lãi suất tại các ngân hàng thương mại Việt Nam nam 2010 - Pdf 21

MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
DANH SÁCH NHÓM 1 3
PHẦN TRÌNH BÀY 4
1.Cơ sở lý thuyết 4
2.Đặt vấn đề 5
2.1.Diễn biến lãi suất huy động và cho vay 5
a.Lãi suất cơ bản 5
b.Lãi suất huy động và lãi suất cho vay VND 5
2.2.Diễn biến tình hình huy động vốn và dư nợ tín dụng ở các NHTM 11
3.Một số tác động của tình trạng lãi suất cao đến nền kinh tế 14
4.Nguyên nhân lãi suất cho vay tăng cao 16
5.Nhận xét 20
6.Một số giải pháp được đề xuất 21
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
CHỦ ĐỀ 1: Hiện nay lãi suất tiền đồng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
đang có nghịch lý, lãi suất cho vay đang ở mức rất cao trong khi đó tăng trưởng
nguồn vốn huy động trong chín tháng đầu năm 2010 đã vượt quá so với mức tăng
của dư nợ tín dụng. Theo anh (chị) đâu là nguyên nhân của thực trạng này.
PHẦN TRÌNH BÀY
1. Cơ sở lý thuyết
Lãi suất: Lãi suất được hiểu theo một nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng -
giá cả của quan hệ vay mượn hoặc cho thuê những dịch vụ về vốn dưới hình thức tiền
tệ hoặc các dạng tài sản khác nhau. Khi đến hạn, người đi vay sẽ phải trả cho người
cho vay khoản tiền dôi ra ngoài số tiền vốn gọi là tiền lãi. Tỷ lệ phần trăm của số lãi
trên số tiền vốn gọi là lãi suất.
Ở tầm kinh tế vĩ mô: lãi suất là một công cụ điều tiết cho vay kinh tế nhạy bén
và hiệu quả, thông qua việc thay đổi mức và cơ cấu lãi suất trong từng thời kỳ. Lãi
suất cao hay thấp do quan hệ cung cầu vốn quyết định. Khi tổng cầu bằng tổng cung
thì lãi suất đạt được ở mức cân bằng. Nếu tổng cung tăng, tổng cầu không đổi thì lãi
suất cân bằng thiết lập ở mức thấp hơn. Ngược lại, khi tổng cầu tăng còn tổng cung


Bảng 1: Diễn biến lãi suất điều hành năm 2010 của Ngân hàng nhà nước
Vào thời điểm hiện nay, những tháng đầu năm 2011, lãi suất cơ bản bằng đồng
Việt Nam vẫn được giữ ở mức 9%.
b. Lãi suất huy động huy động và cho vay VND
Lãi suất huy động VND
Duy trì đà tăng của lãi suất huy
động vào những tháng cuối năm 2009,
nhìn chung vào năm 2010, lãi suất huy
động VND về cơ bản đã gia tăng ở
những tháng đầu năm, giảm và duy trì ổn
định trong quý II, quý III và gia tăng
mạnh trong hai tháng cuối năm. Để thấy
được tình hình này, hãy cùng nhìn lại
những khoảng mốc thời gian với số liệu
Lãi suất cho vay:
Lãi suất cho vay trong năm 2010 thể
hiện hai điểm nóng là trong những tháng đầu
năm (trước và sau khi thực hiện lãi suất thoả
thuận theo Thông tư số 07/2010/TT-NHNN) và
hai tháng cuối năm lãi suất cho vay ở mức khá
cao.
3
thực tế trên thị trường đầy biến động này.
Quý I/2010
Hiện tượng nổi bật trên thị trường
tín dụng ngân hàng quí I/2010 là khả
năng huy động vốn rất khó khăn (nhưng
lại không đồng đều trong toàn hệ thống
mà khó khăn tập trung chủ yếu vào các

07/2010/TT-NHNN về áp dụng lãi suất thoả
thuận cho các khoản tín dụng trung và dài
hạn, 12% năm cho tín dụng ngắn hạn.
Chính điều đó đã làm cho các ngân hàng
thương mại chuyển các khoản cho vay ngắn
hạn sang cho vay trung, dài hạn để áp dụng lãi
suất thoả thuận tới 16 - 20%/năm.
Quý II, III/2010
CPI quý II/2010 tăng quá thấp đã làm
giảm đáng kể mối lo về lạm phát, thậm chí có ý
kiến cho rằng Việt Nam đã hoàn toàn kiểm soát
được lạm phát cả năm 2010 nên NHNN Việt
Nam tiếp tục duy trì lãi suất cơ bản ở mức 8%
như từ tháng 12/2009 nhằm phát tín hiệu về ổn
định chính sách lãi suất trong khi thực thi chính
sách tín dụng nới lỏng với mặt bằng lãi suất cho
vay phổ biến khoảng 13 - 14%/năm.
Mặt khác, các NH trên thực tế dù đã được tự
quyết định lãi suất nhưng do cạnh tranh nên
khó có thể đẩy lãi suất lên cao. Tình hình chung
là mặt bằng lãi suất cho vay đang bắt đầu hạ
xuống, tại ACB còn 14-14,5%/năm, chia làm
bốn mức. Khách hàng doanh nghiệp đã quan hệ
4
động cao nhất là 11,1%/năm kỳ hạn 12
tháng. Các kỳ hạn ngắn đều dưới
11%/năm: 1 tháng 10,56%/năm, 3 tháng
10,86%/năm, 6 tháng 10,98%/năm.)
Cuộc đua tăng lãi suất huy động
VND đã quay lại trong tháng 5/2010 với

trường hợp lên tới 18%.
Bảng 2: Mức lãi suất cho vay tối đa của một
số ngân hàng vào đầu quý II/2010
Xu thế lãi suất trên thị trường tiền tệ tín dụng
vẫn không thể vận động theo yêu cầu của Nghị
Quyết 23 ngày 7/5/2010 của Chính phủ là đưa
lãi suất huy động xuống mức 10%/năm và lãi
suất cho vay xuống 12%/năm. Cho đến đầu
tháng 7/2010, NHNN đã phải áp dụng một số
biện pháp hành chính là thoả thuận với các
NHTM lớn để thực hiện mức lãi suất 12%/năm
đối với tín dụng cho các doanh nghiệp thuộc
lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu và
5
doanh nghiệp nhỏ và vừa. Để thực hiện nhiệm
vụ này, Ngân hàng nhà nước đã tích cực hỗ trợ
vốn cho các Ngân hàng thương mại thông qua
hoạt động của thị trường mở và thị trường liên
ngân hàng nên mặt bằng lãi suất cho vay VND
vào quý II và quý III có xu hướng giảm dần
(giảm khoảng 1%), một số đối tượng và ngành
nghề kinh doanh có mức giảm lớn hơn (giảm 2
- 2,5%) như: các khoản vay để sản xuất nông –
lâm – ngư nghiệp, doanh nghiệp xuất khẩu, chi
phí sản xuất của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Tuy vậy, tới trên 90% các doanh nghiệp Việt
Nam là nhỏ và vừa nên tính khả thi của thoả
thuận này ít được đảm bảo. Lãi suất tín dụng
ngân hàng vẫn phải vận động dựa trên các qui
luật thị trường trong khi NHNN chưa có chính

thiện rất nhiều so với năm 2009 và trước
nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp trong nền
kinh tế trong bối cảnh lãi suất vay vốn
ngày càng cao, dưới sự hỗ trợ của NHNN
và sự đồng thuận của các ngân hàng, lãi
suất huy động một lần nữa được điều
chỉnh xoay quanh mức 10,8 – 11% năm.
Tuy nhiên, trước sức ép của lạm phát vào
những tháng cuối năm, tỷ lệ lãi suất huy
động ở lần điều chỉnh giảm thứ hai đã
ngay lập tức gia tăng sau khi NHNN thực
hiện điều chỉnh tăng lãi suất cơ bản lên
9%. Mặt bằng lãi suất huy động mới được
thiết lập ở mức 12% năm và tiếp tục có
xu hướng gia tăng mạnh, có thời điểm
giao động xoay quay mức 17 – 18%
năm.
Biểu đồ 2: Lãi suất huy động từ
tháng 9 đến tháng 12 năm 2010
ĐIỀN HÌNH: Vào hồi giữa tháng
12/2010, Techcombank là ngân hàng đầu
tiên công khai chương trình khuyến mại
với lãi suất “khủng” 17% một năm. Ngay
QuýIV/2010
Trước những diễn biến không thuận lợi của
kinh tế vĩ mô, mặt bằng lãi suất cho vay đã tăng
cao trở lại trong hai tháng cuối năm, dao động
trong khoảng 13,5 – 18,5% năm , có thời điểm
lên tới 19 - 20% năm.

diễn tình trạng một số ngân hàng đẩy lãi
suất huy động lên 17-18%/năm bằng cách
lãi suất tiết kiệm vẫn niêm yết 14%/năm,
nhưng lại ghi thêm phiếu chi thưởng
3,8% lãi suất đối với những khách hàng
tiền tỷ.
Quý I/2011
Bước sang năm 2011, vào cuối tháng
2/2011, lãi suất cho vay vẫn có dấu hiệu tăng
và ở mức cao, lãi suất cho vay VND bình quân
ở mức 16,23% năm (cho vay lĩnh vực nông
nghiệp, nông thôn và xuất khẩu ở mức 14-16%
năm; lĩnh vực phi sản xuất là 18-20%/năm).
Chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi
suất huy động bình quân VND chỉ còn khoảng
2,5%/năm, thấp hơn so với mấy năm trước (con
số này là 4,62%/năm năm 2008; 4,45%/năm
trong năm 2007; 4,63%/năm trong năm 2006 và
3,42%/năm trong năm 2005).
8
 Như vậy theo đà tăng của lãi suất huy động, lãi suất cho vay cũng tăng cao.
Vậy thì điều đó có ảnh hưởng gì đến tình hình huy động vốn và dư nợ tín
dụng của các Ngân hàng thương mại?
2.2Diễn biến tình hình huy động vốn và dư nợ tín dụng ở các Ngân hàng
thương mại:
Thực tế cho thấy, dư nợ tín dụng ở nhiều ngân hàng năm 2010 không cao trong
khi đó nguồn vốn huy động được lại rất lớn.
Quý I/2010
Theo thông tin được đề cập trong báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tại phiên
họp Chính phủ diễn ra từ ngày 30/3 - 1/4/2010 thì tăng trưởng tín dụng VND ước đạt

(Tại Tp.HCM, tính đến cuối tháng 9 tín dụng ngoại tệ đạt 186.000 tỷ đồng, tăng
36,4%, gấp bốn lần so với mức tăng tín dụng VND). Sự mất cân đối này đang lên đến
mức báo động khi các doanh nghiệp khai thác cơ hội bằng cách tăng vay ngoại tệ,
chuyển đổi sang đồng Việt Nam rồi gửi ngược trở lại ngân hàng, hưởng chênh lệch về
lãi suất. Việc làm này có thể gây mất cân bằng hệ thống ngân hàng, gia tăng áp lực lên
tỷ giá tiền đồng vào thời điểm các khoản vay đáo hạn.
Đến 16/9, so với cùng kì năm trước, vốn huy động tăng thêm 21,5%, tín dụng
đối với nền kinh tế tăng 17,81%. Trong đó, tỷ trọng chính trong tổng huy động vốn
vẫn là huy động vốn ngắn hạn chiếm hơn 80%, trong đó, tiền gửi có kỳ hạn tập trung
chủ yếu ở dải kỳ hạn dưới 6 tháng.
Ví dụ thực tế: Kết thúc tháng 7/2010, tại ngân hàng Oceanbank, tổng vốn huy
động đạt hơn 38.725 tỉ đồng trong lúc tổng dư nợ đầu tư cho nền kinh tế mới dừng ở
12.519 tỉ đồng. Cũng cùng khoảng thời gian trên tại ngân hàng LienVietbank tổng dư
nợ ở mức khiêm tốn trong khi nguồn vốn huy động đạt được 20.000 tỉ đồng.
Quý IV/2010
Nhìn chung vào quý IV tình hình huy động vốn và dư nợ tín dụng vẫn diễn ra
theo xu hướng cũ. Trong 10 tháng đầu năm 2010, dư nợ tiền gửi tăng mới chỉ đạt
22,8%. Tuy vậy, mức tăng này vẫn cao hơn tăng trưởng tín dụng. Càng làm tăng tính
nghịch lý trong lãi suất tiền đồng hiện nay. Nhiều ngân hàng thương mại đều có chung
tình trạng trên. Điển hình như thông tin từ HDBank: Trong năm 2010, HDBank bội
thu về huy động vốn với 21.583 tỉ đồng, vượt 2,8% kế hoạch năm và tăng 81,97% so
với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó tổng dư nợ tín dụng của NH này dù đạt tới
71,2% kế hoạch năm và tăng khoảng 11,4% so với cùng thời điểm năm 2009 chỉ dừng
lại ở con số 7.474 tỉ đồng.
STT Ngân hàng Vốn huy động Dư nợ
10
(triệu VNĐ)
(tiền gửi khách hàng)
(triệu VND)
(cho vay khách hàng)

3. Một số tác động của tình trạng lãi suất cao đến nền kinh tế (cụ thể là qui
trình kinh doanh sản xuất của các doanh nghiệp)
 Thứ nhất, lãi suất tiền gửi cao khiến những người gửi tiền có lợi hơn, nhất là
khách hàng nhiều tiền (có cả một số doanh nghiệp). Còn trong khi đó khách hàng vay
vốn lại không biết mình sẽ còn phải chịu lãi suất vay cao đến đâu trong tháng kế tiếp
vì trong hợp đồng tín dụng hiện nay nhiều NHTM ghi rõ lãi suất sẽ điều chỉnh 1
tháng/lần tùy mặt bằng LS của hệ thống (trước đây là 6 tháng/lần hoặc tùy theo sự thay
đổi mức lãi suất cơ bản của NHNN).
Ví dụ:ĐIỂN HÌNH: Một nhân viên tín dụng của chi nhánh NHTM Nhà nước
nói: “Lãi suất cao thì lại đổ vào đầu khách hàng thôi. Khi đã cần tiền đến ngân hàng
thì lãi suất cao cũng phải vay. Vay được là mừng rồi vì tìm đâu ra ngoài xã hội hàng tỷ
đồng mà vay? Nếu có phải chấp nhận lãi suất rất cao hoặc chi hoa hồng đến 10%/tổng
món vay chịu sao nổi.”.
 Tình trạng lãi suất vay vốn hiện quá cao khiến việc đầu tư gần như bị
đình trệ. Nhiều doanh nghiệp sản xuất trong tình trạng cầm chừng. Doanh nghiệp
không vay thì không thể nào đầu tư lớn, không thể đổi mới công nghệ, không thể đa
dạng hóa sản phẩm và càng khó lòng có sản phẩm chất lượng để cạnh tranh với sản
phẩm ngoại nhập.
Theo Ông Cao Sỹ Kiêm (chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ): “Lãi
suất vay vốn quá cao như hiện nay đang vượt quá sức chịu đựng của doanh nghiệp.
Nếu vay vốn lãi suất 20% thì kinh doanh phải có lãi 30%, doanh nghiệp mới huề vốn
nhưng trong thời điểm này kinh doanh gì để có lãi 30% là bài toán khó. Hàng loạt
doanh nghiệp đang co cụm lại, chờ lãi suất dễ thở hơn mới dám tính toán làm ăn. Một
khi doanh nghiệp không dám làm ăn sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy cho nền kinh tế, hàng hóa
khan hiếm, giá cao, hàng sản xuất ra không tiêu thụ được, lao động không có việc làm,
kinh tế tăng trưởng chậm lại. Để tồn tại, nhiều doanh nghiệp đang phải xoay xở đủ
cách nhưng sức chịu đựng của doanh nghiệp có hạn. Giảm lãi suất để cứu doanh
nghiệp là điều tất yếu phải làm.
Thiết nghĩ, doanh nghiệp cứ phải chịu trận vay với mức lãi suất cao như vậy thì
có chịu nổi và chuyện doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm trên thị trường bán ở mức

 Thứ hai, kim ngạch xuất khẩu tăng, tỷ trọng nhập siêu giảm - đây là hiện tượng
đáng mừng cho nền kinh tế hiện tại của nước ta. Vấn đề là, hiện nay, các doanh nghiệp
xuất khẩu đang phải tiếp cận vốn từ các ngân hàng với mức lãi suất còn cao, lại không
dễ dàng bởi các thủ tục thẩm định và tái thẩm định của quá trình vay vốn. Để kim
ngạch xuất khẩu vẫn giữ được đà tăng trưởng, giảm lãi suất cho vay là một yếu tố quan
trọng giúp các doanh nghiệp xuất khẩu bảo đảm chỉ tiêu kế hoạch năm và đây là mối
quan tâm đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước trong nỗ lực giữ giá trị đồng nội tệ.
13
4. Nguyên nhân lãi suất cho vay tăng cao
Lãi suất cho vay tăng cao xuất phát từ nhiều nguyên nhân, sau đây nhóm xin
trình bày 3 nhóm nguyên nhân chính gây nên tình trạng này.
* ẢNH HƯỞNG CỦA NỀN KINH TẾ VĨ MÔ TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
• Lạm phát cao vượt dự kiến: Lý giải vấn đề này, TS.Võ Trí Thành, Phó viện
trưởng Viện Nghiên cứu quản lý Trung ương cho rằng: “Lạm phát cao thì lãi suất sẽ bị
đẩy lên”. Đồng quan điểm đó, theo TS. Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát
tài chính quốc gia: “Lạm phát cao khiến lãi suất phải cao để đảm bảo lãi suất thực
dương mới có thể hấp dẫn người gửi tiền. Lạm phát cao đã khiến người dân không còn
muốn cất giữ tiền mặt, thay vào đó đầu tư các tài sản có tính thanh khoản tốt và thường
tăng theo lạm phát là USD và vàng. Vì vậy, các ngân hàng không những khó huy động
vốn mà tiền tiết kiệm được rút ra để đầu tư vào các tài sản có tính an toàn cao hơn.
Mặt khác, lạm phát cao còn khiến lượng tiền gửi bị sụt giảm mạnh do thu nhập thực tế
của người dân suy giảm, phần tiền tiết kiệm bị co lại. Thiết yếu các NHTM phải nâng
lãi suất huy động để cạnh tranh làm cho lãi suất cho vay cao”.
Sau đây chúng ta hãy xem tình hình chỉ số CPI trong 2 năm 2009 và 2010.
Biểu đồ 3: Diễn biến CPI các tháng trong 2 năm 2009 - 2010.
Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm 2010 vẫn cao ở đầu và cuối năm, thấp
ở giữa năm. Tăng thấp giai đoạn giữa năm, thậm chí có năm giảm một số tháng, không
phải là bất thường mà do sản xuất ở giai đoạn này đã vào guồng, cung cầu không có
đột biến lớn. Tuy nhiên, mức tăng thấp kỷ lục của các tháng giữa năm 2010 có sự khác
14

tục chao đảo dưới tác động của các yếu tố bất định như sự phục hồi của kinh tế toàn
cầu hay khả năng “khủng hoảng kép”, khủng hoảng nợ của khu vực EURO có thể giải
quyết hay sẽ lan rộng từ Hy Lạp, Ireland sang Bồ Đào Nha và cả Tây Ban Nha, thậm
chí đặt ra cả vấn đề EURO tồn tại hay không tồn tại, nâng giá đồng tiền hay phá giá
mạnh để duy trì tính cạnh tranh.
* ẢNH HƯỞNG TỪ CHÍNH SÁCH CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
15
• Chính sách tiền tệ thắt chặt: Trước sức nóng của lạm phát tăng cao , đến đầu
tháng 11, tín hiệu thắt chặt lại xuất hiện. Ngày 5/11/2010, NHNN quyết định điều
chỉnh các lãi suất thêm 1%, lãi suất cơ bản lên 9%, lãi suất tái cấp vốn lên 9%, lãi suất
tái chiết khấu lên 7%, cung tiền và tín dụng cũng thu hẹp tốc độ tăng, chốt lại cả năm
M2 còn tăng 23%, tín dụng tăng 27,65% so với cuối năm 2009. Động thái này cho
thấy NHNN đang sử dụng chính sách thắt chặt tiền tệ để phòng chống lạm phát. Trong
thời gian qua, NHNN cũng đã hạn chế cung tiền qua thị trường mở. Khi GDP vượt chỉ
tiêu Quốc Hội, các NH thi nhau đưa ra mức lãi suất thỏa thuận, buộc các NH khác
không tăng thì không thể huy động được nguồn vốn nhàn rỗi cực lớn trong dân chúng.
• Sức ép từ Thông tư 13: Thông tư 13 yêu cầu nâng hệ số an toàn vốn tối thiểu
CAR từ 8% lên 9% và quy định số tiền cho vay không quá 80% huy động được. Trước
khi có quy định hầu hết các ngân hàng Việt Nam đều có hệ số CAR chưa đạt đến 9%
và dư nợ cho vay lớn hơn vốn huy động. Hiện tại, các ngân hàng đang gặp rất nhiều
khó khăn trong việc huy động vốn dù lãi suất huy động đã lên rất cao. Do vậy, các
ngân hàng sẽ tiếp tục gặp nhiều trở ngại để đảm bảo những quy định của Thông tư 13.
Ngoài ra, quy định tại Thông tư 13 còn nâng hệ số rủi ro đối với các khoản cho vay
đầu tư bất động sản và chứng khoán từ 100% lên 250%. Do vậy, các ngân hàng đã
phải hạn chế cho vay và tăng cường huy động vốn để đáp ứng được quy định trên. Đây
là một nguyên nhân khá quan trọng đẩy nhu cầu huy động vốn lên cao và buộc các
ngân hàng phải hạn chế cho vay.
• Áp lực tăng vốn, theo Nghị định 141/2006 của Chính phủ, đến 31-12-2010 là
hạn chót để các ngân hàng phải đảm bảo nâng vốn lên tối thiểu 3.000 tỉ đồng. Đây là
áp lực rất lớn đối với các ngân hàng nhỏ, nhất là ngân hàng có vốn điều lệ quanh mức

• Quy mô của các ngân hàng không đồng đều: Tính đến tháng 9 năm 2010,
mạng lưới hệ thống NH VN gồm có 43 NHTM nội địa (trong đó có 4 NH thuộc 100%
vốn sở hữu của Nhà nước, VCB và Vietinbank do Nhà nước chiếm đa số vốn), 5 NH
100% vốn nước ngoài, 47 chi nhánh NH nước ngoài, 5 NH liên doanh. Nếu các ngân
hàng cùng áp dụng một mức trần lãi suất tiền gửi (ví dụ như đối với VND hiện
12%/năm) thì người gửi tiền thường chọn các NHTM Nhà nước hoặc ngân hàng quy
mô lớn để gửi vì họ tin tưởng năng lực chi trả và thích sự thuận tiện (mạng lưới rộng)
của các ngân hàng này hơn. Các ngân hàng nhỏ chịu nhiều bất lợi do yếu về thương
hiệu, uy tín, thiếu về mạng lưới nên tất yếu phải cạnh tranh bằng lãi suất. Các ngân
hàng thương mại Việt Nam đứng trước áp lực cạnh tranh từ phía các ngân hàng nước
ngoài với năng lực tài chính tốt hơn, công nghệ, trình độ quản lý và hệ thống sản phẩm
đa dạng và có chất lượng cao hơn, có thể đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng. Hệ
thống ngân hàng cần đáp ứng các chuẩn mực về an toàn theo thông lệ quốc tế như tỷ lệ
an toàn vốn tối thiểu, trích lập dự phòng rủi ro, phân loại nợ theo chuẩn mực kế toán
quốc tế.
• Tính thanh khoản của các NHTM nước ta không tương đồng: thậm chí rất
khác nhau nên các NHTM có thanh khoản không tốt (thường là NHTM qui mô nhỏ và
trung bình) buộc phải đẩy lãi suất huy động lên khi giảm sự trông cậy vào thị trường
liên ngân hàng, do đó, kéo theo các NHTM có thanh khoản tốt hơn vào cuộc đua lãi
suất. Theo các chuyên gia, trong 36 loại rủi ro hoạt động tài chính ngân hàng thì rủi ro
17
thanh khoản được coi là nguy hiểm nhất. Kinh doanh lĩnh vực này, chẳng ai quên bài
học “vỡ lòng” đó nhưng lâu nay, không ít trường hợp vì lòng tham, vì “ăn xổi” đã tự
đẩy mình vào thế “giật gấu vá vai”.Tiến sĩ Nguyễn Đức Hưởng, Tổng giám đốc
LienVietBank cho rằng, rủi ro thanh khoản xuất phát từ rất nhiều nguyên nhân khác
nhau như: tập trung tín dụng trung dài hạn vào một số khách hàng lớn; tập trung nguồn
vốn huy động không kỳ hạn vào một số khách hàng lớn và khi họ rút bất ngờ, có thể
dẫn đến mất thanh khoản; phát triển nóng cả nguồn vốn lẫn tín dụng cũng liên quan
đến rủi ro thanh khoản. Trong hoạt động kinh tế, đặc biệt là hoạt động ngân hàng, ai
cũng muốn tránh xa thứ rủi ro này, bởi chúng tiêu tốn lợi nhuận, làm kiệt quệ năng lực

có những biện pháp linh hoạt, phù hợp chứ không phải chỉ quyết tâm kiểm tra NH
nâng lãi lên 12%/năm. Bởi suy cho cùng, rất khó để bó buộc các NH vào khuôn khổ vì
họ phải tự bơi và sống theo cơ chế thị trường.
Có nhiều ý kiến cho rằng giảm lãi suất cho vay sẽ dẫn đến lạm phát cao nhưng
thực tế không phải như vậy. Thực tế lãi suất cao như hiện nay chính là nguyên nhân
tạo ra lạm phát vì doanh nghiệp phải vay vốn với lãi suất cao thì tất yếu phải tăng giá
cả hàng hóa để bù đắp chi phí đầu vào.
Ngân hàng Nhà nước xem xét hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc để hỗ trợ thêm vốn cho
các ngân hàng thương mại.
6. Một số giải pháp được đề xuất:
(1)Theo ông Bùi Kiến Thành (chuyên gia kinh tế): “để giảm lãi suất ngân hàng
phải thực hiện hàng loạt giải pháp, trong đó giải pháp không thể thiếu là tiếp thêm tiền
cho các ngân hàng thông qua thị trường mở, kể cả hỗ trợ vốn cho những ngân hàng
nhỏ không có tài sản thế chấp”.
Điều 10 và điều 11 của Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực từ năm 2011 quy định
Ngân hàng Nhà nước có quyền cho ngân hàng thương mại vay và không cần các yêu
cầu về thế chấp, chiết khấu hoặc mua bán các giấy tờ có giá qua thị trường mở. Như
vậy Ngân hàng Nhà nước hoàn toàn có cơ sở để chặn đứng các cuộc đua lãi suất bắt
nguồn từ nguyên nhân thiếu thanh khoản của các ngân hàng nhỏ, đồng thời có thể chủ
động lãi suất cho vay với các ngân hàng. Được vay nguồn vốn rẻ từ Ngân hàng Nhà
nước, các ngân hàng thương mại sẽ có nguồn cho vay lãi suất thấp, kéo mặt bằng lãi
suất trên thị trường xuống mức hợp lý.
(2)Ngân hàng Nhà nước cũng nên có các giải pháp để điều tiết nguồn tiền đi
vào đúng kênh sản xuất kinh doanh, hạn chế tiền chảy vào các kênh phi sản xuất. Phải
dùng lãi suất để kéo giá cả xuống chứ đừng nhìn giá cả để ấn định lãi suất, như vậy sẽ
không thể trị tận gốc lạm phát.
(3)Nhiều đề xuất đã đưa ra để ổn định lãi suất VND như phải kiểm soát lạm
phát thông qua kiểm soát giá cả, phải phối hợp thắt chặt chính sách tài khóa với chính
sách tiền tệ, phải “đồng thuận” đưa lãi suất huy động xuống 12% mỗi năm, phải giảm
lãi suất cho vay để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh, phải ổn định tỷ giá hối

giam/126/5619802.epi
15.
16.
17.
lai-suat-van-tang.html
18.
nam-2010-mot-nam-nhin-lai.html
19.
giam-lai-suat-cho-vay.htm
20.
21.
21614770.html
20
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status