Niên luận Trần Hữu Định
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA VIỆC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Đông Hà là một thành phố trẻ, là hạt nhân thúc đẩy cho quá trình đô thị hoá của
tỉnh Quảng Trị.Trong những năm gần đây, thành phố Đông Hà đã đạt được những thành
tựu khá quan trọng, kinh tế phát triển tương đối nhanh và ổn định. Cơ cấu kinh tế
chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát huy lợi thế từng
ngành; phù hợp với tính chất kinh tế đô thị, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng,
thương mại - dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp - thuỷ sản.
Ở nước ta, vấn đề lập quy hoạch BVMT được quy định trong Luật Bảo vệ môi
trường năm 2005, việc lập báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án quy
hoạch lãnh thổ và đô thị cũng được quy định trong Nghị định 80/2006/NĐ-CP ngày
09/08/2006. Nhưng cho đến nay mới có một số thành phố, tỉnh và vùng đã và đang
nghiên cứu quy hoạch BVMT bao gồm: TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Quảng Ngãi, TP. Hạ
Long (Quảng Ninh), tỉnh An Giang, tỉnh Hậu Giang, TP. Vinh (Nghệ An), tỉnh Quảng
Trị...
Chính vì thế, để đảm bảo sự phát triển bền vững, thành phố Đông Hà cần phải có
những hoạch định chiến lược về bảo vệ môi trường. Đặc biệt, trong tình hình hiện nay,
Đông Hà mới lên thành phố việc xây dựng quy hoạch bảo vệ môi trường thành phố
Đông Hà trong giai đoạn này là rất cần thiết nhằm đánh giá hiện trạng, dự báo xu thế
biến đổi và đề xuất các phương án BVMT cũng như khai thác hợp lý tài nguyên, góp
phần điều chỉnh quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội hợp lý hơn, phù hợp hơn, thúc đẩy
phát triển kinh tế một cách bền vững.
Vì vậy, việc nghiên cứu: Hiện trạng môi trường tự nhiên và đề xuất quy hoạch
bảo vệ môi trưởng thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị là một yêu cầu cấp thiết trong
giai đoạn hiện nay.
2.MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
a. Mục tiêu
Xây dựng cơ sở khoa học cho việc quy hoạch BVMT tự nhiên thành phố Đông
Hà giai đoạn 2010 - 2020 theo hướng bền vững trên cơ sở phân tích các yếu tố ảnh
hưởng đến chất lượng môi trường tự nhiên, hiện trạng môi trường tự nhiên của thành
- Phương pháp thu thập, kế thừa các thông tin có liên quan đến phát triển kinh tê -
xã hội. Kế thừa các kết quả nghiên cứu của các đề tài, dự án có liên quan đến đề tài.
- Phương pháp thống kê và xử lý dữ liệu:tổng hợp, phân tích các số liệu thu thập
được.
- Phương pháp bản đồ: dựa trên bản đồ hành chính và bản đồ đia hình của thành
phố Đông Hà để từ đó xây dựng bản đồ quy hoạch cho thành phố.
5. CẤU TRÚC NIÊN LUẬN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của đề tài được trình bày trong 03
chương:
Chương 1: Khái quát các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến môi
trường tự nhiên ở thành phố Đông Hà
Chương 2: Hiện trạng môi trường tự nhiên ở thành phố Đông Hà
Chương 3: Đề xuất quy hoạch bảo vệ môi trường ở thành phố Đông Hà giai đoạn
2010 – 2020
2
Niên luận Trần Hữu Định
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CÁC YẾU TỐ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI ẢNH
HƯỞNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN Ở THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ
1.1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ
Đông Hà là thành phố tỉnh lỵ, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của
tỉnh Quảng Trị, nằm ở toạ độ địa lý 16
0
40’53’’ - 16
0
52’22’’. Vĩ độ Bắc và 107
0
04’24’’-
107
phường: 2, 3, Đông Thanh, Đông Giang, Đông Lễ. Do địa hình thấp trũng, nên thường
3
Niên luận Trần Hữu Định
hay bị ngập lụt về mùa mưa bão; hạn hán, thiếu nước về mùa hè làm ảnh hưởng lớn đến
sản xuất và đời sống.
b. Địa mạo:
Do hoạt động kiến tạo xảy ra mạnh mẽ, đặc biệt là hoạt động tân kiến tạo, kết hợp
với quá trình ngoại sinh đã tạo nên 2 vùng địa mạo cơ bản cho thành phố Đông Hà là:
vùng bóc mòn và vùng tích tụ.
- Vùng bóc mòn phân bố chủ yếu ở phía Tây - Tây Nam đường Quốc lộ 1A, có độ
cao dao động từ 5m đến xấp xỉ 30m, là vùng hoàn toàn thoát khỏi tác động của lũ lụt
hàng năm, ở đây hoạt động phong hoá xâm thực - bóc mòn là cơ bản, vùng này có nền
móng tốt thuận lợi cho xây dựng các công trình, định cư và trồng cây công nghiệp, lâm
nghiệp.
- Vùng tích tụ có cấu tạo địa hình phức tạp, độ cao biến động từ 0-5m; nhiều nơi bị
ngập lũ hàng năm, có nơi sâu đến 2m như vùng Đông Thanh, Đông Giang, Đông Lễ,
Đông Lương. Đó là vùng sản xuất lúa nước, nuôi trồng thuỷ sản, lũ lụt hàng năm đã gây
ra nhiều thiệt hại cho cư dân và sản xuất nông nghiệp.
1.2.2. Khí hậu
Đông Hà nằm trong vùng khí hậu Bắc Trung Bộ, mang đặc điểm của khí hậu
nhiệt đới gió mùa và có những biểu hiện đặc thù so với các vùng khí hậu khu vực phía
Đông Trường Sơn. Chế độ khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô
nóng.
- Mùa mưa: do chịu ảnh hưởng của không khí lạnh cực đới tràn về tới đèo Hải
Vân, nên khu vực Đông Hà tương đối lạnh so với các vùng phía Nam miền Trung.
Chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất từ 9-10
0
C. Đây
cũng là khu vực có lượng mưa tương đối lớn. Lượng mưa trung bình năm đạt 2.300mm,
2
, đoạn chảy qua
Thành phố có chiều dài 8km, với chiều rộng trung bình khoảng 150-200m. Khu vực hạ
lưu sông Hiếu chịu sự chi phối của thuỷ triều từ biển vào nên có chế độ dòng chảy khá
phức tạp. Về mùa khô dòng chảy ở thượng lưu nhỏ nên mặn xâm nhập sâu, biên độ mặn
lớn với lưu lượng thấp nhất là 2,83m
3
/s, nhưng về mùa lũ nước thường dâng cao gây
ngập lụt.
- Sông Thạch Hãn bắt nguồn từ sông Đakrông, chảy qua Ba Lòng rồi về xuôi.
Sông có chiều dài 145km, đoạn chảy qua ven phía Đông Thành phố có độ dài 5km từ
ngã ba sông Vĩnh Phước (phường Đông Lương) và hợp lưu với sông Hiếu (phường
Đông Lễ) tại ngã ba Gia Độ.
- Sông Vĩnh Phước bắt nguồn từ vùng đồi cao 300 - 400m thuộc xã Cam Nghĩa,
Cam Chính (huyện Cam Lộ) chảy qua phía Nam thành phố Đông Hà ở phường Đông
Lương rồi đổ vào sông Thạch Hãn tại km5 đường sông, tính từ ngã ba Gia Độ ở xã
Triệu Giang (huyện Triệu Phong). Sông có diện tích lưu vực 183km
2
; có chiều dài
45km, chiều rộng trung bình 50 - 70m, lưu lượng trung bình 9,56m
3
/s, mùa kiệt
1,79m
3
/s. Đây là con sông cung cấp nguồn nước sinh hoạt cho thành phố Đông Hà.
- Ngoài các con sông chính trên địa bàn Thành phố còn có các hồ như: hồ Khe
Mây, hồ Trung Chỉ, hồ KM6, hồ Đại An... với mạng lưới phân bố đều khắp trên địa bàn
Thành phố và tạo cảnh quan thiên nhiên, cải thiện vi khí hậu tiểu vùng và phát triển du
lịch sinh thái cho Thành phố.
1.2.4. Thực vật
+ Bậc trung học cơ sở: Có 9 trường, trong đó có 88,8% trường được kiên cố hoá, 2
trường đạt tiêu chuẩn Quốc gia (đạt 23%).
+ Bậc trung học phổ thông: Có 4 trường, trong đó có 3 trường công lập (1 trường
chuyên) và một trường bán công. .
- Đào tạo chuyên nghiệp, dạy nghề:
Trên địa bàn Thành phố có trường Cao đẳng sư phạm, phân hiệu đại học Huế,
trường chính trị Lê Duẩn, trường trung cấp y tế, trường dạy nghề đa ngành, 2 trung tâm
giáo dục thường xuyên, 2 trung tâm kỹ thuật hướng nghiệp dạy nghề, trường trung cấp
nghề.
b. Y tế:
Trên địa bàn Thành phố hiện nay có 01 bệnh viện Tỉnh với quy mô 500 giường
bệnh; 01 bệnh viện Thành phố với quy mô 50 giường bệnh; 09 trạm y tế trên địa bàn 09
phường; 01 trung tâm y tế dự phòng tỉnh; 01 trung tâm y tế dự phòng Thành phố; 45
phòng khám tư nhân lớn, nhỏ. Ngoài ra, còn có trạm xá của các ngành khác nhau như:
Bệnh xá công An, Bệnh xá Bộ đội (20A của BCH quân sự tỉnh), Bệnh xá Đông Trường
Sơn...
1.3.3. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỷ thuật
6
Niên luận Trần Hữu Định
Đông Hà là trung tâm tỉnh lỵ nên cơ sở hạ tầng của thành phố được thu hút đầu tư
rất lớn.Vì vậy hệ thống cơ sở hạ tầng cơ sở vật chất kỷ thuật của thành phố tương đối
hoàn thiện so với các địa phương khác trong tỉnh. Mạng lưới giao thông, bưu chính viễn
thông, tài chính ngân hàng được chú trọng mở rộng, hiện đại hoá; hệ thống điện, cấp
thoát nước được nâng cấp cải tạo, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển sản xuất và thu
hút đầu tư. Đông Hà còn là nơi tập trung các công trình hạ tầng xã hội mang ý nghĩa
toàn tỉnh như Nhà văn hoá trung tâm, bảo tàng, các khu công viên, văn hoá, thể thao, du
lịch…
1.3.4. Sự phát triển các ngành kinh tế
a. Thương mại - dịch vụ và du lịch:
7
Niên luận Trần Hữu Định
Trung Chỉ, hồ Km6 thực hiện đang còn chậm do ngân sách Thành phố còn khó khăn,
chưa có giải pháp huy động nguồn từ xã hội để đầu tư phát triển một cách có hiệu quả.
b. Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp:
Ngành CN - TTCN trên địa bàn Thành phố đạt mức tăng trưởng khá, giá trị sản
xuất CN - TTCN thời kỳ 2001 - 2005 tăng bình quân 14,8%. Giá trị sản xuất công
nghiệp trên địa bàn năm 2009 ước đạt 542,39 tỷ đồng, đạt 98,6% kế hoạch năm (560 tỷ
đồng) và tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước.
Số cơ sở sản xuất trên địa bàn hiện có 988 cơ sở, tăng 29 cơ sở so với năm 2008.
Trong đó ngoài quốc doanh có 983 cơ sở, quốc doanh có 05 đơn vị.
Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đã tập trung cải tạo nâng cấp nhà
xưởng, tăng cường thiết bị máy móc, vốn lưu động, nâng cao năng lực sản xuất, cải tiến
mẫu mã, chất lượng sản phẩm, thu hút thêm lao động trên một số ngành hàng: cơ khí gia
công, mộc mỹ nghệ, mộc cao cấp, chế biến gỗ...
Tại KCN Nam Đông Hà hiện có 19 dự án đăng ký đầu tư, với tổng số vốn đăng ký
là 1.044 tỷ đồng, có 3 dự án đi vào hoạt động, thu hút gần 1.400 lao động. Tại CCN
Đông Lễ, hiện có 17 dự án đăng ký đầu tư kinh doanh và được giao đất thực địa, trong
đó có 04 dự án đã đi vào hoạt động sản xuất, 04 dự án đang hoàn thành lắp đặt dây
chuyền thiết bị công nghệ, 07 dự án đang xây dựng nhà xưỡng.
Tuy nhiên, sản xuất CN-TTCN vẫn chưa có bước đột phá, cơ sở sản xuất còn
manh mún, nhỏ lẻ, công nghệ thiết bị còn lạc hậu, chuyển giao công nghệ, du nhập sản
phẩm mới còn chậm, hiệu quả chưa rõ nét.
c. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản:
Kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu kinh tế nhưng đóng vai trò
quan trọng trong việc cung cấp lương thực, thực phẩm, rau xanh cho Thành phố. Hàng
năm đất nông nghiệp bị thu hẹp do tốc độ đô thị hoá tăng nhanh. Tuy nhiên sản xuất
nông nghiệp có những bước tiến bộ đáng kể, phát triển theo hướng thâm canh chiều sâu,
hình thành vùng chuyên canh và đạt tốc độ tăng trưởng cao. Bước đầu đầu tư hình thành
các vùng sản xuất chuyên canh cây lương thực, thực phẩm, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ
x
là 3,2 tấn/ngày; CO là 48 tấn/ngày.
- Hoạt động sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của các cơ sở sản xuất
nằm xen kẽ trong khu vực nội thị. Khu công nghiệp Nam Đông Hà có diện tích MDF
chiếm 6,7ha, Dệt may Hoà Thọ 2,92ha, Công ty Cổ phần Tính Đạt Thành khoảng 2,5ha,
tổng tải lượng chất ô nhiễm: Bụi là 99,1kg/ngày; SO
2
là 948,6kg/ngày; NO
2
là 61,9
kg/ngày; CO là 29,3kg/ngày; THC là 8,0kg/ngày.
- Nguồn thải từ sinh hoạt của dân cư: Năm 2008, dân số thành phố Đông Hà là
85.044 người, tải lượng các chất ô nhiễm: Bụi là 2,7kg/ngày; SO
2
là 0,7kg/ngày; NO
x
là
4,5kg/ngày; CO là 10,4k g/ngày; THC là 5,2kg/ngày.
- Hoạt động xây dựng: Xây dựng mới, sửa chữa và cải tạo nhà cửa, sửa chữa và
nâng cấp hệ thống giao thông, hệ thống cấp thoát nước đều gây ô nhiễm rất lớn, đặc biệt
là bụi. Tuy nhiên, ô nhiễm không khí do hoạt động này chủ yếu là bụi, tiếng ồn và chỉ
mang tính cục bộ.
2.1.2. Chất lượng môi trường không khí
a. Môi trường không khí ở các khu dân cư:
Thống kê hệ thống các số liệu về chất lượng môi trường không khí trong những năm
gần đây cho thấy, hầu hết các thông số chất lượng môi trường không khí xung quanh nằm
trong giới hạn cho phép theo TCVN 5937:2005, TCVN 5949:1998. Tuy nhiên, tiếng ồn và
bụi thường tập trung cao (xấp xỉ và vượt tiêu chuẩn) tại các địa điểm như chợ Đông Hà, nút
giao thông giữa Quốc lộ 1A và đường 9D, ngã 5 trung tâm thành phố Đông Hà… là các vị trí
có mật độ giao thông cao.
Chất lượng môi trường không khí KCN, CCN phản ánh khách quan mức độ đầu tư
của các dự án vào các KCN hiện nay (KCN Nam Đông Hà mới có 2 nhà máy và cụm
công nghiệp Đông Lễ có 4 nhà máy đi vào hoạt động).
Môi trường không khí xung quanh các khu vực này chưa có dấu hiệu ô nhiễm. Tuy
nhiên, trong khu vực nhà máy, mức độ ô nhiễm này là rất đáng quan tâm, đặc biệt hiện
tại là nhà máy MDF (bụi, tiếng ồn và khí độc phát sinh từ lò đốt, từ các công đoạn
nghiền dăm, phun hơi Ure Fomaldêhyt, chà nhám, vận chuyển, bốc dỡ ảnh hưởng rất lớn
đến cán bộ công nhân viên). Trong tương lai khi các KCN, CCN được lấp đầy với sự
hoạt động của các ngành chế biến lâm sản, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến kim loại
và cơ khí... có tác động cộng gộp chắc chắn môi trường không khí khu vực này sẽ bị ô
nhiễm.
Mức độ ô nhiễm không khí phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết, địa hình và
sự bố trí các KCN, CCN (Đặc trưng thời tiết của Đông Hà là gió Tây Nam hoạt động
mạnh vào mùa hè, nhiệt độ cao, độ ẩm thấp; mặt khác các KCN, CCN hầu hết được bố
trí nằm đầu hướng gió nên mức độ ô nhiễm càng tăng).
2.2. HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC
2.2.1. Các nguồn gây ô nhiễm môi trường nước
Nguồn nước bị ô nhiểm có nhiều nguyên nhân gây ra, nhưng tựu trung lại thì có
các nguyên nân sau:
- Nước thải từ khu dân cư: Nước thải từ các hộ gia đình, bệnh viện, khách sạn,
trường học, cơ quan chứa các chất thải trong quá trình sinh hoạt, vệ sinh của con người
gọi chung là nước thải sinh hoạt, nước thải từ khu dân cư hoặc nước thải vệ sinh. Hiện
nay, lượng nước cấp trên địa bàn thành phố Đông Hà đạt 100lít/người.ngày. Như vậy,
tổng lượng nước thải sinh hoạt 0,1 x 85.044 x 0,8 = 6.803m
3
/ngày.đêm.
Đặc điểm cơ bản của nước thải sinh hoạt là có hàm lượng cao các chất hữu cơ
không bền vững, dễ bị phân huỷ sinh học, chất dinh dưỡng, chất rắn và vi trùng.
- Nước thải công nghiệp: Nước thải công nghiệp là nước thải từ các cơ sở sản xuất
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Trong đó, hiện nay đáng chú ý nhất là nước thải của
các vị trí cấp nước cho mục đích khác (không cấp cho mục đích sinh hoạt), các thông số
chất lượng nước nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 08:2008/BTNMT, cột B2
(Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước mặt). Đối với các vị trí quan trắc
nước phục vụ cho cấp nước sinh hoạt (sông Vĩnh Phước - cách trạm bơm 1 khoảng
02km về phía thượng nguồn, …), hầu hết các thông số chất lượng nước nằm trong giới
hạn cho phép theo QCVN 08:2008/BTNMT, cột A1 (Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về
chất lượng nước mặt, sử dụng tốt cho mục đích sinh hoạt). Tuy nhiên, tuỳ theo thời điểm
chất lượng nước sông Vĩnh Phước nói riêng cũng như các con sông khác trên địa bàn
Thành phố nói chung có sự biến động, thường sau trận mưa lớn ở đầu nguồn, nước sông
thường đục và có màu đỏ, do đó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng nước cấp cho sinh
hoạt. Tại vị trí trạm bơm cấp nước sinh hoạt vào tháng 12/2008 hàm lượng tổng các chất
rắn lơ lửng vượt gấp 4,42lần, hàm lượng sắt vượt 8,75 lần so với QCVN
08:2008/BTNMT, cột A1.
Mặc dù hiện nay chất lượng nước của 2 con sông trên chưa đến mức đáng báo
động, tuy nhiên cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, việc xả các loại nước thải chưa
qua xử lý vượt quá khả năng tự làm sạch của các con sông sẽ làm ô nhiễm môi trường.
- Nước ao, hồ, đập:
Các chỉ số chất lượng nước của các ao hồ đập đều nằm trong giới hạn cho phép theo
QCVN 08:2008/BTNMT, cột B2 (Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước mặt).
Với vai trò chủ yếu cung cấp nước cho tưới tiêu, nuôi trồng thuỷ sản, điều hoà vi khí
hậu và phát triển du lịch, chất lượng nước của các ao, hồ hiện nay đáp ứng được các mục
11
Niên luận Trần Hữu Định
đích trên. Tuy nhiên, ngoài các vai trò trên các ao, hồ, đập trên địa bàn Thành phố còn là nơi
tiếp nhận nước thải của các khu vực lân cận với các hoạt động đi kèm như công nghiệp,
sinh hoạt của dân cư, … .
b. Nước ngầm:
Nước dưới đất vùng Thành phố Đông Hà tồn tại dưới 2 dạng chính: Trong các lổ
hổng và các tầng chứa nước khe nứt của đất đá chứa nước gọi là các tầng chứa nước lổ
xây dựng tại ngã tư Sòng.
Hệ thống cấp nước chính có tổng chiều dài khoảng 77.362m đến hầu hết các khu
vực trên Thành phố bao gồm 05 loại tuyến cấp từ DN100 đến DN500.
Bảng 2.1 - Hiện trạng đường ống cấp nước chính thành phố Đông Hà
TT Loại tuyến Tổng chiều Số Chiều dài Năm xây dựng
12
Niên luận Trần Hữu Định
dài (km) tuyến xuống cấp (km)
1 DN100 35,7 31 13,4 1977 – 2003
2 DN150 0,85 02 - 1986
3 DN200 16,1 10 2,2 1985 – 2005
4 DN300 14,2 05 9,5 1977 – 2005
5 DN400 10,5 02 2,2 1977 – 2005
6 DN500 0,5 01 - 2000
Hiện nay đã có khoảng 85% tương đương với khoảng 15.035 hộ được sử dụng
nước máy từ nguồn cung cấp của Công ty TNHH MTV Cấp nước và Xây dựng Quảng
Trị, lượng nuớc cấp bình quân đầu người đạt 100l/người/ngày.đêm. Tuy nhiên, các khu
vực xa trung tâm nguồn nước vẫn còn tình trạng thiếu nước máy nên người dân phải
dùng thêm giếng khoan. Mặt khác, do các tuyến đường ống cấp nước trên địa bàn thành
phố được đầu tư xây dựng từ rất lâu (1977-2005) nên hiện nay đã có nhiều tuyến đường
ống bị xuống cấp nghiêm trọng gây thất thoát từ 25-30% lượng nước cấp trên địa bàn
thành phố.
Một vấn đề rất đáng lo ngại đến chất lượng nguồn nước sinh hoạt của thành phố là
quá trình khai thác cát sạn, nuôi trồng thuỷ sản và chăn thả gia súc trên sông Vĩnh Phước
về phía thượng lưu khoảng 1km so với trạm bơm cấp nước. Nguồn nước ngầm Gio Linh
bổ sung cho thành phố Đông Hà cũng có dấu hiệu bị tác động do hiện tượng người dân
khoan nước tự phát phục vụ sinh hoạt gia đình trong khu vực mỏ nước ngầm.
b. Hiện trạng thoát nước:
vào khoảng 51 tấn rác/ngày. Do mật độ dân số giữa các phường trong thành phố Đông Hà
là không đồng đều nên khối lượng và thành phần rác thải ở các phường cũng khác nhau
dẫn đến khó khăn cho công tác lựa chọn và phân vùng, phân tuyến cho công tác thu gom
và xử lý chất thải rắn.
b. Rác thải công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp:
Theo niên giám thống kê Đông Hà năm 2008 thì các cơ sở kinh doanh đang hoạt
động trên địa bàn Thành phố là 554 doanh nghiệp, trong đó rất nhiều các loại hình sản
xuất kinh doanh khác nhau, từ khai khoáng, chế biến đến thương mại dịch vụ,... đối với
mỗi loại hình sản xuất sẽ tạo ra một nguồn chất thải tương ứng. Trong số các chất thải từ
sản xuất kinh doanh thì có một số chất thải rắn có tính chất nguy hại khi được thải trực
tiếp vào môi trường.
Nhìn chung chất thải rắn được thải ra từ các hoạt động công nghiệp ở Thành phố
Đông Hà ước tính khoảng 10 - 20% tổng lượng rác thải sinh hoạt, tức là 10,2 tấn/ngày,
song cho tới nay loại chất thải công nghiệp này vẫn chưa được thu gom và quản lý tốt,
chủ yếu được các chủ doanh nghiệp tái sử dụng hay hợp đồng với công ty môi trường
thu gom trong đó có không ít những chất độc hại vẫn chưa được phân loại và xử lý một
cách khoa học. Mặt khác, đối với những cơ sở có lượng chất thải không nhiều thì
thường được chủ cơ sở đổ chung với rác thải thông thường sau đó hợp đồng đơn vị thu
gom trên địa bàn vận chuyển đi xử lý.
c. Rác thải y tế:
Trên địa bàn Thành phố có 2 bệnh viện với 550 giường bệnh, 01 trung tâm y tế dự
phòng tỉnh, 01 phòng khám sức khoẻ cán bộ và và 9 trạm y tế của 9 phường với 58
giường bệnh trong Thành phố. Ngoài ra, trên địa bàn Thành phố các phòng khám tư
nhân chiếm một lượng rất lớn. Theo điều tra cho thấy, lượng chất thải rắn không nguy
hại khoảng 0,6 - 1,2 tấn/ngày, lượng chất thải rắn nguy hại khoảng 120 - 240kg/ngày.
d. Các nguồn khác:
- Lượng chất thải rắn phát sinh từ thương mại, du lịch chiếm 1% tổng chất thải rắn
sinh hoạt. Tức là 0,51 tấn/ngày.
14
quan, nhà hàng, trường học... khoảng 550 thùng) và 130 công nhân thu gom, quét rác.
Các thùng rác lưu động bằng nhựa với dung tích 140 lít, 240 lít và 660 lít được sử
dụng để lưu giữ rác tại các khu chợ, công sở và các nhà hàng. Rác trong các thùng hàng
ngày sẽ được thu gom trực tiếp bằng các xe ép cuốn rác nói trên.
Công ty hiện đã thu gom 9/9 phường với 14.000 hộ dân, 445 cơ quan, công sở và 2
nhà máy, xí nghiệp sản xuất (Dệt Hoà Thọ và Nhà máy xi măng Đông Hà).
Tất cả rác thu gom trong các xe ép cuốn rác được chuyên chở trực tiếp đến bãi
chôn lấp chất thải rắn của Thành phố nằm trên diện tích 6,2ha cách trung tâm Thành
phố khoảng 5km, cách vùng dân cư khoảng 3km. Hơn 1ha đất này hiện đã chứa đầy
rác.
b. Đối với chất thải rắn nguy hại:
Đối với chất thải rắn nguy hại công nghiệp, chưa được thu gom và xử lý riêng mà
đang trộn lẫn với các loại rác thải khác. Trong thời gian tới Thành phố cần phải điều tra,
đánh giá lượng chất thải rắn nguy hại phát sinh trong hoạt động công nghiệp nhằm đề
xuất hướng xử lý kịp thời.
Đối với chất thải rắn y tế: Việc phân loại rác thải tại các cơ sở cơ bản đã được đầu
tư thực hiện, tuy nhiên việc xử lý chất thải y tế nguy hại còn nhiều bất cập.
15
Niên luận Trần Hữu Định
Trên địa bàn Thành phố chỉ có bệnh viện Đa khoa Tỉnh được đầu tư lò đốt với
công suất 400kg rác/01 lần đốt. Hiện tại, bệnh viện vận hành lò đốt 03 lần/tuần, khối
lượng rác thải mang xử lý khoảng 200kg/01lần đốt; lò đốt tương đối hiện đại, có 01
công nhân vận hành.
Bệnh viện Thành phố và Trung tâm Y tế dự phòng tự xử lý rác tại bãi rác của
thành phố Đông Hà bằng cách định kỳ vận chuyển đến bãi chôn lấp, đào hố cho rác vào
và đốt bằng dầu. Tần suất xử lý như thế đối với Trung tâm Y tế dự phòng là 3- 6
tháng/lần và bệnh viện Thành phố là 01 tháng/lần. Bệnh viện Thành phố không xử lý
bông băng theo phương pháp trên mà hợp đồng với Công ty TNHH MTV Môi trường và
Công trình Đô thị Đông Hà thu gom và xử lý chôn lấp tại bãi rác Thành phố, 9 trạm y tế
- Phòng ngừa ô nhiễm và suy thoái môi trường, đặc biệt đối với các vùng đô thị
hoá và công nghiệp hoá.
- Từng bước cải thiện chất lượng môi trường nước, không khí, đất tại các khu dân
cư trong đô thị và các khu công nghiệp, đặc biệt chú trọng đến vấn đề thoát nước, xử lý
nước thải và vệ sinh môi trường
- Bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên
- Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về BVMT, nâng cao nhận thức của cộng
đồng về BVMT.
3.1.3. Định hướng quy hoạch phát triển đô thị Đông Hà đến năm 2020
a. Chỉnh trang, cải tạo khu vực đô thị cũ:
- Mở rộng, nâng cấp và thông tuyến một số đường giao thông trong khu vực dân
cư, giải quyết về cấp nước, thoát nước và vệ sinh môi trường.
- Kết hợp vừa cải tạo, vừa xây mới lại một số khu dân cư cũ, thấp tầng, mật độ nhà
thưa, tổ chức quy hoạch thành các khu dân cư tập trung nằm xen kẽ trong các khu chức
năng, được quy hoạch theo khuôn viên, xây dựng các công trình công cộng như nhà trẻ,
17
Niên luận Trần Hữu Định
mẫu giáo, khu thể dục thể thao, các thiết chế văn hoá khu phố, các cơ sở thương mại,
dịch vụ. Trên cơ sở khai thác một số quỹ đất trống để làm vườn hoa, trồng cây xanh, tạo
không gian mở, làm đẹp cảnh quan đô thị.
- Định hướng cải tạo và xây mới hình thành 9 khu dân cư trên địa bàn 9 phường
hiện nay.
b. Xây dựng các khu vực đô thị mới:
- Quy hoạch xây dựng các khu đô thị mới tại các địa điểm có không gian mặt bằng,
gần các trục đường giao thông quan trọng, tạo điểm nhấn cho quá trình phát triển đô thị,
mở rộng không gian nội thị.
- Tập trung đầu tư xây dựng các khu đô thị mới theo quy hoạch, thực hiện tốt các
chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của một đô thị hiện đại, có đầy đủ dịch vụ hạ tầng kỹ thuật và
xã hội hoá đa dạng, tiện nghi, có khuôn viên cây xanh.
- Xây dựng Đông Hà thành trung tâm thương mại, dịch vụ lớn, có quy mô cấp
vùng ở khu vực miền Trung và trên hành lang Đông - Tây.
- Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng thương mại, du lịch, xây dựng mạng lưới chợ;
hình thành một số cụm thương mại, dịch vụ; cụm du lịch sinh thái - công viên văn hoá,
thể thao…
- Phát triển đa dạng các hoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ, du lịch. Chú
trọng một số lĩnh vực kinh doanh dịch vụ chất lượng cao như siêu thị, cửa hàng cao cấp,
dịch vụ tài chính - ngân hàng, viễn thông, công nghệ thông tin, khoa học - kỹ thuật.
- Phấn đấu tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất của ngành đạt bình quân 12 -
13%/năm thời kỳ 2008 - 2010 và 14 - 15% thời kỳ 2011 - 2020; chiếm tỷ trọng 55 - 60%
giá trị GDP toàn Thành phố, thu hút 59 - 60% lao động xã hội và đóng góp trên 70% thu
ngân sách địa phương.
b. Định hướng phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp:
Mục tiêu phát triển
- Phấn đấu tăng giá trị sản xuất công nghiệp - TTCN bình quân thời kỳ 2011 -
2020 tăng 21 - 22%. Nâng tỷ trọng đóng góp của ngành công nghiệp chiếm 33 - 34%
tổng GDP toàn Thành phố.
- Ngành công nghiệp - TTCN thu hút, tạo việc làm cho 22 nghìn lao động tham gia
vào hoạt động công nghiệp vào năm 2020, chiếm khoảng 31 - 32% tổng lao động xã hội.
- Đến hết năm 2010 xây dựng hoàn thành và phấn đấu lấp đầy 60 - 70% diện tích
các khu công nghiệp Nam Đông Hà, cụm công nghiệp Đông Lễ, hoàn thành hạ tầng các
khu công nghiệp phía Tây. Sau 2010, tiếp tục xây dựng cơ sở hạ tầng cho các cụm công
nghiệp khác, đẩy mạnh thu hút cá c dự án đầu tư. Đến năm 2020, phấn đấu lấp đầy trên
80 - 90% diện tích các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn.
Định hướng phát triển một số ngành công nghiệp chủ yếu
Trong giai đoạn 2008 - 2020, trên địa bàn Thành phố Đông Hà tập trung phát triển
một số ngành công nghiệp chủ đạo như:
- Công nghiệp chế biến nông, lâm sản, thực phẩm, đồ uống
- Công nghiệp chế biến kim loại và cơ khí.
- Công nghiệp dệt may, da giày.
- Tiếp tục chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng: Tăng tỷ
trọng ngành chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản; chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi,
cơ cấu mùa vụ hợp lý; đa dạng các loại cây trồng, trong đó xác định mũi nhọn là phát
triển vùng rau xanh, cây ăn quả và lúa; chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tăng tỷ
trọng lao động phi nông nghiệp.
- Tăng cường áp dụng công nghệ hiện đại, tiên tiến, công nghệ sinh học, công nghệ
sạch, sử dụng các giống cây trồng, vật nuôi mới, tạo bước đột phá về năng suất, chất
lượng trong nông nghiệp, tăng giá trị thu nhập, hiệu quả trên một đơn vị diện tích canh
tác, nâng cao đời sống dân cư khu vực nông nghiệp.
- Phát huy thế mạnh mỗi khu vực, hình thành các vùng sản xuất chuyên canh cây
trồng có giá trị cao, tạo nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Gắn sản xuất nông,
lâm, ngư nghiệp với các cơ sở thu mua, tiêu thụ, chế biến nông sản, ổn định thị trường.
- Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp theo hướng bền vững, gắn với bảo vệ tài nguyên
đất, nguồn nước, môi trường sinh thái.
3.1.5. Những vấn đề môi trường tồn tại và yêu cầu giải quyết
a. Những vấn đề môi trường cấp bách liên quan đến phát triển công nghiệp:
20