CHƯƠNG 1: CƠ SỞ CỦA VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI CÔNG TÁC KẾ HOẠCH HOÁ Ở VIỆT NAM doc - Pdf 21

CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ CỦA VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI CÔNG
TÁC KẾ HOẠCH HOÁ Ở VIỆT NAM.
1.1. Kế hoạch hoá ở các nớc trên thế giới
Kinh nghiệm của các nớcphát triển:
KHH ở Pháp : Nớc Pháp là một nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển, đồng thời
nớc từ lâu đã có một nhà nớc mạnh, giữ vai trò rất quan trọng tong đời sống kinh tế, xã hội.
Và công tác KHH ở đây cũng tiến hành theo một phơg thức riêng với hai đặc điểm nổi bật
là: thứ nhất, KHH chủ yếu mang tính hớng dẫn chứ không bắt buộc. Thứ hai, KHH liên
tục biến đổi và phát triển.
Tuy có nhiều điểm tiến bộ nhng theo nhận xét của nhiều học giả phơng Tây, KHH
của Pháp vẫn còn thuộc loại nặng nề, có phần cổ hủ, tiến triển không kịp với thời đại.
Từ năm 1975, do sự phát triển không ngừng của nền kinh tế thế giới với nhiều biến đổi to
lớn, hơn thế ở Pháp lại diễn ra cuộc khủng hoảng KHH trầm trọng, nên quá tình cải cách
KHH ngày càng đợc thúc đẩy một cách khẩn trơng. Và từ thập kỷ 80, nhất là đầu thập kỷ
90, sự thay đổi trong công tác KHH ở Pháp diễn ra theo các nội dung sau:
Về nhiệm vụ và nội dung của kế hoạch tập trung chủ yếu vào công tác dự báo và
cung cấp những biện pháp điều tiết uyển chuyển nhằm vận hành tốt hơn cơ chế thị trờng,
đồng thời thiết lập một khuôn khổ nhất quán các mục tiêu và chính sách công trung hạn,
cố gắn với một tầm nhìn dài hạn.
Về phơng pháp lập kế hoạch: tăng cờng sự tham gia đóng góp của các viện, các tung
tâm, các nhà khoa học; Nâng cao chất lợng dự báo; Vẫn đảm bảo nguyên tắc thơng thảo
với mọi tác nhân kinh tế; Nâng cao trình độ và nhận thức về việc đánh giá kết quả thực
hiện kế hoạch và các chính sách kinh tế.
KHH kinh tế vĩ mô ở Nhật Bản: Nhật Bản đã sớm xây dựng nền kinh tế thị trờng
ngay từ những cuộc cải cách dới thời kỳ Minh Trị duy tân từ năm 1868, nhng điều đó
không có nghĩa là Chính phủ Nhật đã không sử dụng công cụ KHH trong quản lý kinh tế.
Mà ngợc lại, hệ thống KHH ở Nhật có những nét độc đáo và KHH đã đóng vai trò quan
trọng trong nhiều lĩnh vực.
Điểm nổi bật trong công tác KHH ở Nhật, đó là mô hình KHH “cuốn chiếu”: mỗi kỳ
kế hoạch thờng đợc kết thúc sớm hơn dự kiến và thay thế bằng kỳ kế hoạch mới; các kế

Với cơ chế này, chúng ta đã thực hiện thành công các mục tiêu khôi phục, cải tạo và
phát triển kinh tế sau hoà bình 1954, góp phần vào sự thành công của công cuộc kháng
chiến chống đế quốc Mỹ xâm lợc.
Tuy vậy, sau năm 1975, tình kinh tế trong nớc và thế giới có nhiều sự biến đổi to
lớn. Chính từ yêu cầu của vấn đề sản xuất và hiệu quả kinh tế đã nảy sinh vấn đề cần phải
đổi mới công tác KHH cho phù hợp với sự phát triển của thực tế.
Đại hội lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định “Cơ chế kinh tế áp
dụng ở Việt Nam là cơ chế thị trờng có sự điều tiết của Chính phủ theo định hớng xã hội
chủ nghĩa”.
Khác với nhiều nớc có nền kinh tế chuyển đổi, đổi mới kinh tế ở Việt Nam không
có nghĩa là từ bỏ hoặc coi nhẹ KHH kinh tế vĩ mô, mà yêu cầu đặt ra là phải có những
những thay đổi cần thiết, đáp ứng đợc những đòi hỏi và điều kiện mới của nền kinh tế.
Muốn đáp ứng đợc các yêu cầu đó, đòi hỏi phải đổi mới mạnh hơn nữa các công cụ quản
lý kinh tế vĩ mô, trong đó đặc biệt là phải đổi mới công tác KHH. Nghị quyết Hội nghị lần
thứ t Ban chấp hành Trung ơng khoá VIII đã khẳng định chủ trơng đổi mới quản lý nhà
nớc về kinh tế – xã hội là “ Chuyển mạnh sang quản lý kinh tế – xã hội bằng tổ chức, luật
pháp, chính sách, chế độ, quy hoạch, giáo dục, thuyết phục, thanh tra, kiểm tra và rất quan
trọng là bằng các công cụ quản lý vĩ mô và sức mạnh kinh tế của Nhà nớc(…), đẩy mạnh
công tác hoạch định và hớng dẫn thực hiện chiến lợc, quy hoạch, kế hoạch phảt triển…”.
Nh vậy, đối với Việt Nam, KHH là một công cụ quản lý kinh tế vĩ mô hết sức quan
trọng. Vì vậy, cần phải tiến hành đổi mới công tác KHH trên tất cả các phơng diện, từ t
duy, quan điểm định hớng, nội dung, phơng pháp cho đến cơ cấu tổ chức và cách thức chỉ
đạo kế hoạch nhằm đáp ứng đợc đầy đủ hơn các nhu cầu của sự phát triển kinh tế.
CHƠNG 2:
QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI KẾ HOẠCH HOÁ Ở VIỆT NAM
2.1. Thực trạng đổi mới công tác kế hoạch hoá ở Việt Nam.
Kế hoạch hoá trong cơ chế cũ đợc coi là công cụ chủ yếu nhất để quản ký kinh tế.
Thông qua hệ thống các cơ quan kế hoạch nhà nớc từ trung ơng đến địa phơng để xây
dựng kế hoạch, giao chỉ tiêu kế hoạch cho các cơ sở kinh tế, điều hành, theo dõi và xét
duyệt việc hoàn thành kế hoạch hoá mà nhà nớc có thể chỉ huy đợc nền kinh tế. Việc thực

nghệ; Tăng trởng kinh tế phải gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hoá, bảo
vệ môi trờng; Dân chủ hoá đời sống xã hội; Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế xã hội
với ổn định và đổi mới về chính trị, tăng cờng củng cố quốc phòng an ninh, giữ vững an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội .
Kết quả đạt đợc là nền kinh tế có bớc phát triển về lực lợng sản xuất. Quan hệ sản
xuất và hội nhập kinh tế quốc tế đời sống vật chất, tinh thần của nhân đân ta đợc cải thiện
rõ rệt, văn hoá xã hội không ngừng tiến bộ; Thế và lực của đất nớc hơn hẳn 10 năm trớc,
khả năng tự chủ đợc nâng lên, tạo thêm điều kiện đẩy mạnh CNH - HĐH đất nớc.
Nguyên nhân của những kết quả này là đờng lối đổi mới đúng đắn của Đảng cùng
những cố gắng và tiến bộ trong công tác quản lý của nhà nớc đã phát huy đợc nhân tố có ý
nghĩa quyết định là ý chí kiên cờng, tính năng động, sáng tạo và nỗ lực phấn đấu của nhân
dân ta.
Chiến lợc này đợc điều chỉnh thông qua đại hội Đảng lần thứ VIII (1996) với trọng
tâm đẩy mạnh CNH - HĐH đất nớc. Đây là sự mở đầu giai đoạn áp dụng phối hợp chiến
lợc với quy hoạch, giữa quy hoạch với kế hoạch trung hạn và ngắn hạn trong hệ thống kế
hoạch hoá. Chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội đề ra mục tiêu tăng trởng kinh tế phù hợp
có nội dung đáp ứng đợc yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nứơc, phát huy tiềm lực trong
nớc và thu hút nguồn lực bên ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các chính
sách kinh tế phù hợp với điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trờng.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2004) đã đề ra chiến lợc phát triển kinh tế -
xã hội 10 năm 2001-2010 với mục tiêu tổng quát là: Đa nớc ta thoát khỏi tình trạng kém
phát triển; Nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân; Tạo nền
tảng đến năm 2020 nớc ta cơ bản trở thành một nớc công nghiệp theo hớng hiện đại.
Nguồn lực con ngời, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế,
quốc phòng, an ninh đợc tăng cờng, thể chế kinh tế thị trờng định hớng XHCN đợc hình
thành về cơ bản; Vị thế của nớc ta trên trờng quốc tế đợc nâng cao. Chiến lợc phát triển
KT-XH 2001-2010 đã đề ra năm quan điểm phát triển: Phát triển nhanh, hiệu quả và bền
vững, tăng trởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trờng;
Coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng đồng bộ nền tảng cho một nớc công
nghiệp là yêu cầu cấp thiết; Đẩy mạnh công cuộc đổi mới, tạo động lực giải phóng và phát

bẩy vùng.
Sự đổi mới trong công tác quy hoạch là một trong những điểm đổi mới trong công
tác làm kế hoạch ở nớc ta. Từ đó góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế của đất nớc,
cũng nh sự phát triển kinh tế của chính vùng đó thông qua thu hút vốn đầu t nớc ngoài.
2.1.3. Về công tác kế hoạch phát triển.
Kế hoạch phát triển là sự cụ thể hoá của chiến lợc và quy hoạch phát triển, là một
công cụ định hớng đợc thể hiện bằng hệ thôngs các chỉ tiêu mục tiêu, các chỉ biện pháp và
các giải pháp chính sách cơ bản áp dụng trong một khoảng thời gian nhất định.
2.1.3.1. Chuyển dần trọng tâm sang KHH định hớng phát triển năm năm.
Trên cơ sở chiến lợc phát triển KT-XH và quy hoạch phát triển, các kế hoạch
năm:1991-1995 và 1996-2000 đã đợc xây dựng vơí những thay đổi lớn về nội dung nh:
tăng cờng KHH vĩ mô; Từng bớc xoá bỏ KHH mệnh lệnh và giảm đến mức tối thiểu các
chỉ tiêu pháp lệnh, chuyển sang KHH định hớng, chú ý hơn đến các chỉ tiêu trên các lĩnh
vực xã hội, khoa học và công nghệ; Đã có nhiều cố gắng xây dựng và điều hành đảm bảo
các cân đối lớn trong KHH giá trị; Xây dựng và thực hiện các chơng trình dự án quốc gia;
Chú trong xây dựng cơ sở hạ tầng KT-XH; Mở rộng quan hệ đối ngoại và hợp tác quốc tế.
Phơng pháp xây dựng và quản lý kế hoạch năm năm bớc đầu có sự đổi mới trong
lĩnh vực ngân sách, chuyển từ phơng pháp truyền thống hay phơng pháp xây dựng và quản
lý kế hoạch năm năm thời kỳ cố định sang phơng pháp đổi mới hay phơng pháp xây dựng
và quản lý kế hoạch năm năm theo mô hình cuốn chiếu. Cụ thể:
Chuyển từ việc thời kỳ của năm năm là cố định sang thời gian của kỳ kế hoạch là
năm năm nhng thời kỳ kế hoạch có sự thay đổi tức là luân chuyển theo kiểu cuốn chiếu.
Chuyển từ việc các chỉ tiêu đựơc xây dựng là các chỉ tiêu đợc tính bình quân cho
một năm của cả kỳ kế hoạch hoặc là tính cụ thể đích đạt đợc cho năm cuối cùng sang xây
dựng chỉ tiêu cụ thể cho năm đầu tiên, sau đó dự tính chỉ tiêu cho năm tiếp theo và dự báo
cáo chỉ tiêu cơ bản cho ba năm còn lại; Sau một năm, trên cơ sở kết quả thực hiện các chỉ
tiêu kế hoạch của năm đó kết hợp với những tình hình cụ thể của thị trờng mà chúng ta dự
kiến đợc; Từ đó các nhà kế hoạch sẽ xây dựng kế hoạch cụ thể cho năm thứ hai và năm
thứ hai sẽ là năm đầu của thời kỳ mới và xây dựng chỉ tiêu cho năm th ba tức là năm thứ
hai của thời kỳ mới và dự báo các chỉ tiêu cơ bản cho năm cuối mới.

Trong thời gian qua, quy trình lập kế hoạch đã có nhiều thay đổi căn bản. Hình thức
giao số kiểm tra đã đợc thay thế bằng việc cung cấp thông tin cần thiết nhằm hớng các
ngành, địa phơng và đơn vị cơ sở xây dựng, tổng hợp kế hoạch theo hớng mục tiêu chung
của nhà nớc. Bên cạnh việc cung cấp những thông tin hớng dẫn, Bộ kế hoạch và đầu t còn
cử các đoàn đến các địa phơng để hỗ trợ, giúp đỡ và giải quyết các vớng mắc mà các địa
phơng gặp phải trong khi xây dựng kế hoạch. Quy trình lập kế hoạch mới đã hạn chế sự áp
đặt hành chính chủ quan của cấp trên với cấp dới, phát huy đợc tính chủ động sáng tạo của
các ngành, các cấp chính quyền địa phơng cũng nh doanh nghiệp trong việc lập và thực
hiện kế hoạch .
Trong khi xây dựng và tổng hợp kế hoạch đã chú ý nhiều hơn đến các kế hoạch KH-
CN, GD-ĐT, văn hoá- thông tin, y tế, xã hội, thể dục thể thao, xoá đói giảm nghèo… mà
trớc đây thờng bị xem nhẹ và cha gắn với các kế hoạch phát triển kinh tế. Công tác kế
hoạch hoá ở các lĩnh vực này sau một thời gian dài xuống cấp, trì trệ thì nay đã có nhiều
thay đổi, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế.
Công tác dự báo, thông tin đã bớc đầu đợc tăng cờng, phơng pháp tính toán kế
hoạch đợc sửa đổi phù hợp dần với thông lệ quốc tế.
2.1.3.4. Đổi mới phơng thức điều hành kế hoạch:
Đổi mới công tác điều hành kế hoạch trong thời gian qua không chỉ đợc thể hiện ở
tính kịp thời, mà còn đợc thể hiện rõ nét ở việc sử dụng các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô
gián tiếp nh lãi suất, tỉ giá, thuế suất, định hớng đầu t của nhà nớc … Do đó, một mặt sự có
thể thiệp trực tiếp của các cơ quan nhà nớc vào công việc kinh doanh của các cơ sở kinh tế
đã giảm bớt; mặt khác các cơ sở kinh tế đã có nhiều cố gắng trong việc phát huy khả năng
tự chủ, xác định những lợi thế cạnh tranh phù hợp với điều kiện thay đổi của thị trờng .
Quá trình điều hành kế hoạch hoá (KHH) cũng đã chú ý nhiều hơn đến việc dự báo
ngắn hạn, điều chỉnh kịp thời các mục tiêu cũng nh các biện pháp kinh tế, sử dụng các
công cụ quản lý kinh tế vĩ mô cũng nh sử dụng các cơ chế, chính sách và lực lợng vật chất
để đảm bảo các cân đối lớn trong nền kinh tế, định hớng và thúc đẩy thực hiện kế hoạch.
Nếu trớc đây kế hoạch chủ yếu tập trung vào kinh tế quốc doanh với kế hoạch hoá trực
tiếp là chính, thì nay đã bớc đầu mở rộng kế hoạch định hớng phát triển toàn bộ nền kinh
tế và xã hội, chủ yếu thông qua các KHH gián tiếp.

phục vụ mỗi kỳ đại hội Đảng; Sau đó việc thực hiện triển khai các mục tiêu chiến lợc và
kế hoạch 5 năm thờng bị phân cấp, phân tán và chia cắt theo từng ngành, địa phơng, cha
có khâu nối đồng bộ chung. Các cấp các ngành quan tâm nhiều nhất đến chỉ tiêu vốn, các
chỉ tiêu khác thờng bị coi nhẹ.
Mục tiêu kế hoạch vừa nhiều vừa cao hơn khả năng đảm đơng cả về năng lực thực
hiện lẫn lực lợng vật chất. Nguồn lực hạn chế của nhà nớc bị dàn mỏng ra, quá nhiều mục
tiêu mang nặng dấu ấn bao cấp và vì vậy đợc sử dụng kém hiệu quả.
Nhiều nội dung của kế hoạch, đặc biệt là kế hoạch phát triển theo vùng , lãnh thổ
còn cha tính đến đầy đủ các yếu tố hội nhập, quốc tế hoá, cũng nh cha phân tích kỹ lỡng
đến thị trờng tiêu thụ trong nớc, ngòai nớc và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.
Phần nghiên cứu và vận dụng cơ chế chính sách còn cha thật tơng xứng, cha cụ thể hoá
đợc chiến lợc, cha bao quát đợc các thành phần kinh tế, cha chú ý đúng mức tới đặc thù
của các vùng, địa phơng. Nhiều vấn đề trong chính sách vĩ mô còn cha đợc xác định rõ và
nhất quán, các chính sách đòn bẩy còn nhiều lúng túng. Cách thức thực hiện chính sách
vẫn mang nặng tính can thiệp hành chính, áp đặt mà cha chú trọng đến cơ chế thị trờng để
thiết kế và thực hiện chính sách.
Và một hạn chế lớn nữa đó là sự tham gia quá ít của cộng đồng vào công tác lập kế
hoạch. Do đó cha phát huy đợc hết những khả năng vốn có trong dân chúng.
2.2.3. Về phối hợp và điều hoà kế hoạch:
Hệ thống kế hoạch theo ngành, theo địa phơng và vùng lãnh thổ vẫn cha liên kết và
phối hợp chặt chẽ với nhau đợc trở thành hệ thống kế hoạch tổng thể kinh tế quốc dân. Sự
phân cấp giữa trung ơng và địa phơng cũng nh phân công giữa các ngành với nhau là cha
rõ ràng dẫn đến hậu quả khi gặp phải diễn biến bất thờng thì hầu hết là đều đa lên chính
phủ, vì vậy chính phủ luôn phải xử lý công việc trong thế bị động do đó là không có lợi
cho nền kinh tế nói chung.
Sự can thiệp trực tiếp thờng xuyên của các cơ quan nhà nớc nhiều khi lại làm giảm
tính ổn định của các chính sách và gây khó khăn cho các nhà kinh doanh.
Việc xây dựng quy hoạch ở nhiều địa phơng đạt chất lợng cha cao, tính thực tế thể
hiện cha rõ nét. Sự phối hợp giữa trung ơng và địa phơng trong công tác quy hoạch còn
kém đã làm cho nhiều địa phơng làm lại quy hoạch mặt bằng của mình.

tích và dự báo đã và đang đợc nhiều tổ chức quan tâm, song sự phối hợp giữa các tổ chức
còn cha tốt.
2.2.6. Về bộ máy tổ chức và cán bộ:
Nhìn chung là trình độ cán bộ và bộ máy tổ chức vẫn cha đáp ứng đợc những đòi
hỏi của công tác KHH trong tình hình mới. Các phòng kế hoạch huyện cũng nh các sở kế
hoạch tỉnh ở nhiều nơi vẫn đang gặp lúng túng trong việc xác định chức năng của mình .
Kiến thức về công tác kế hoạch trong nền kinh tế thị trờng của cán bộ nói chung là cha đáp
ứng đợc đòi hỏi mới.
Việc chuyển đổi điều hành nền kinh tế theo khiểu mệnh lệnh sang điều hành kiểu
gián tiếp là một sự thay đổi rất lớn, đòi hỏi phải sử dụng nhiều phơng tiện kỹ thuật và kiến
thức mới. Do vậy, lực lợng cán bộ cần đợc nâng cao hơn cả về số lợng và chất lợng, bộ
máy tổ chức cần đợc sắp xếp lại để có thể tạo ra sự phối hợp hài hoà giữa các ngành các
cấp. Bộ máy tổ chức trong ngành kế hoạch cha đa ra đợc một hệ thống đánh giá kết quả
công việc của mỗi bộ phận cũng nh của mỗi thành viên phù hợp với cơ chế quản lý mới.
Cơ chế xử phạt còn có xu hớng bình quân, trách nhiệm cha rõ ràng.
2.3. Nguyên nhân của những hạn chế trong đổi mới công tác KHH trong những
năm qua ở Việt Nam:
2.3.1. Nguyên nhân:
Thứ nhất, những sai lầm của cơ chế quản lý sơ cứng cũ đã kéo dài trong nhiều năm,
làm đứt mối liên hệ khách quan giữa sản xuất kinh doanh với thị trờng.
Bộ máy quản lý vẫn rất cồng kềnh, nhiều tầng, nấc. Đây là “miếng đất ” nảy sinh lối
quản lý hành chính quan liêu tham nhũng và là gánh nặng đối với các đơn vị kinh tế cơ sở.
Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã tích cực thực hiện tinh giảm biên chế gián tiếp,
đổi mới bộ máy tổ chức, thực hiện cải cách hành chính nhng kết quả cha đợc là bao.
Thứ hai, Đội ngũ cán bộ lập kế hoạch có trình độ cha cao và cha nhạy bén với tình
hình thực tế. Đội ngũ cán bộ đông đảo hiện nay ở các cấp , các ngành có nhiều ngời tới
nay không đủ khả năng đổi mới t duy và phơng pháp công tác cho dù có đợc đào tạo lại.
Họ không nhận thấy đợc sự lạc hậu của mình trong tiến trình đổi mới và xây dựng các kế
hoạch mới. Còn một bộ phận khác giữ cơng vị quan trọng trong quản lý nhng do cha đợc
đào tạo nên kém thích ứng với cơ chế quản lý mới.

hiệu.
Kế hoạch hoá chủ yếu mang tính định hớng và đặc biệt quan trọng trên bình diện vĩ
mô. Thị trờng có vai trò trực tiếp hớng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn lĩnh vực hoạt động
và phơng án tổ chức kinh doanh. Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô của nhà nớc cần xác định
mục tiêu, giải thích rõ ý nghĩa của mục tiêu đó đối với sự phát triển trong tơng lai, xác
định rõ mức độ và cách thức mà khu vực kinh tế nhà nớc thực hiện mục tiêu đã định, nêu
lên những lợi ích và phát triển dự định đối với khu vực kinh tế t nhân và các thành phần
kinh tế khác để họ hành động theo định hớng nhà nớc mong muốn. Đối với các thành phần
kinh tế khác, thì kế hoạch không có tính áp đặt, mà thông qua các biện pháp chính sách
thống nhất với lợi ích để khuyến khích họ tự nguyện hành động theo hớng mục tiêu kế
hoạch đã đặt ra. Nh vậy, muốn các doanh nghiệp ứng xử theo kế hoạch của nhà nớc thì kế
hoạch hoá và chính sách phải phù hợp với lợi ích của doanh nghiệp.
Nh vậy, đổi mới kế hoạch hoá phải ăn khớp với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nói
chung, phù hợp với quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội
chủ nghĩa. Việc sử dụng công cụ kế hoạch hoá phải phù hợp với cơ chế thị trờng, phải
đảm bảo phân định giữa quản lý nhà nớc và quản lý kinh doanh ở các doanh nghiệp nhà
nớc. Công tác điều hành kế hoạch phải đợc thực hiện thông qua những công cụ quản lý
kinh tế vĩ mô là chủ yếu, phối hợp sử dụng những biện pháp gián tiếp và biên pháp trực
tiếp.
3.1.2. Kế hoạch hoá trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và
hội nhập quốc tế
Nhân tố quyết định thành công và hiệu quả của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là
khoa học và công nghệ. Tốc độ phát triển công nghệ càng cao, số lợng sản phẩm mới,
công nghệ mới ngày càng nhiều đã đặt ra một nhiệm vụ quan trọng cho công tác kế hoạch
hoá la phải xây dựng những chính sách chuyển giao công nghệ thuận lợi, tìm ra đợc hớng
“đi tắt, đón đầu” giúp cho nền kinh tế có tốc độ tăng trởng cao, ổn định, rút ngắn khoảng
cách với các nớc tiên tiến.
Kế hoạch hoá phải đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế phù hợp
với xu thế hội nhập, toàn cầu hoá đang ngày càng gia tăng đối với nền kinh tế Việt Nam.
Trong thời gian trớc mắt, việc hình thành những chính sách kinh tế để ứng phó với cuộc

đề xã hội.
Trong những năm trớc mắt, công tác kế hoạch hoá phải góp phần thiết thực giải
quyết một số vấn đề xã hội cấp bách nh:
- Tập trung sức tạo việc làm: Phơng hớng quan trọng nhất là nhà nớc cùng toàn dân
ra sức đầu t phát triển, thực hiện tốt kế hoạch và các chơng trình kinh tế – xã hội. Khuyến
khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân, mọi nhà đầu t mở mang ngành nghề, tạo
nhiều việc làm cho ngời lao động. Mọi công dân đều đợc tự do hành nghề, thuê mớn nhân
công theo pháp luật. Tiếp tục phân bố lại dân c trên địa bàn có tính chiến lợc về kinh tế ,
an ninh – quốc phòng. Mở rộng kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu lao động. Giảm
đáng kể tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn.
- Thực hiện xóa đói, giảm nghèo: Thực hiện tốt chơng trình xoá đói giảm nghèo,
nhất là đối với vùng căn cứ cách mạng, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Xây dựng và phát
triển quỹ xoá đói, giảm nghèo bằng nhiều nguồn vốn trong và ngoài nớc; quản lý chặt chẽ,
đầu t đúng đối tợng và có hiệu quả. Tổ chức tốt đời sống xã hội trên từng địa bàn để trong
điều kiện thu thập bình quân đầu ngời còn thấp vẫn tạo đợc một cuộc sống khá hơn cho
nhân dân.
3.1.4. Kết hợp kế hoạch hoá theo ngành với kế hoạch hoá theo địa phơng và vùng
lãnh thổ
Kế hoạch hoá định hớng phát triển kinh tế – xã hội có một nội dung rất cơ bản là sự
thay đổi và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, kể cả cơ cấu ngành và cơ cấu vùng lãnh thổ. Từ
kinh nghiệm phát triển, có thể rút ra một số kết luận sau đây về chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Một là, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu ngành công nghiệp nói
riêng, là một quá trình tiến hoá tuần tự mang tính nội tai phải trải qua nhiều giai đoạn.
Những tác động của kế hoạch hoá chỉ có thể đẩy nhanh hoặc rút ngắn quá trình chuyển
dịch cơ cấu, chứ không thể bỏ qua một giai đoạn nào.
Hai là, trong thời kỳ toàn cầu hoá, kế hoạch hoá chuyển dịch cơ cấu kinh tế của
quốc gia chủ yếu vẫn phải căn cứ vào điều kiện, tiềm năng, kỹ năng và lợi thế hiện tại. Với
cách nhìn nh trên, nhà nớc cần đặc biệt lu ý và u tiên hỗ trợ những ngành trọng điểm của
nền kinh tế những ngành có tỷ trọng lớn và tốc độ phát triển cao trong GDP, trong tổng số
lao động sử dụng và trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Đồng thời cần chú trọng khuyến

cho phù hợp với yêu cầu mới, xu thế phát triển và hội nhập kinh tế trong vùng và các nớc.
Ba là, tổ chức xây dựng các chơng trình , dự án phát triển, có hiệu quả để có thể
khai thác, sử dung có hiệu quả nguồn tài nguyên, nhân lực và các lợi thế so sánh của nớc
ta, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn bên ngoài theo định hớng của kế hoạch.
Bốn là, để thực hiện chức năng chủ yếu của kế hoạch hoá là thúc đẩy sự hình thành
cơ cấu hợp lý, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững, phải cải tiến nội
dung xây dựng kế hoạch hàng năm một cách thiết thực, giảm những khâu trung gian, giữ
vững cân đối chủ yếu, nhất là cân đối giá trị, đồng thời từng bớc chuyển dần trọng tâm
sang kế hoạch hoá phát triển kinh tế – xã hội 5 năm với nội dung bao quát toàn bộ hoạt
động của các thành phần kinh tế, xác định hệ thống các mục tiêu kinh tế vĩ mô, các yêu
cầu tăng trởng kinh tế, các cơ cấu và mối quan hệ hợp lý của nền kinh tế.
Năm là, góp phần vào việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm tạo ra
môi trờng kinh tế vĩ mô ổn định và kích thích tất cả các thành phần kinh tế phát triển với
mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh.
3.2. Một số giải pháp đổi mới kế hoạch hoá kinh tế trong thời gian tiếp theo:
3.2.1.Đổi mới công tác xây dựng chiến lợc phát triển kinh tế xã hội:
Kế hoạch hoá là một quá trình liên tục, bao gồm chiến lợc phát triển kinh tế – xã hội,
quy hoạch phát triển, kế hoạch định hớng phát triển kinh tế – xã hội 5 năm, kế hoạch hàng
năm và chỉ đạo, điều hành thực hiện.
Chiến lợc phát triển kinh tế – xã hội có nhiệm vụ hoạch định đờng hớng phát triển
cơ bản của đất nớc trong khoảng thời gian 10 năm, là cam kết chính trị của Đảng và nhà
nớc đợc công bố trớc toàn dân và cộng đồng quốc tế về đờng lối và cách thức lãnh đạo
phát triển đất nớc. Nội dung của chiến lợc bao gồm việc xác định mục tiêu định tính trên
các lĩnh vực nh: tăng trởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo vùng, xu hớng biến đổi chất lợng cuộc sống của dân c trên các vùng của
đất nớc, xu hớng biến đổi khả năng cạnh tranh của quốc gia trong khu vực và trên thế giới,
trình độ phát triển khoa học và công nghệ của đất nớc, khả năng bảo đảm an ninh quốc gia;
Xác định các quan điểm và nguyên tắc cơ bản nhằm thúc đẩy đất nớc phát triển theo các
định hớng nói trên.
Chiến lợc có thời hạn 10 năm, nhng theo chu kỳ 5 năm sẽ đợc xem xét, sửa đổi và

ngành đợc thực hiện thông qua những chơng trình trọng điểm quốc gia và bằng nguồn lực
của cả trung ơng và địa phơng. Số liệu rút ra từ quy hoạch sẽ là những cơ sở quan trọng
cho các doanh nghiệp trong việc xây dựng kế hoạch kinh doanh của họ.
3.2.3. Chú trọng kế hoạch hoá định hớng phát triển kinh tế – xã hội 5 năm
3.2.3.1. Nghị quyết Đại hội VIII đã đề ra yêu cầu:
“Chuyển dần sang kế hoạch 5 năm là chính, có phân ra từng năm”. Nh vậy, kế
hoạch 5 năm sẽ là trọng tâm trong hệ thống kế hoạch, là công cụ quản lý vĩ mô quá trình
phát triển trong thời hạn 5 năm. Kế hoạch 5 năm xác định một số chỉ tiêu cơ bản định
hớng cho sự phát triển của đất nớc, xác định những lĩnh vực mà kinh tế nhà nớc sẽ u tiên
tập trung phát triển, xác định nguyên tắc hoạch định và xây dựng chính sách cụ thể để
hớng toàn bộ nền kinh tế phát triển theo định hớng đã chọn.
Các chỉ tiêu của kế hoạch 5 năm chủ yếu mang tính định hớng phát triển. Kế hoạch
5 năm ở cấp trung ơng nên đặc biệt chú ý những chỉ tiêu nh: (1) mức thu nhập bình quân
dầu ngời tại năm cuối của kỳ kế hoạch, (2) tỷ trọng công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ
trong GDP, (3) tỷ trọng lực lợng lao động xã hội làm việc trong các lĩnh vực nói trên…
3.2.3.2. Để đảm bảo tính liên tục và hệ thống của kế hoạch hoá, có thể thử nghiệm
phơng pháp “cuốn chiếu” trong việc xây dựng kế hoạch 5 năm.
Phơng pháp xây dựng kế hoạch theo kiểu “cuốn chiếu” này đã đợc áp dụng thành
công ở một số nớc nh Pháp, xây dựng kế hoạch hoá phát triển ở Nhật, xây dựng kế hoạch
tài chinh ở Cộng hoà Liên bang Đức. Theo phơng pháp này, kế hoạch phát triển 5 năm sẽ
xác định những mục tiêu tổng thể, bao gồm kế hoạch chính thức của năm hiện hành, kế
hoạch dự tính cho năm tiếp đó và dự báo kế hoạch cho 3 năm còn lại. Mức độ chi tiết, cụ
thể và chính xác của nội dung kế hoạch của các năm sau phụ thuộc vào số lợng và độ tin
cậy của thông tin có đợc. Phơng pháp này giúp khắc phục đợc tính nhất thời, sự không phù
hợp giữa mục tiêu kế hoạch đề ra với điều kiện thay đổi thờng xuyên của môi trờng.
3.2.3.3. Nội dung nghiên cứu, xây dựng và tổng hợp kế hoạch 5 năm ở cấp trung
ơng bao gồm các công việc sau:
-Tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch 5 năm trớc
- Dự báo khả năng phát triển trong thời kỳ kế hoạch 5 năm sau, bao gồm cả tình hình kinh
tế, chính trị các nớc trên thế giới và trong khu vực.

lạm phát ổn định ở mức độ chấp nhận đợc. Kế hoạch xuất – nhập khẩu và quản lý cán cân
thanh toán quốc tế, quản lý vay và trả nợ nớc ngoài; hạn chế số lợng các mặt hàng quản
bằng hạn ngạch ở mức tối thiểu cần thiết.
3.2.4.2. Kế hoạch hàng năm ở cấp trung ơng bao gồm một số chỉ tiêu dự báo và một
số chỉ tiêu pháp lệnh.
Sự khác biệt của các chỉ tiêu kế hoạch ở cấp trung ơng, ở cấp tỉnh và huyện, đặc biệt
là những chỉ tiêu về xã hội, phụ thuộc chủ yếu vào việc phân cấp nhiệm vụ giữa những cấp
này. Trớc tình hình những vấn đề xã hội và công nghệ ngày càng trở nên bức xúc, trong
thời gian tới cần sớm nghiên cứu để đa vào kế hoạch những chỉ tiêu hữu dụng cho việc
giải quyết những vấn đề này.
Trong môi trờng thờng xuyên biến động, mục tiêu kế hoạch là những đích cần phấn
đấu để vơn tới. Vì vậy, kế hoạch hoá chủ yếu mang tính định hớng, không nên xác định
các chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội một cách cứng nhắc, mà nên là một khoảng ớc định.
3.2.4.3. Đối với kế hoạch hàng năm thì công tác điều hành kế hoạch có một vị trí rất
quan trọng.
Mục tiêu của việc điều hành là kịp thời can thiệp gián tiếp hoặc trực tiếp vào nền
kinh tế khi có xuất hiện biến động môi trờng làm ảnh hởng đến việc thực hiện các mục
tiêu kế hoạch; song sự can thiệp này cung không nên diễn ra thờng xuyên làm ảnh hởng
đến tính ổn định của hệ thống chính sách kinh tế. Điều hành kế hoạch luôn phải tính đến
sự ảnh hởng tổng thể vào nền kinh tế và những hệ quả mà nó đa lại. Chính vì vậy, để nâng
cao chất lợng công tác điều hành kế hoạch, trớc hết cần củng cố hệ thống thông tin và xây
dựng những mô hình phân tích và dự báo kinh tế có độ tin cậy cao.
3.2.5. Tăng cờng công tác nghiên cứu và xây dựng chính sách
Vấn đề rất quan trọng trong quá trình đổi mới công tác kế hoạch hoálà phải nâng
cao chất lợng hoạch định chính sách, trong đó cần chú ý đến các công cụ chính sách gián
tiếp. Về vấn đề này, những công việc cần thực hiện ngay là:
- Nâng cao năng lực hoạch định chính sách của các cơ quan nhà nớc, đặc biệt là các
cơ qua nh Bộ Kế hoạch và Đầu t, Bộ Tài chính, ngân hàng nhà nớc Việt Nam, Văn phòng
chính phủ, Văn phòng Quốc hội.
- Tăng cờng đối thoại giữa doanh nghiệp và các quan chức Chính phủ bằng cách

các nớc không đa ra đợc các đối sách kịp thời nhằm ngăn chặn khủng hoảng.
Vì vậy công việc cấp bách cần phải làm là đổi mới hệ thống báo cáo và thu thập
thông tin, nâng cao chất lợng thông tin. Một nội dung chính của công việc này là:
- Đánh giá lại hệ thống báo cáo và thông tin hiện hành, rút ra đợc những điểm yếu
và điểm mạnh, sự phù phù hợp và không phù hợp với yêu cầu mới của quản lý vĩ mô.
- Xác định những thông tin báo cáo cần thu thập để đánh giá hoạt động của nền kinh
tế nói chung và phục vụ đổi mới công tác kế hoạch hoá noi riêng.
- Thống nhất biểu mẫu các loại báo cáo thực hiện trên quy mô cả nớc, quy định định
kỳ báo cáo đối với từng loại thông tin cụ thể.
- Xác định hệ thống tổ chức bộ máy thu thập cà xử lý thông tin phù hợp với yêu cầu
đổi mới công tác kế hoạch và điều hành kinh tế vĩ mô.
- Nhanh chóng đa vào áp dụng những thành tựu của công nghệ thông tin phục vụ
cho việc xử lý thông tin kế hoạch.
- Quy định quy chế cung cấp và sử dụng thông tin, khắc phục tình trạng “Thơng
mại hoá” thông tin phục vụ lợi ích cục bộ của một số tổ chức hoặcnhóm ngời; Đảm bảo
cho thông tin đợc cung cấp nhanh, ít tốn kém và kịp thời.
- Từng bớc hình thành hệ thống thu thập, xử lý, phân tích thông tin theo tiêu chuẩn
quốc tế.
- Xác định rõ những thông tin mật, không đợc công bố. Ngoài phạm vi đó, thông tin
kinh tế phải đợc phổ biến và sử dụng một cách rộng rãi.
3.2.8. Củng cố bộ máy tổ chức, nâng cao trình độ cán bộ kế hoạch
Việc thực hiện những định hớng và giải pháp đổi mới trên đây chỉ đạt đợc kết quả
mong muốn khi bộ máy tổ chức kế hoạch đợc thay đổi phù hợp và nâng cao trình độ
chuyên môn của đội ngũ cán bộ làm công tác kế hoạch. Những việc cần thực hiện trong
thời gian tới để giải quyết vấn đề này là:
- Hoàn thiện bộ máy kế hoạch ở trung ơng cũng nh ở địa phơng theo hớng liên kết,
phối hợp chặt chẽ với nhau hơn để có thể thờng xuyên nắm bắt tình hình, phục vụ kịp thời
cho việc điều hành thực hiện kế hoạch, cũng nh giúp cho Chính phủ và chính quyền địa
phơng phối hợp xây dựng chính sách kinh tế ở cấp của mình một các có hiệu quả.
- Xây dựng một hệ thống tổ chức kế hoạch có “Chân rết” gọn nhẹ, có năng lực ở các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status