường Đại hội Nội vụ cơ sở miền Trung, Trường Cao
đẳng Đông Á. Đây là cơ sở quan trọng để tạo động lực phát triển kinh tế xã hội của
khu vực.
Vị trí quy hoạch đô thị mới –
có các điều kiện thuận lợi về hạ tầng kỹ
thuật như: giao thông đường bộ, đường sông, đường biển. Ngoài ra khu vực nghiên
cứu còn tận dụng được sự phát triển công trình hạ tầng từ thành phố Đà Nẵng như
9


sân bay, bến cảng, giao thông đối ngoại… Khu nghiên cứu chỉ cách Trung tâm
thành phố Đà Nẵng 15km và cách Trung tâm thành phố Hội An 5km. Việc kết nối
hạ tầng đến các khu vực khác hết sức thuận lợi.
Khu vực nghiên cứu có quỹ đất xây dựng lớn. Chủ yếu là đất cát nên đầu tư
vào sản xuất nông nghiệp không hiệu quả do chất lượng đất xấu, năng suất thấp.
Việc chuyển sang xây dựng đô thị là hoàn toàn hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng đất.
Là nơi bằng phẳng, đất hoang nhiều, dân cư thưa thớt, các công trình kiến
trúc, công trình hạ tầng kỹ thuật chưa được xây dựng nhiều.
Điều kiện địa hình thuận lợi có khối lượng đào đắp, san lấp không lớn nên
chi phí đầu tư hạ tầng thấp. Có nhiều ao hồ tự nhiên do đó dễ dàng tổ chức các khu
công viên, hồ điều tiết, các hồ tạo cảnh quan sinh thái.
Đất thổ cư tuy chiếm diện tích lớn nhưng chủ yếu là đất vườn.
Điều kiện phát triển đô thị rất thuận lợi do việc phát triển khu công nghiệp,
các khu du lịch, các dự án liên quan tới khu vực nghiên cứu đã và đang triển khai.
1.3.2. Khó khăn
Khu vực có một số công trình công cộng bám sát ven đường nên khi quy

đầu tư. Quy hoạch chi tiết 1/2000 đã cụ thể hóa quy hoạch chung, quy định cụ thể
hướng phát triển không gian, tổ chức các phân khu chức năng, định hướng phát
triển giao thông, thoát nước, cấp nước, vị trí thu gôm và xử lý nước thải, cấp điện
sinh hoạt và chiếu sáng, cây xanh, công viên, khu vui chơi giải trí… Đây là các cơ
sở quan trọng trong quá trình quản lý quy hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật
đô thị.
Những dự án do Ban Quản lý làm chủ đầu tư là các dự án hạ tầng khung,
hiện nay đang đầu tư 2 tuyến đường trục chính của đô thị là tuyến ĐT603 nối dài
và tuyến nối ĐT603A với ĐT607A. Hai tuyến này được tổ chức theo tuyến đường
hiện có, đầu tư xây dựng theo hướng không làm ảnh hưởng đến các cơ sở trường
học, cơ sở quân sự, một số khu vực dân cư đông đúc hai bên đường. Hiện trạng hai
tuyến đường có mặt cắt nhỏ, đã xuống cấp nghiêm trọng do các phương tiện vận
tải vật liệu thi công vào các dự án bên trong. UBND tỉnh đã cấp ngân sách để thực
hiện công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư. Trong điều kiện ngân sách tỉnh hạn
hẹp, Ban Quản lý đã tham mưu UBND chấp thuận đầu tư theo hình thức hợp đồng
BT. Nhờ vào các nguồn vốn ngoài ngân sách, đến nay các tuyến đường đã cơ bản
hoàn thành một số km đầu tuyến.
Với phương thức sử dụng quỹ đất để tạo vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ
tầng, sự mềm dẻo linh hoạt về cơ chế chính sách đã kêu gọi được nhiều nhà đầu tư
vào đô thị. Nhà đầu tư được nhà nước giao đất để đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ
thuật, được khai thác quỹ đất để bù đắp chi phí đầu tư và có lợi nhuận. Hiện nay đã
có gần 45 nhà đầu tư với các dự án về nhà ở, khu đô thị, y tế, giáo dục, thể dục –
thể thao… Cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở giai đoạn 1 (530ha) đã hình thành. Các khu đô
thị mới như khu 1A, khu đô thị 1B, Khu đô thị số 6, Khu phố chợ , Khu phố chợ
Trung đã hình thành với hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, là nơi sống lý tưởng. Tuy nhiên,
một số dự án năm ở giai đoạn 2, giai đoạn 3 do khó khăn về nguồn vốn đầu tư, tình
hình bất động sản thời gian qua lắng đọng và khó khăn trong công tác giải phóng
mặt bằng nên công tác đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật còn thấp. Hiện trạng các

11

xây dựng đô thị, kết hợp với tuyên truyền vận động các tổ chức cá nhân thực thi
đúng pháp luật trong việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật theo quy hoạch.
- Đẩy mạnh cải cách hành chính trong quản lý quy hoạch xây dựng nhằm
nâng cao năng lực phục vụ đối với các nhu cầu đầu tư phát triển, từng bước khắc
phục những hạn chế, tồn tại của nhiều năm trước như hiện tượng cửa quyền, gây
sách nhiễu, phiền hà trong việc giải quyết các thủ tục thỏa thuận địa điểm, thẩm
định quy hoạch, thỏa thuận về kiến trúc…

12


2.2.2. Về quản lý xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật
Trên cơ sở chức năng nhiệm vụ được UBND giao, Ban Quản lý là cơ quan
trực tiếp quản lý chất lượng các công trình hạ tầng kỹ thuật về mặt thiết kế cũng
như chất lượng thi công. Các công trình hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn đô thị cơ bản
được quản lý theo quy hoạch và thiết kế được duyệt. Tất cả các khâu từ chuẩn bị
đầu tư, thẩm tra phê duyệt dự án, đấu thầu chọn đơn vị thi công đến giám sát chất
lượng và tiến độ thực hiện công trình … để được chú trọng chỉ đạo thực hiện theo
quy định pháp luật.
Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý phát triển kết cấu
hạ tầng kỹ thuật được chú trọng nâng cao chất lượng, tính khả thi, giảm tối đa các
sai sót. Ban Quản lý đã dựa trên quy định của cơ quan nhà nước cấp trên để cụ thể
hóa một số quy định phù hợp với đặc điểm của địa phương, như quy định trình tự
thủ tục, thời gian hoàn tất việc xin thỏa thuận địa điểm xây dựng, xin cấp phép xây
dựng,… quy định rõ về mối quan hệ trách nhiệm giữa các phòng ban chức năng có
liên quan và UBND các phường, UBND huyện trong quản lý xây dựng các công
trình hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn. Nhờ đó, trong những năm qua, những vi phạm
lớn trên lĩnh vực quản lý xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật giảm đáng kể so với
trước đây.
Ban Quản lý đã tích cực chỉ đạo và tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo các cơ

hoàn công xây dựng công trình; các hư hỏng được phát hiện và có biên pháp sửa
chữa tương đối kịp thời, đảm bảo cho công trình được vận hành; chế độ duy tu, bảo
dưỡng… được quan tâm thực hiện; thủ tục ký kết hợp đồng, thanh toán kinh phí sử
dụng các công trình công cộng được các đơn vị quản lý chuyên trách thực hiện khá
tốt và từng bước cải thiện theo xu hướng phục vụ ngày càng tốt hơn cho nhu cầu
của nhân dân.
Việc quản lý sử dụng đúng mục đích các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật,
nhất là các công trình công cộng được chính quyền các cấp và các cơ quan chuyên
trách thường xuyên kiểm tra, các hiện tượng vi phạm xây dựng không đúng chỉ
giới, sử dụng vỉa hè, lòng lề đường, công trình công cộng vào mục đích riêng từng
bước được khắc phục.
2.2.5. Quản lý vệ sinh môi trường
Bảo vệ môi sinh, môi trường đô thị là vấn đề hết sức bức xúc của các đô thị
hiện nay, nếu không giải quyết tốt thì khó có thể phát triển đô thị bền vững. Nhận
thức rõ điều đó, Ban Quản lý đã hết sức chú trọng chỉ đạo thực hiện nội dung này.
Công tác đánh giá tác động môi trường được xem xét ngay từ bước lập quy
hoạch chi tiết 1/500, các vấn đề về ô nhiễm môi trường, xử lý chất thải được các
cấp, các ngành xem xét trước khi phê duyệt.
Trong những năm qua, Ban Quản lý đã kết hợp với UBND các phường trong
vùng dự án tổ chức tuyên truyền giáo dục các tổ chức và cá nhân nâng cao nhận
thức về tầm quan trọng của vấn đề môi trường đối với cuộc sống, từng bước nâng
cao vai trò, trách nhiệm của mình trong việc quản lý, bảo vệ môi trường sinh thái,
thực hiện một đô thị “Xanh, sạch, đẹp, sáng, hiện đại”. Các cam kết về bảo vệ môi

14


trường được quy định chặt chẽ với từng dự án, thể hiện rõ trong các quy ước khu
dân cư văn hóa do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động. Qua đó, 100% cán bộ
chủ chốt ở phường, các tổ dân phố được quán triệt chủ trương, nghị quyết, chỉ thị

đạt được
nhiều kết quả quan trọng về phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị. Nhiều dự án
đã hoàn thành đưa vào sử dụng như: Trường Đại học Nội vụ cơ sở miền Trung,
15


Khu đô thị 1A, Khu đô thị 1B, Khu dân cư phố chợ , Khu phố chợ Trung và
nhiều dự án đã triển khai hạ tầng đồng bộ như Khu đô thị số 3, Khu đô thị Đất
Quảng Green City,… Phần lớn là các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khu
đô thị để khai thác quỹ đất. Tuy thị trường bất động sản lắng đọng thời gian qua
nhưng công tác đầu tư vào đô thị không ngừng phát triển. Các công trình hạ tầng
khung, các trục xương sống đang dần hình thành. Nhiều dự án về y tế, giáo dục,
vui chơi giải trí đang được triển khai đầu tư góp phần hình thành một khu đô thị
với đầy đủ chức năng phục vụ các nhu cầu phát triển xã hội.
Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển một thị xã tỉnh lỵ thì những kết quả ấy
chỉ là bước đầu. Bên cạnh những ưu điểm cơ bản, vấn đề quản lý nhà nước về xây
dựng phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị vẫn còn một số tồn tại, khuyết điểm cần
nghiêm túc nhìn nhận, đánh giá, tìm ra nguyên nhân để từ đó xây dựng những biện
pháp khắc phục hiệu quả nhất.
3. NHỮNG HẠN CHẾ, TỒN TẠI TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY
DỰNG PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG KỸ THUẬT TẠI ĐÔ THỊ MỚI – , TỈNH
QUẢNG NGÃI
3.1. Những hạn chế, tồn tại
Trong công tác quy hoạch đô thị
Mặc dù quy hoạch tổng thể của đô thị mới

đã được phê duyệt sớm, quy
hoạch chi tiết 3 giai đoạn được phê duyệt từ năm 2004 nhưng đến nay một số khu
vực quy hoạch chi tiết còn nằm trên giấy, chưa triển khai thực hiện gây phản ứng
trong nhân dân. Việc khớp nối quy hoạch giữa các khu chưa thống nhất, mỗi đơn

sử dụng nước sạch từ Nhà máy cấp nước của đô thị nhưng hiện tại vẫn chưa tìm
được nhà đầu tư, nguồn vốn đầu tư, nhân dân vẫn phải sử dụng nguồn nước ngầm
tại chỗ.
Tình trạng vi phạm trong xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật vẫn còn
xảy ra ở nhiều nơi, nhất là việc không tuân thủ quy trình, quy phạm, sai thiết kế,
lấn chiếm lề đường,…
Nguồn vốn ngân sách nhà nước dùng để xây dựng các công trình trọng điểm
đô thị còn thấp, hầu như chỉ có giải phóng mặt bằng các tuyến trục chính, gây ảnh
hưởng đến tiến độ xây dựng chung toàn đô thị.
Nhiều công trình hạ tầng kỹ thuật có thời gian thi công kéo dài, ảnh hưởng
đến chất lượng, tiến độ, vệ sinh môi trường, gây lãng phí và mất lòng tin trong
nhân dân. Đáng chú ý là công tác giải phóng mặt bằng để có mặt bằng sạch thi
công các công trình thực hiện quá chậm, bị ách tắt ở nhiều khâu, thiếu nhất quán
giữa các dự án… vừa làm chậm tiến độ xây dựng, gây tâm lý bất bình trong nhân
dân, làm nảy sinh nhiều hiện tượng khiếu kiện.
Các hoạt động quản lý khác
Vệ sinh môi trường, nhất là vấn đề xử lý rác thải đô thị tuy được chú trọng
chỉ đạo thực hiện nhưng vẫn còn nhiều tồn tại, công tác thu gôm rác chủ yếu tập
trung ở các tuyến giao thông chính chưa đi sâu vào các khu dân cư. UBND tỉnh đã
thành lập Trung tâm Giải phóng mặt bằng & Môi trường đô thị, tuy nhiên lĩnh vực

17


môi trường đô thị chưa được cấp kinh phí để có thể đầu tư phương tiện và dụng cụ
thu gom và xử lý rác thải. Trong khi đó nhu cầu này ngày càng tăng. Diện tích đất
dành cho cây xanh và khu vui chơi giải trí trong đô thị vẫn còn mất cân đối, phân
bổ không hợp lý so với diện tích xây dựng nhà ở. Hệ thống hạ tầng thoát nước
chưa đồng bộ dẫn đến tình trạng ngập úng cục bộ diễn ra khá phổ biến trong mùa
mưa.



những người được hưởng lợi trực tiếp hoặc gián tiếp. Do vậy, chưa có sự đồng
thuận cao trong nhân dân trong quá trình xây dựng phát triển hạ tầng kỹ thuật đô
thị, nhất là công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, vệ sinh môi trường… Trong
khi đó, những kết quả đạt được trong công tác dân vận mới chỉ là bước đầu; sự
phối hợp giữa Cấp ủy Đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng trong công
tác vận động nhân dân chưa đồng bộ, các giải pháp đề ra còn nhiều hạn chế, hiệu
quả thấp.
Cơ chế chính sách ở tầm vĩ mô còn nhiều bất cập, gây khó khăn trong quá
trình thực hiện. Tỉnh chưa ban hành kịp thời những quy định về quản lý quy hoạch,
quản lý xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị, cũng như các quy định về xử lý vi phạm
còn nhiều điểm chưa cụ thể và chưa phù hợp với tình hình địa phương. Vấn đề
phân cấp ngân sách, tỷ lệ điều tiết còn nhiều bất cập; bộ máy chính quyền đô thị
không có sự ưu tiên bổ sung, mặc dù khối lượng công việc quản lý nhiều hơn…
3.2.2. Nguyên nhân chủ quan
Quy hoạch tổng thể đô thị được phê duyệt nhưng việc triển khai quản lý quy
hoạch còn nhiều bất cập. Việc phân cấp quản lý giữa tỉnh và Ban Quản lý trên một
số lĩnh vực chưa rõ ràng, phối hợp giữa các ngành của tỉnh, của huyện Điện Bàn
với Ban quản lý chưa chặt chẽ: như trong công tác quản lý quy hoạch, quản lý hiện
trạng, phê duyệt dự án đầu tư, thủ tục giao đất, xác định mức thu tiền sử dụng đất
từng dự án … Ngoài ra, các nguyên tắc trong quá trình lập đồ án quy hoạch chưa
được tuân thủ nghiêm túc, ví dụ như không tổ chức lấy ý kiến cộng đồng dân cư ở
các khu vực có liên quan hay còn xem nhẹ ý kiến đóng góp của chính quyền cơ sở,
nhất là cấp xã phường. Các bước chuẩn bị đầu tư còn quá nhiều thủ tục rườm rà,
bất hợp lý mà chưa được tập trung giải quyết. Việc kiểm tra, giám sát, đôn đốc các
đơn vị thi công còn thiếu kịp thời, sâu sát.
Xây dựng và phát triển đô thị là một nhiệm vụ rất quan trọng nhưng tổ chức
bộ máy chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Ban Quản lý chưa thật sự chủ động, năng
động triển khai các giải pháp tập trung vào các khâu đột phá để khai thác tiềm năng

tác tuyên truyền vận động nhân dân nhằm tạo ra sự “đồng thuận” cao trong các
cộng đồng dân cư khi tiến hành công tác này chưa được quan tâm đúng mức. Việc
thực hiện một số nội dung quan trọng như áp giá đền bù, bố trí tái định cư cho các
khu vực giải tỏa trắng, hổ trợ ổn định đời sống nhân dân… còn nhiều bất cập.
Ban Quản lý chưa có phương án thực hiện “xã hội hóa” trong lĩnh vực vệ
sinh môi trường; còn xem nhẹ công tác tuyên truyền giáo dục cho nhân dân ý thức
tự giác bảo vệ, giữ gìn vệ sinh môi trường cũng như chấp hành các quy định của
Nhà nước trên lĩnh vực này. Chưa làm tốt việc điều tra về hiện trạng môi trường để
có quy hoạch tổng thể, hướng xử lý, kiểm tra, giám sát để bảo vệ môi sinh, môi
trường một cách cơ bản.
Trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn, nhất là các lĩnh
vực thuộc kết cấu hạ tầng kỹ thuật còn nhiều hạn chế; hơn nữa trang thiết bị và các
điều kiện vật chất kỹ thuật bất cập, chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ quản lý
phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị trong tình hình mới. Bộ máy tổ chức tuy
được củng cố một bước nhưng vẫn còn nhiều hạn chế như: Chưa có bộ phận
20


chuyên trách làm công tác kiểm tra, xử lý các vi phạm về vệ sinh môi trường; chưa
có cơ quan quản lý kiến trúc đô thị (tham mưu cho UBND tỉnh)… Đội quy tắt của
thị xã Điện Bàn (có chức năng kiểm tra, tham mưu UBND thị xã xử lý các vi phạm
về quy hoạch, xây dựng) hoạt động cầm chừng, hiệu quả thấp nhưng trong thời
gian khá dài vẫn chưa được củng cố, kiện toàn. Một số tổ chức cần phải có của một
đô thị như công ty môi trường đô thị, công ty công trình công cộng, điện chiếu
sáng đô thị … chưa được thành lập. Các phòng ban chuyên môn ở thị xã và chính
quyền cơ sở ở phường chưa có sự phối hợp chặt chẽ; còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại,
chưa thật sự năng động sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm… đã
làm cho hiệu lực quản lý nhà nước trong các lĩnh vực thuộc phát triển kết cấu hạ
tầng kỹ thuật đô thị chưa đạt hiệu quả như mong đợi.
Trật tự kỹ cương trên lĩnh vực hành chính chưa nghiêm. Việc kiểm tra, phát

triển bền vững”, vừa tập trung cho phát triển kinh tế, vừa đảm bảo giải quyết các
vấn đề xã hội, an ninh quốc phòng, môi trường sinh thái… Xây dựng và phát triển
đô thị mới –
không chỉ có ý nghĩa phát triển “tại chỗ” mà còn là động lực kết
nối, vừa để thúc đẩy sự phát triển của các vùng trong tỉnh, vừa kết nối với các đô
thị khác trong khu vực tạo thành chuỗi đô thị trong vùng kinh tế trọng điểm miền
Trung. Sự phát triển nhanh, bền vững của đô thị cũng chính là sự phát triển của thị
xã Điện Bàn, của tỉnh Quảng Ngãi, của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Do
vậy, cần phải có sự quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ của các ngành các cấp từ trung ương
đến địa phương, đặt biệt là sự nổ lực của Ban Quản lý, chính quyền và nhân dân
khu đô thị mới có thể phát triển nhanh và bền vững được.
Quan điểm 2: Xây dựng và phát triển đô thị phải căn cứ vào quy hoạch đô
thị và phải đáp ứng yêu cầu phát triển đồng bộ về kinh tế - xã hội và kết cấu hạ
tầng kỹ thuật theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, đảm bảo công bằng xã
hội và các yếu tố khoa học kỹ thuật, mỹ quan đô thị, môi sinh môi trường… để đô
thị thực sự trở thành trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa – khoa học kỹ thuật của
tỉnh. Kết hợp chặt chẽ cải tạo với xây dựng mới, từng bước mở rộng đô thị, trong
đó đầu tư nâng cấp cải tạo chỉnh trang khu vực trung tâm để tạo bộ mặt đô thị là
nhiệm vụ thường xuyên. Bên cạnh đó chú trọng đầu tư phát triển khu vực lân cận
đô thị, khớp nối với quy hoạch phía Đông do Điện Bàn quản lý, đồng thời mở rộng
quy hoạch về phía Tây theo quy hoạch tổng thể. Phấn đấu đến năm 2020 đạt chuẩn
đô thị loại III.
Quan điểm 3: Quản lý nhà nước về xây dựng phát triển kết cấu hạ tầng kỹ
thuật phải gắn chặt với chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa –
hiện đại hóa, tăng thu ngân sách, ưu tiên phát triển các loại hình sản xuất kinh
doanh và dịch vụ… tạo môi trường thu hút đầu tư, cải thiện đời sống nhân dân.
Huy động sức mạnh tổng hợp, kết hợp nhiều nguồn lực để xây dựng và phát
triển đô thị. Ngân sách nhà nước tăng thêm mức đầu tư cho đô thị, đồng thời phát
huy tối đa nội lực, khai thác tốt nguồn lực của các thành phần kinh tế và của nhân
dân. Đẩy mạnh thực hiện chủ trương “xã hội hóa” đầu tư trên các lĩnh vực thuộc

các công trình và hạng mục công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị.
2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
XÂY DỰNG PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG KỸ THUẬT TẠI ĐÔ THỊ
MỚI – , TỈNH QUẢNG NGÃI
2.1. Đổi mới công tác quy hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị
Những tổng kết của các nước trên thế giới cho thấy hiệu quả đầu tư cho một
đô thị phụ thuộc vào đóng góp của quy hoạch và đầu tư là 60%, thiết kế và thi công
công trình là 20%, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật là 15%, năng suất lao động
để thi công công trình là 5%. Sai lầm trong công tác quy hoạch sẽ làm cho giá
thành xây dựng tăng và có thể gây hậu quả khôn lường về ô nhiễm môi sinh, môi
23


trường của đô thị, thậm chí gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của đô
thị ở hiện tại và tương lai.
Đô thị mới nằm trong một khu vực đầy tiềm năng phát triển, xong cũng cần
xem lại tính khả thi trong công tác lập quy hoạch. Điều này nhằm tránh trường hợp
các dự án thành phần phê duyệt xong nhưng không thực hiện được do công tác giải
phóng mặt bằng quá khó khăn, chi phí phá dở các công trình cũ quá lớn gây lãng
phí cho xã hội, chi phí xây dựng hạ tầng quá lớn không thể kêu gọi các nhà đầu tư
vào đây. Do vậy, vấn đề đặt ra là Ban Quản lý phải tiến hành rà xét lại toàn bộ quy
hoạch về phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật hiện có, tìm ra những điểm chưa phù
hợp, những điểm không mang tính khả thi… Từ đó,bổ sung, điều chỉnh quy hoạch
kết cấu hạ tầng kỹ thuật từ nay đến năm 2020 đảm bảo phù hợp với đặc điểm của
thị xã, đảm bảo các yêu cầu về phát triển theo hướng nếu trên. Công việc này cần
có sự tham gia của các ngành thuộc tỉnh như Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên Môi
trường, Sở Khoa học Công nghệ… Trong quá trình thực hiện, tiêu chí “xanh – sạch
– sáng” phải được thể hiện xuyên suốt trong quá trình ra xét, điều chỉnh, bổ sung
quy hoạch tổng thể cũng như quy hoạch chi tiết và các dự án thành phần.
Trong xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị, mốn có một đô thị đẹp thì

thị, thẩm định quy hoạch chi tiết 1/500 các dự án thành phần. Hướng dẫn việc lập
hồ sơ xin cấp chứng chỉ quy hoạch, xin cấp giấy phép xây dựng công trình. Thẩm
định và quyết định cấp phép sửa chữa, xây mới công trình theo phân cấp của
UBND tỉnh. Tham gia xác định chỉ giới xây dựng công trình, và chỉ đạo thực hiện
đền bù giải phóng mặt bằng.
+ Quản lý các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật: Xây dựng kế hoạch phát
triển các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn. Tổ chức thẩm định thiết
kế cơ sở kết cấu hạ tầng kỹ thuật công trình, giao nhiệm vụ các phòng ban chuyên
môn giám sát quá trình thi công xây dựng, tổ chức nghiệm thu, bàn giao công
trình.
- UBND thị xã Điện Bàn: phối hợp trong công tác giải phóng mặt bằng, thực
hiện cưỡng chế đối với các tổ chức, cá nhân không thực hiện hoặc chây ỳ, gây xáo
trộn trong nhân dân. Duyệt hồ sơ cấp phép xây dựng và hậu kiểm, xử phạt các tổ
chức cá nhân không thực hiện đúng thiết kế đã duyệt.
- Thẩm quyền và trách nhiệm của UBND các phường và các đơn vị chức
năng chịu trách nhiệm quản lý các nội dung như: quản lý quy hoạch chi tiết được
duyệt, những trường hợp nào vượt quá thẩm quyền thì phối hợp cùng đội quy tắc
đô thị huyện tham mưu UBND thị xã Điện Bàn giải quyết. Quản lý hiện trạng
những không vực đã có thông báo thu hồi đất để làm dự án. Quản lý hệ thống thu
gôm rác thải, cây xanh (đã được xây dựng hoàn chỉnh theo quy hoạch và đưa vào
sử dụng), hệ thông đường kiệt nội thị, đường giao thông nông thôn; Chịu trách
nhiệm thu nộp các khoản đóng góp của nhân dân để xây dựng và sửa chữa, duy tu,
bảo dưỡng các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật (trừ khoản thu thông qua một số
ngành chức năng khác như phụ thu tiền điện, thu lệ phí đường bộ). Có quyền khai
thác mang tính nhỏ lẻ (như khai thác đối với diện tích đất còn lại trong các khu dân
cư hiện có, phù hợp với quy hoạch) để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô
thị…
- Để công tác phối hợp được chặt chẽ, cần xây dựng Quy chế phối hợp giữa
Ban Quản lý với các Sở Ban ngành thuộc tỉnh (Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên Môi
trường, Sở Giao thông Vận tải,… ) trong quá trình quản lý xây dựng các công trình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status