CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN KIỂM TOÁN VÀ
TƯ VẤN TÀI CHÍNH KẾ TOÁN (AFC)
I.QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
Công ty kiểm toán và tư vấn tài chính kế toán Sài Gòn tiền thân là chi nhánh (tại Thành
phố Hồ Chí Minh) của Công ty dòch vụ kế toán ASC thành lập ngày 26 tháng 03 năm 1992 (trụ
sở chính đặt tại Hà Nội).
Tháng 9 năm 1993, Công ty ASC được Bộ tài chính giao thêm chức năng hoạt động
kiểm toán để đáp ứng cho nhu cầu về dòch vụ kiểm toán ngày càng gia tăng của nền kinh tế và
Công ty ASC đã đổi tên thành Công ty Dòch vụ Tư vấn Tài chính kế toán và Kiểm toán AASC.
Do hoạt động có hiệu quả, chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh của AASC đã nhanh
chóng tạo được chỗ đứng vững chắc trong ngành kiểm toán và tư vấn còn non trẻ của Việt
Nam. Để đáp ứng kòp thời nhu cầu của thò trường dòch vụ kiểm toán, đặc biệt là nhu cầu sử
dụng dòch vụ kiểm toán của các doanh nghiệp tại các vùng kinh tế, các khu công nghiệp tập
trung và các công trình trọng điểm phiá Nam, để đảm bảo mức tăng trưởng cho Công ty và tạo
sự cạnh tranh thúc đẩy phát triển thò trường dòch vụ Kiểm toán, đến 13/02/1995, Bộ tài chính
đã ban hành quyết đònh số 108TC/TCCB cho phép chuyển chi nhánh thành một công ty Kiểm
toán độc lập với tên gọi “Công ty Kiểm toán và Tư vấn Tài chính kế toán Sài Gòn” (tên tiếng
Anh là “SaiGon Auditing and Accounting Financial Consulting Company”, gọi tắt là AFC –
Saigon), có trụ sở chính tại số 138 Nguyễn Thò Minh Khai, Quận 3, TP.Hồ Chí Minh.
Năm 2004 đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong lòch sử của công ty: việc
cổ phần hóa và đăng ký kinh doanh thành công của Công ty Cổ phần AFC. Sau khi đại hội cổ
đông thành lập được tổ chức vào ngày 24/04/2004 cho đến khi Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Hồ
Chí Minh cấp giấy phép đăng ký kinh doanh ngày 22/12/2004, Công ty Cổ phần Kiểm toán
và Tư vấn Tài chính Kế toán (AFC) đã chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/2005.
Dưới hình thức công ty cổ phần, Công ty AFC sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh phát
triển nhờ vào kinh nghiệm và bản lãnh đã đạt được qua quá trình là doanh nghiệp Nhà nước và
với cơ chế công ty cổ phần tháo gỡ các vướng mắc khó khăn để đạt mục tiêu kinh doanh của
công ty trong giai đoạn mới.
II.TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY AFC
Cơ cấu tổ chức nhân sự ở một phòng nghiệp vụ
2
Chi nhánh Hà Nội
Văn phòng chính Chi nhánh Cần Thơ
Công ty
3 P.PGĐ
5 P.NV
BP.VI TÍNH P.PTKD
P.TC-HC-QT
P.TVDTH
L
Các nhóm được phân không cố đònh và khi cần thì các kiểm toán viên có thể hợp tác
với nhau để cùng thực hiện kiểm toán cho một khách hàng.
III. MỤC TIÊU HOẠT ĐỘNG, DỊCH VỤ CUNG CẤP VÀ THÀNH QUẢ ĐẠT ĐƯC
1/.Mục tiêu hoạt động của Công ty AFC
Với phương châm “Thành công của khách hàng chính là thành công của chúng tôi”,
toàn thể đội ngũ cán bộ công nhân viên Công ty với trình độ nghiệp vụ vững vàng cộng với sự
nhiệt tình trong phục vụ khách hàng luôn hướng đến mục tiêu to lớn và lâu dài của Công ty Cổ
phần AFC “Phấn đấu trở thành Công ty dòch vụ chuyên ngành hàng đầu trên thế giới, cống
hiến cho sự thành công của khách hàng trong việc thực hiện mục tiêu kinh doanh của họ”.
2/. Các dòch vụ của công ty AFC
Dòch vụ kiểm toán
Dòch vụ tư vấn thuế
Dòch vụ tư vấn văn phòng công ty
Dòch vụ đào tạo huấn luyện
Dòch vụ kế toán
Dòch vụ quản lý doanh nghiệp
Tư vấn quản trò tài chính
Dòch vụ khác 664 500 424 85% 64% 3%
Cộng 12.351 12.850 12.396 96% 100% 100%
Do Công ty CP Kiểm toán đăng ký niên độ kế toán đầu tiên từ ngày 01/01/2005 đến ngày
30/06/2005 và căn cứ vào tình hình thực hiện năm 2004 của các đơn vò, Hội đồng Quản trò
Công ty đề ra kế hoạch doanh thu năm 2005 của toàn Công ty là 10,6 tỷ đồng, trong đó doanh
thu năm 2005 của VP. TP. Hồ Chí Minh là 7,5 tỷ. Kế hoạch chi tiết theo từng đơn vò sẽ được
Ban Giám đốc Công ty phân bổ cụ thể sau.
3.2.Khách hàn g
Công ty AFC đã cung cấp các dòch vụ chuyên ngành cho hàng ngàn lượt khách hàng,
với hơn 600 khách hàng thường xuyên thuộc mọi thành phần kinh tế: doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài, doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần, công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân.
Ngoài ra, khách hàng của Công ty còn bao gồm nhiều tổ chức và chương trình tài trợ quốc tế.
Chính khách hàng thường xuyên đã giới thiệu khách hàng mới cho Công ty nên lượng
khách hàng của Công ty AFC ngày càng đông hơn. Sự giới thiệu khách quan đầy tính thuyết
phục này thể hiện được chất lượng và phong cách phục vụ tốt của Công ty.
Thêm vào đó, mối quan hệ với Tập đoàn kiểm toán BDO ngày càng gắn bó và phát
huy tác dụng. Bên cạnh những khách hàng do BDO trực tiếp giới thiệu, thông qua thương hiệu
BDO, Công ty đã tiếp cận và tìm kiếm được nhiều khách hàng mới và dòch vụ mới.
3.3.Nhân sự
Số lượng nhân viên nghiệp vụ của Công ty từ 35 người trong năm 1995 nay đã vượt
qua con số 150 người, trong đó gần 50% là kiểm toán viên cấp Nhà nước. Cán bộ công nhân
viên nghiệp vụ 100% có trình độ đại học và trên đại học, được đào tạo từ nhiều nguồn, nhiều
lónh vực chuyên môn. Ngoài ra, Công ty còn có một đội ngũ cộng tác viên là các chuyên viên
có nhiều kinh nghiệm trong công tác kế toán, kiểm toán và tư vấn.
4
IV. PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG TRONG TƯƠNG LAI
1/. Nhiệm vụ chiến lược
Phát triển mối quan hệ với Tập đoàn Kiểm toán BDO.
Tăng cường chất lượng dòch vụ.
Đưa hoạt động công ty cổ phần vào nề nếp, ổn đinh.
Thương hiệu: triệt để khai thác thương hiệu BDO để thu hút khách hàng có vốn đầu tư
nước ngoài.
Chất lượng: đảm bảo thực hiện kiểm toán đúng theo yêu cầu của BDO đối với khách
hàng BDO và khách hàng nhạy cảm.
Đòa bàn hoạt động
Tiếp tục giữ vững vò thế đã xây dựng được ở các tỉnh miền Đông, TP. Hồ Chí Minh,
củng cố hoạt động tại thò trường các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long và mở rộng đòa bàn hoạt
động ra miền trung và các tỉnh miền Đông. Cụ thể nghiên cứu để tiến tới lập Văn phòng tại
Bình Dương và Thành phố Đà Nẵng.
Phát triển các dòch vụ tư vấn, kế toán; nghiên cứu khai thác các loại hình dòch vụ mới:
đầu tư, tư vấn doanh nghiệp …
Nhân lực
Tăng nguồn nhân lực mới: Bằng cách đa dạng hóa trong chính sách tuyển dụng nhân
viên.
Huấn luyện nội bộ: Tiếp tục tổ chức các lớp đào tạo nội bộ theo chương trình BDO đã
được áp dụng từ năm 2004.
Huấn luyện lấy bằng CPA quốc tế: cử cán bộ theo học chương trình lấy bằng CPA quốc
tế tổ chức tại Việt Nam.
Nhân viên tư vấn: tuyển dụng nhân viên tư vấn (đầu tư, tài chính, kế toán, thuế ...) có
kinh nghiệm phục vụ khách hàng nước ngoài.
Nâng cao trình độ ngoại ngữ: có chính sách hợp lý để nâng cao trình độ tiếng Anh của
nhân viên. Tìm kiếm những phương án phù hợp để đưa nhân viên đi thực tập và làm việc tại
các văn phòng của BDO khu vực.
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN HÀNG TỒN KHO
6
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHOẢN MỤC HÀNG TỒN KHO
1/.Nội dung
Hàng tồn kho là tài sản lưu động của doanh nghiệp biểu hiện dưới hình thái vật chất.
7
vốn hàng bán cũng được thực hiện ngay trong quá trình kiểm toán hàng tồn kho. Điều này
được thể biểu hiện qua sơ đồ sau:
2/. Đặc điểm:
Trong nhiều doanh nghiệp, hàng tồn kho thường được đánh giá là một khoản mục trọng
yếu và có rủi ro tiềm tàng cao. Kiểm toán hàng tồn kho thường phức tạp nhất và là phần mất
thời gian nhất của cuộc kiểm toán vì những lý do sau:
• Hàng tồn kho thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của đơn vò và thường là
khoản mục rất lớn trong tài sản lưu động, đặc biệt là đối với doanh nghiệp thương mại hoặc
sản xuất. Những sai phạm trên khoản mục hàng tồn kho thường dẫn đến những sai sót trọng
yếu về chi phí và kết quả kinh doanh. Nếu hàng tồn kho bò đánh giá sai lệch sẽ ảnh hưởng
trọng yếu đến mức độ trung thực và hợp lý của các báo cáo tài chính.
• Số lượng và chủng loại hàng tồn kho thường rất phong phú, số lượng nghiệp vụ phát
sinh trong kỳ rất nhiều với giá trò lớn và liên quan đến nhiều loại chứng từ.
• Hàng tồn kho có khả năng bò giảm giá trò so với giá trò sổ sách rất nhiều do hao mòn
hữu hình và vô hình, nên dễ bò mất giá, hư hỏng hay lỗi thời. Giá trò hàng tồn kho có thể không
được điều chỉnh thích hợp và bò trình bày sai lệch trên báo cáo tài chính.
• Vấn đề kiểm soát vật chất hàng tồn kho gặp nhiều khó khăn do hàng tồn kho thường
được cất giữ, bảo quản ở nhiều nơi khác nhau và được nhiều bộ phận quản lý. Nếu đơn vò được
kiểm toán không có chính sách quản lý chặt chẽ sẽ dễ xảy ra những sai sót hoặc gian lận.
• Có nhiều phương pháp được sử dụng để đánh giá hàng tồn kho như: nhập trước xuất
trước, nhập sau xuất trước, bình quân gia quyền, thực tế đích danh. Với mỗi phương pháp khác
nhau thì giá trò hàng tồn kho sẽ khác nhau do đó lợi nhuận cũng sẽ khác nhau. Ngoài ra, hạch
toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên hay kiểm kê đònh kỳ cũng tác động
rất nhiếu đến quá trình luân chuyển chứng từ, ghi chép sổ sách kế toán.
• Việc khoá sổ hàng tồn kho cần bảo đảm rằng đã chia cắt niên độ đúng đắn để không
ảnh hưởng đến báo cáo tài chính, nhất là tại các đơn vò áp dụng phương pháp kiểm kê đònh kỳ.
Giá trò hàng
tồn kho đầu kỳ
-Giá trò hàng
Đơn vò có quyền sở hữu đối với tất cả hàng tồn kho được
liệt kê.
Sự chính xác Sự ghi chép chính
xác
Số liệu chi tiết hàng tồn kho được tính toán chính xác và
thống nhất ghữa sổ cái và sổ chi tiết
Sự đầy đủ Sự đầy đủ Các nghiệp vụ liên quan đến hàng tồn kho đều phải ghi
chép và báo cáo
Đánh giá Đánh giá Hàng tồn kho được đánh giá đúng theo giá thấp hơn
giữa giá gốc và giá trò thuần có thể thực hiện được
Trình bày và
công bố
Trình bày và
công bố
Việc trình bày và khai báo hàng tồn kho phải đầy đủ và
đúng đắn.
4/. Tài khoản sử dụng:
Theo hệ thống tài khoản kế toán áp dụng trong doanh nghiệp, hàng tồn kho gồm những
khoản mục sau:
Tài khoản 151: Hàng mua đang đi trên đường
Tài khoản 152: Nguyên liệu, vật liệu
Tài khoản 153: Công cụ, dụng cụ
Tài khoản 154: Chi phí sản xuất king doanh dở dang
Tài khoản 155: Thành phẩm
Tài khoản 156: Hàng hoá
Tài khoản 157: Hàng gửi đi bán
Tài khoản 159: Dự phòng giảm giá hàng tồn kho.
Giá vốn hàng bán được trình bày trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Phần I-
Lãi, lỗ). Trong hệ thống tài khoản kế toán của Việt Nam, giá vốn hàng bán thể hiện qua tài
khoản:
được
phân bổ
Sản xuất
chung thực
tế
Nliệu đã
sử dụng
CP lao
động trực
tiếp sx
thực tế
Tồn kho
cuối kỳ
Mua vào
Tồn kho
đầu kỳ
Nguyên liệu
Lao động trực tiếp
CP lao
động trực
tiếp sản
xuất được
phân bổ
Chu kỳ mua
vào và thanh
toán
Sản xuất chung
Sản phẩm
đang chế tạo
Thành phẩm
Phương pháp phân bổ PM cho TE
Phương pháp xét đoán trực tiếp
Trình tự xác đònh mức trọng yếu:
Bước 1: ước tính ban đầu về mức trọng yếu của báo cáo tài chính –PM (mức trọng yếu ban
đầu)
Bước 2: xác đònh mức trọng yếu của từng khoản mục – TE (còn gọi là sai sót tối đa có thể chấp
nhận được)
Bước 3: ước tính sai lệch trong từng khoản mục
Bước 4: ước tính mức sai lệch tổng hợp trên báo cáo tài chính
Bước 5: tùy theo kết quả so sánh để đưa ra kết luận về báo cáo tài chính.
11
2/. Đánh giá rủi ro kiểm toán
Bất kỳ cuộc kiểm toán nào cũng đều có những hạn chế tiềm tàng, xuất phát từ nhiều
nguyên nhân khác nhau. Chính vì thế mà khả năng để kiểm toán viên nhận xét không xác
đáng về báo cáo tài chính là luôn luôn có thể xảy ra. Vấn đề đặt ra là cần phải tìm cách giới
hạn khả năng đó ở mức độ chấp nhân được. Vì vậy, ngay từ giai đoạn chuẩn bò kiểm toán,
kiểm toán viên phải đánh giá rủi ro kiểm toán
2.1 Khái niệm rủi ro kiểm toán
“Rủi ro kiểm toán là rủi ro do kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến nhận
xét không thích hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn có những sai sót trọng yếu”.
( Trích đoạn 7 VAS 400)
Rủi ro kiểm toán sẽ xảy ra khi báo cáo tài chính còn chứa đựng những sai lệch trọng
yếu nhưng kiểm toán viên lại nhận xét rằng chúng được trình bày trung thực và hợp lý.
Các kiểm toán viên thường xem xét rủi ro kiểm toán ở 2 mức độ:
a) Rủi ro kiểm toán ở mức độ toàn bộ báo cáo tài chính
Các kiểm toán viên thường xem xét đến những nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro như: nhân
tố về quản lý, các nhân tố về hoạt đông, các nhân tố về kế toán, kiểm toán
Mục đích của việc xác đònh rủi ro ở mức độ báo cáo tài chính là nhằm:
Quyết đònh xem có nên nhận lời kiểm toán hay không
Quyết đònh thời gian chiến lược và nhân sự cho cuộc kiểm toán. Nếu rủi ro được
Cao
Tối thiểu Thấp Trung bình
Trung bình
Thấp Trung bình Cao
Thấp
Trung bình Cao Tối đa
Mô hình rủi ro kiểm toán:
AR = IR x CR x DR hoặc DR = AR / (IR x CR)
Với: AR: rủi ro kiểm toán
IR: rủi ro tiềm tàng
CR: rủi ro kiểm soát
DR: rủi ro phát hiện
2.3 Rủi ro kiểm toán đối với hàng tồn kho
Để có thể xác đònh mức độ rủi ro tiềm tàng cho khoản mục hàng tồn kho và giá vốn
hàng bán hợp lý, kiểm toán viên cần chú ý đến những thông tin có tính chất như sau:
Hàng hoá dễ bò lỗi thời, khó tiêu thụ trên thò trường (ví dụ: quần áo sản xuất theo
mùa vụ, thò hiếu của người thiêu dùng), hao mòn vô hình của hàng tồn kho.
Hàng hoá có giá trò cao như vàng bạc, đá q…
Hàng hoá dễ bò lỗi thời, giảm giá trò hao mòn hữu hình như các thiết bò điện tử (ví
dụ: máy tính, ti vi…)
Các vò trí chủ chốt ở bộ phận kế hoạch sản xuất, bộ phận kế toán thường xuyên thay
đổi.
Khi kiểm toán hàng tồn kho và giá vốn hàng bán, việc tìm hiểu hệ thống kế toán và
kiểm soát nội bộ rất quan trọng. Nếu hệ thống kiểm soát nội bộ không được thiết lập hoăïc hoạt
13
động không hữu hiệu thì khả năng xảy ra rủi ro kiểm soát rất cao. (Phần này sẽ được nói đến
rõ hơn ở mục “Tìm hiểu và đánh giá kiểm soát nội bộ” ).
Đối với việc giảm thiểu rủi ro phát hiện, kiểm toán viên khi thực hiện kiểm toán khoản
mục hàng tồn kho cần phải xem xét những vấn đề sau:
- Thu thập những bằng chứng bên ngoài đơn vò như hoá đơn, hợp đồng bán hàng hoá,
của sản phẩm trên thò trường, đònh giá của nguyên vật liệu trên thò trường.
14
Tìm hiểu xem sản phẩm của đơn vò có được hưởng những quy đònh đặc biệt về thuế suất
như: thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt; những sản phẩm được nhà nước
khuyến khích đầu tư… Những hiểu biết này sẽ giúp kiểm toán viên xác đònh được cơ sở của giá
nguyên liệu, vật liệu đầu vào.
1.2. Hiểu biết về nhà cung ứng hàng hoá và hình thức cung ứng
Kiểm toán viên cần thu thập những thông tin như:
Danh sách những nhà cung ứng chính
Các hợp đồng cung ứng
Những điều kiện về sở hữu
Hạn sử dụng của nguyên liệu
Bên cạnh đó, thông tin về mức độ ổn đònh của nhà cung cấp hàng hoá, dòch vụ có ảnh
hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất và tính liên tục trong sản xuất kinh doanh. Vì chỉ cần nhà
cung cấp vật tư chính của đơn vò vì một lý do nào đó không cung cấp nguyên liệu kòp thời thì
việc sản xuất của doanh nghiệp sẽ bò đình trệ.
1.3.Hiểu biết về chu kỳ sản xuất
Để có thể kiểm toán phương pháp tính giá thành, việc hiểu biết về chu kỳ sản xuất của
khách hàng là rất quan trọng. Kiểm toán viên cần đi tham quan nhà máy, phân xưởng sản xuất
trước khi bắt đầu kiểm tra hàng tồn kho. Nhờ đó, kiểm toán viên sẽ thu thập được những thông
tin về thời gian của một chu kỳ sản xuất, nhòp độ sản xuất, phương pháp theo dõi sản xuất…
Đặc điểm hoạt động kinh doanh liên tục hay theo thời vụ sẽ giúp kiểm toán viên xác
đònh được các tháng cao điểm sản xuất, so sánh mức công suất sản xuất sản phẩm.
1.4.Hiểu biết về hàng gửi tại kho cuả bên thứ ba
Trong trường hợp doanh nghiệp có hàng tồn kho được gửi tại kho của bên thứ ba, kiểm
toán viên cần thu thập những thông tin có liên quan như hợp đồng, biên bản giao nhận hàng
tồn kho…, đồng thời lên kế hoạch tham gia kiểm kê để đảm bảo rằng lượng hàng tồn kho đó có
thực và thuộc sở hữu của doanh nghiệp, và tránh những trường hợp doanh nghiệp khai giảm
hàng tồn kho, hoặc không đầy đủ số hàng mang đi gửi.
2/. Tìm hiểu và đánh giá kiểm soát nội bộ:
hiện các thử nghiệm kiểm soát. Còn nếu rủi ro kiểm soát được đánh giá ở mức tối đa việc thực
hiện các thử nghiệm kiểm soát sẽ trở nên không cần thiết.
Kiểm toán viên thường đánh giá rủi ro kiểm soát ở mức cao đối với cơ sở dẫn liệu của
Báo cáo tài chính trong trường hợp:
- Hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ không đầy đủ
- Hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ không hiệu quả
- Kiểm toán viên không được cung cấp đầy đủ cơ sở để đánh giá sự đầy đủ và hiệu
quả của hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ của khách hàng
Kiểm toán viên thường đánh giá rủi ro kiểm soát ở mức không cao đối với cơ sở dẫn
liệu của Báo cáo tài chính trong trường hợp:
- Kiểm toán viên có đầy đủ cơ sở để kết luận hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ
được thiết kế có thể ngăn ngừa, phát hiện và sửa chữa các sai sót trọng yếu
- Kiểm toán viên có kế hoạch thực hiện thử nghiệm kiểm soát làm cơ sở cho việc
đánh giá mức độ rủi ro kiểm soát.
16
2.3 Thiết kế và thực hiện các thử nghiệm kiểm soát
Để đánh giá sự hữu hiệu của kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên có thể thiết kế và thực
hiện các thử nghiệm kiểm soát sau:
a). Đối với nghiệp vụ mua hàng
- Kiểm tra thứ tự, tính liên tục của các đơn đặt hàng trong kỳ
- Kiểm tra sự độc lập của các nhân viên hoặc các bộ phận
- Chọn mẫu một số nghiệp vụ để:
Kiểm tra về sự xét duyệt trên đơn đặt hàng
Đối chiếu giữa các đơn đặt hàng, báo cáo nhận hàng và hoá đơn người bán về số lượng,
giá cả
b). Đối với quá trình nhập kho và xuất kho hàng:
- Quá trình nhập kho: nhân viên nhận hàng phải kiểm tra chất lượng và số lượng hàng
mua có khớp với hoá đơn bán hàng hay không, bộ phận có nghiệp vụ lập phiếu nhập kho, thủ
kho sẽ ghi sổ kho, kế toán ghi vào sổ tổng hợp và chi tiết hàng nhập kho.
- Quá trình xuất kho: Xem xét các thủ tục nhập hàng có được thực hiện đúng nguyên
nghiệm chi
tiết
- Chứng kiến kiểm kê hàng tồn kho
- Xác nhận hay chứng kiến kiểm kê đối với
hàng tồn kho được gửi ở kho đơn vò khác
Hiện hữu, đầy đủ
- Kiểm tra việc đánh giá hàng tồn kho Đánh giá
- Kiểm tra tổng hợp kết quả kiểm kê Ghi chép chính xác
- Kiểm tra việc khoá sổ hàng tồn kho Đầy đủ
- Xem xét việc trình bày và công bố báo Trình bày và công bố
1/. Thực hiện thủ tục phân tích hàng tồn kho
Những thủ tục phân tích giúp kiểm toán viên đánh giá sự hợp lý về mặt tổng thể của
giá trò hàng tồn kho và giá vốn hàng bán, đồng thời dự đoán về khả năng có xảy ra sai sót
trong số liệu của đơn vò. Các thủ tục phân tích thường được sử dụng bao gồm:
1.1 So sánh số dư hàng tồn kho đầu kỳ với cuối kỳ
Mục đích của việc so sánh này là để phát hiện sai số do hàng tồn kho thừa hay thiếu.
Kiểm toán viên sẽ tính tổng số dư của các loại hàng tốn kho là nguyên vật liệu, sản phẩm dở
dang, thành phẩm, hàng hoá, hàng mua đang đi trên đường, hàng gửi bán… và so sánh với tổng
số dư kỳ trước.
Nếu giá trò hàng tồn kho cuối kỳ tăng hoặc giảm đáng kể so với kỳ trước, kiểm toán
viên sẽ phải xem xét đến các khoản mục chi tiết và số vòng quay của hàng tồn kho để tìm ra
nguyên nhân của sự bất thường đó vì có thể khi xét trên tổng số dư không có biến động bất
thường nhưng xét trên khoản mục chi tiết lại có.
Khi so sánh tổng số dư hàng tồn kho giữa các kỳ, kiểm toán viên cần chú ý loại trừ biến
động giá mà số dư hàng tồn kho kỳ này vẫn biến động bất thường so với kỳ trước, kiểm toán
viên cần phải tìm hiểu nguyên nhân cụ thể.
Mặt khác kiểm toán viên có thể so sánh tỷ trọng của hàng tồn kho trên tổng tài sản lưu
động giữa kỳ này với kỳ trước để xem có biến động lớn hay không.
1.2 So sánh số vòng quay hàng tồn kho với kỳ trước
So sánh số vòng quay hàng tồn kho của năm hiện hành với năm trước thường được thực
2/. Thử nghiệm chi tiết
2.1 Chứng kiến kiểm kê hàng tồn kho
Chứng kiến kiểm kê hàng tồn kho là một thủ tục hữu hiệu và bắt buộc đối với khoản
mục này. Đoạn 6 VAS 501 có nêu: “Trường hợp hàng tồn kho được xác đònh là trọng yếu trong
báo cáo tài chính thì kiểm toán viên phải thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp về
Số dư hàng tồn kho bình quân
19
Giá vốn hàng bán trong kỳ
Số dư nguyên vật liệu bình quân
Tổng số dư nguyên vật liệu xuất trong kỳ
sự hiện hữu và tình trạng của hàng tồn kho bằng cách tham gia công việc kiểm kê hiện vật, trừ
khi việc tham gia là không thể thực hiện được…”
Thông thường có 2 phương pháp tính số lượng hàng tồn kho ở thời điểm cuối năm:
- Dựa theo phương pháp kê khai thường xuyên
- Kiểm kê hàng tồn kho đònh kỳ
Tuy nhiên phương pháp thông dụng hơn để tính số lượng hàng tồn kho là thông qua việc
kiểm kê đònh kỳ.
Bên cạnh việc kiểm tra số lượng hàng tồn kho công ty đang nắm giữ, việc kiểm kê còn
giúp cho việc đònh giá chất lượng của hàng tồn kho và cung cấp thêm một phần chứng cứ về
quyền sở hữu của công ty đối với hàng tồn kho. Trách nhiệm của Ban quản lý là phải đảm bảo
hàng tồn kho được kiểm kê một cách chính xác. Việc tham gia kiểm kê hàng tồn kho của kiểm
toán viên chỉ nhằm đảm bảo là kết quả của cuộc kiểm kê là có thể tin cậy được, như là một
bằng chứng cho số lượng hàng tồn kho có thể thực hiện trên sổ sách đơn vò.
Trình tự tiến hành chứng kiến kiểm kê hàng tồn kho như sau:
Trước khi tham kê:
Kiểm toán viên cần lên kế hoạch kiểm kê gồm các yếu tố sau:
Ngày tham gia kiểm kê và các thủ tục kiểm toán cần thiết
Nơi tham gia kiểm kê, gồm cả kho thuê và kho gửi nhờ hàng hoá
Xem xét lại hồ sơ kiểm kê năm ngoái
Lên kế hoạch chi phí, thời gian cần thiết cho 1 cuộc kiểm kê
kho chính xác. Thu thập và kiểm tra biểu mẫu kiểm kê, những biểu mẫu hư hỏng hoặc không
dùng đều phải được thu hồi.
- Đảm bảo rằng mọi sự khác biệt trong khi kiểm đếm đều được giải thích. Nếu không
giải thích được thì phải ghi nhận đầy đủ lên bảng kiểm đếm.
- Quan sát việc kiểm soát hàng hoá nhập xuất khi đang tiến hành việc kiểm kê. Bảo
đảm rằng mọi hàng hoá lỗi thời, chậm luân chuyển, hư hỏng đều được ghi nhận.
- Kiểm tra có hay không những hàng hoá không thuộc sở hữu của đơn vò tồn tại trong
kho. Bảo đảm rằng các hàng hoá này được xác nhận và tách biệt, loại ra khi kiểm đếm hàng
tồn kho
- Quan sát các thủ tục liên quan đến hàng hoá nhập xuất trong quá trình kiểm kê. Ghi
nhận chi tiết các hàng hoá như vậy để thực hiện việc kiểm tra sau đó.
- Đối với hàng đang chuyển: thu thập danh sách các hàng đang chuyển, chỉ rõ:
Số hoá đơn, tên nhà cung cấp
Ngày hàng hoá sẽ đến
Mô tả hàng hoa
Chi tiết phương thức vận tải
21
- Khóa sổ : Thu thập và ghi nhận trên giấy làm việc các chi tiết thủ tục khoá sổ sau:
Hàng nhập: Phiếu nhập kho hàng hoá sau cùng trước khi kiểm kê
Hàng xuất: Phiếu xuất kho hàng hoá sau cùng trước khi kiểm kê
Hàng nhập xuất nội bộ: Phiếu xuất, nhập kho nội bộ phát hành trước khi kiểm kê
Những thủ tục này nhằm bảo đảm các lô hàng bán của đầu năm sau phải được kiểm kê và
tính vào hàng tồn kho cuối kỳ và lượng hàng của lô hàng nhận cuối cùng trong năm cũng đã
được kiểm kê.
Sau khi kiểm đếm
Bảo đảm rằng mọi phiếu kiểm đếm, thẻ đếm đều đã được nộp về cho người có trách
nhiệm. Mọi khác biệt giữa kiểm đếm và sổ sách, lần đếm 1 và 2 đều được giải quyết.
Thảo luận bất kỳ điểm yếu nào trong thủ tục kiểm kê của khách hàng với lãnh đạo của
đơn vò để đảm bảo các điểm yếu này được sửa chữa ngay trong khi kiểm kê hay trong các cuộc
kiểm kê tương lai.
Các loại hàng tồn kho thường được xếp vào loại này là nguyên liệu, chi tiết rời mua
ngoài và vật tư. Bước đầu tiên kiểm toán viên cần xác đònh rõ phương pháp đang sử dụng là
LIFO, FIFO, bình quân gia quyền, thực tế đích danh hay một phương pháp nào khác. Cũng cần
xác đònh chi phí nào phải được đưa vào quá trình đánh giá một khoản mục cá biệt của hàng tồn
kho
Xác đònh những bộ phận chi phí cấu thành của giá hàng nhập kho như giá mua, thuế
nhập kho, chi phí mua hàng, chiết khấu.
Khi lấy mẫu kiểm tra, kiểm toán viên nên sử dụng kỹ thuật phân nhóm để có thể chọn
phương pháp cũng như phạm vi kiểm tra thích hợp cho từng nhóm. Nên chọn các mặt hàng đặc
thù để đánh giá, trọng tâm phải được đặt vào những món tiền lớn nhất và vào những sản phẩm
có dao động lớn về giá, phải có một mẫu đại diện của tất cả các mặt hàng tồn kho.
Kiểm toán viên cần liệt kê các mặt hàng sẽ kiểm tra việc đánh giá, sau đó yêu cầu đơn
vò cung cấp những hoá đơn có liên quan. Cần chù ý đến số lượng trên hóa đơn, và tùy theo
phương pháp đánh giá mà kiểm toán viên chọn cách kiểm tra cách tính toán cho thích hợp.
Việc kiểm tra đủ hoá đơn có tác dụng giúp phát hiện những trường hợp mà khách hàng đánh
giá hàng tồn kho chỉ dựa trên hoá đơn mới nhất và trong một số trường hợp để phát hiện hàng
tồn kho cũ kỹ, lạc hậu.
Khi khách hàng có sổ sách thường xuyên ghi chép các chi phí đơn vò của những lần mua
vào thì kiểm toán viên nên khảo sát quá trình đònh giá bằng cách đối chiếu chi phí đơn vò với
sổ sách thường xuyên hơn là với hoá đơn của người bán, sau đó tính toán lại trên sổ chi tiết.
Khi đònh giá hàng tồn kho cần xem xét chi phí lòch sử hay chi phí thay thế thấp hơn. Chi
phí mới nhất của một mặt hàng tồn kho được chỉ rõ trên hoá đơn của người bán của chu kỳ đó
là cách làm hữu ích để kiểm tra chi phí thay thế, nhưng cũng phải xem xét giá trò tiêu thụ của
mặt hàng tồn kho và ảnh hưởng khả dó của sự dao động nhanh về giá.
Đònh giá hàng tồn kho được sản xuất ra
Tương tự như hàng nhập kho, kiểm toán viên xác đònh trò giá hàng xuất kho của đơn vò
được tính theo phương pháp nào và có nhất quán với kỳ trước không. Sự thay đổi phương pháp
tính giá thành sẽ ảnh hưởng đến giá trò hàng xuất kho, phản ánh sai lệch kết quả kinh doanh.
Nếu đơn vò có thay đổi phương pháp tính giá hàng xuất kho thì kiểm toán viên cần kiểm tra
xem sự thay đổi này có được trình bày trên Bảng thuyết minh báo cáo tài chính không.
liệu sử dụng, kiểm toán viên có thể tiến hành bằng cách so sánh với đònh mức sử dụng nguyên
vật liệu.
Đối chiếu nguyên vật liệu xuất dùng cho các đối tượng có đúng vào chi phí của đối
tượng đó hay không, bằng cách lấy mẫu một số phiếu xuất vật tư để kiểm tra việc ghi sổ vào
các tài khoản chi phí có hợp lý không. Ngoài ra, có thể đối chiếu với phiếu yêu cầu vật tư hoặc
đối chiếu với báo cáo sử dụng vật tư của phân xưởng sản xuất.
b). Đối với chi phí nhân công trực tiếp
24
Kiểm tra chi phí tiền lương là một phần của chương trình kiểm toán tiền lương và nhân
sự. Do đó, kiểm toán viên có thể đối chiếu với số liệu của phần hành này.
Kiểm toán viên phải kiểm tra cả về số lượng, ngày công, giờ công và đơn giá tiền
lương. Chẳng hạn, kiểm toán viên có thể đối chiếu với bảng lương và đònh mức lao động.
c). Đối với chi phí sản xuất chung:
Kiểm tra chi phí sản xuất chung có thể phức tạp hơn các khoản mục trên nhưng thông
thường kiểm toán viên chủ yếu kiểm tra những khoản chi phí cơ bản và có số tiền lớn.
Ngoài việc kiểm tra quá trình tập hợp chi phí, kiểm toán viên còn phải quan tâm đến
việc áp dụng các phương pháp phân bổ chi phí sản xuất chung như kiểm tra về tính hợp lý và
việc áp dụng nhất quán của những phương pháp này. Kiểm toán viên cần lưu ý những điểm
sau:
Đối với tiền lương: kiểm tra đơn vò có hạch toán nhầm chi phí lương của bộ phận quản
lý và bán hàng vào chi phí sản xuất kinh doanh không. Bên cạnh đó, kiểm toán viên có thể
tham chiếu với phần hành của kiểm toán chi phí tiền lương.
Đối với chi phí dòch vụ mua ngoài: Chọn mẫu một số nghiệp vụ bất thường và kiểm tra
những chi phí đó có thực sự xảy ra không và nếu xảy ra thì đó có phải làø chi phí hợp lý không.
Kiểm tra việc lập dự phòng
Kiểm tra việc lập dự phòng đã lập có phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện
hành hay không. Theo VAS 02 việc lập dự phòng phải tuân thủ một số nguyên tắc như:
Phải dựa trên cơ sở từng mặt hàng
Phải dựa trên những bằng chứng đáng tin cậy có được tính đến thời điểm ứơc tính
và cũng phải chú ý đến những sự kiện sau ngày kết thúc niên độ.