MỤC LỤC
ĐỀ MỤC TRANG
MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1: Quá trình hình thành phương thức sản xuất của Chủ Nghĩa
Tư Bản. 0
1.1. Khái quát về Chủ Nghĩa Tư Bản 0
1.2. Những đặc trưng cơ bản của Chủ Nghĩa Tư Bản 0
1.2.1. Các điểm về kinh tế 0
1.2.2. Các đặc điểm về chính trị 0
1.3. Quá trình hình thành phương thức sản xuất của Chủ nghĩa
Tư Bản 0
CHƯƠNG 2: Vai trò của Chủ nghĩa Tư Bản đã đem lại cho nhân loại 0
2.1. Những thành tựu to lớn 0
2.1.1. Kinh tế 0
2.1.2. Xã hội 0
2.1.3. Khoa học – Kỹ thuật 0
2.2. Những hậu quà nặng nề 0
2.2.1. Kinh tế 0
2.2.2. Xã hội 0
2.2.2.1. Con người 0
2.2.2.2. Tự nhiên 0
CHƯƠNG 3: Xu hướng lịch sử của Chủ Nghĩa Tư Bản 0
3.1. Những con đường mà Chủ Nghĩa Tư Bản đã và đang bước đi 0
3.2 Xu hướng vận động của Chủ Nghĩa Tư Bản 0
KẾT LUẬN 0
TÀI LIỆU THAM KHẢO 0
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Trải qua quá trình hình thành và phát triển, Chủ Nghĩa Tư Bản (CNTB) đã
mang đến cho chúng ta những tiến bộ vượt trội về Công nghệ - kỹ thuật như:
Internet, Rôbôt, viễn thông,… Phải chăng đó chính là những gì của CNTB đã
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT
TƯ BẢN CHỦ NGHĨA (TBCN).
1.1. Chủ Nghĩa Tư Bản
1.1.1. khái niệm về CNTB
Chủ nghĩa tư bản là một hình thái kinh tế –
xã hội phát triển cao của xã hội loài người,
xuất hiện đầu tiên tại châu Âu phôi thai và phát
triển từ trong lòng xã hội phong kiến châu Âu
và chính thức được xác lập như một hình thái
xã hội tại Anh và Hà Lan ở thế kỷ thứ 18. Sau
cách mạng Pháp cuối thế kỷ 18 hình thái chính trị của nhà nước tư bản chủ nghĩa
dần dần chiếm ưu thế hoàn toàn tại châu Âu và loại bỏ dần hình thái nhà nước
của chế độ phong kiến, quý tộc. Và sau này hình thái chính trị – kinh tế – xã hội
tư bản chủ nghĩa lan ra khắp châu Âu và thế giới.
1.1.2. Điều kiện cơ bản để dẫn đến sự ra đời của chủ nghĩa tư bản:
Nguyên nhân đầu tiên dẫn đến sự ra đời của CNTB là sự tiến bộ về kĩ thuật
dẫn tới sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá. Song, chỉ có nền kinh tế hàng hoá
thôi thì chưa đủ. Muốn có quan hệ tư bản chủ nghĩa thì cần phải có một quá trình
chuẩn bị gọi là quá trình tích luỹ tư bản ban đầu. Đây là quá trình tạo ra vốn đầu
tiên trong giai đoạn đầu của CNTB. Cùng với vốn (tư bản), quá trình tích luỹ
nguyên thuỷ còn đòi hỏi có lực lượng lao động làm thuê (nhân công).
Tích luỹ vốn:
Các cuộc phát kiến địa lý đã đem về cho châu Âu và giai cấp tư sản nguồn
hương liệu, gia vị, vàng bạc, hàng hoá. Đó là những nguồn vốn đầu tiên cho quá
trình tích luỹ tư bản nguyên thuỷ. Vì thế, quý tộc và thương nhân châu Âu không
ngừng ra sức bóc lột của cải, tài nguyên vàng bạc của các nước châu Phi và châu
Á.
Bằng buôn bán, trao đổi hàng hoá giữa các khu vực, đặc biệt là buôn bán nô
kinh tế và CNTB độc quyền nhà nước chuyển thành CNTB độc quyền xuyên
quốc gia.
Cùng với sự phát triển của các công ty độc quyền xuyên quốc gia và toàn cầu
hóa nền kinh tế thế giới, CNTB tổ chức ra Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng thế
giới và các thỏa thuận về thuế quan. Do nhu cầu điều chỉnh quan hệ thương mại
nên ngay từ năm 1948, các nước tư bản đã tổ chức ra Hiệp định chung về thuế
quan (GATT). Sau đó, do tiến trình khu vực hóa được xúc tiến mạnh mẽ nên đã
dẫn đến sự ra đời của Cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC), Khu vực tự do Bắc Mỹ
và Diễn đàn kinh tế khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APEC).
Tiếp đó, nền kinh tế toàn cầu ngày càng phát triển nhanh và sự ra đời của
kinh tế tri thức đã làm nảy sinh nhiều mối quan hệ kinh tế thế giới, buộc CNTB
độc quyền xuyên quốc gia phải mở rộng GATT. Bởi thế, năm 1994, WTO ra đời.
Trong nền kinh tế toàn cầu hóa, các công ty độc quyền xuyên quốc gia là lực
lượng thao túng thị trường thế giới. Hiện nay, khoảng 200 công ty xuyên quốc
gia đang chiếm 1/3 GDP của thế giới, thâu tóm 70% vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI), 2/3 mậu dịch quốc tế và trên 70% chuyển nhượng kỹ thuật của thế
giới.
1.1.4. Những đặc trưng cơ bản của CNTB.
Đặc trưng nhất của CNTB là nhìn nhận quyền sở hữu tư nhân và quyền tự do
sản xuất và kinh doanh được xã hội bảo vệ về mặt luật pháp và được coi như một
quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của con người. Trong nền kinh tế TBCN
không loại trừ hình thức sở hữu nhà nước và sở hữu toàn dân và đôi khi ở một số
nước tại một số thời điểm tỷ trọng của các hình thức sở hữu này chiếm không
nhỏ, nhưng điều cơ bản phân biệt xã hội của CNTB với xã hội đối lập với nó là
xã hội cộng sản là trong xã hội TBCN quyền tư hữu đối với phương tiện sản xuất
là thiêng liêng được xã hội và pháp luật bảo vệ, sự chuyển đổi quyền sở hữu phải
thông qua giao dịch dân sự được pháp luật và xã hội quy định. Còn chủ nghĩa
cộng sản loại trừ quyền tư hữu đối với phương tiện sản xuất.
Trong hình thái kinh tế TBCN các cá nhân dùng sở hữu tư nhân để tự do kinh
doanh bằng hình thức các công ty tư nhân để thu lợi nhuận thông qua cạnh tranh
xuất tư bản chủ nghĩa để có lợi nhuận tối đa luôn có xu hướng hướng đến "nền
sản xuất lớn" với sự tái đầu tư mở rộng và gắn liền với cách mạng khoa học-
công nghệ. Việc nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh là lợi ích
sống còn của các chủ sở hữu doanh nghiệp trong cạnh tranh giành lợi nhuận.
Mua bán sức lao động (thị trường lao động): đây là đặc điểm rất nổi bật
của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Trong nền kinh tế phong kiến và các nền kinh
tế cấp thấp lực lượng nhân công (nông dân, nông nô) bị phụ thuộc vào chủ đất
(địa chủ, lãnh chúa) và quý tộc về mặt pháp lý, họ bị gắn chặt vào ruộng đất và ý
chí của chủ đất và quý tộc. Còn nhân công (người lao động) trong kinh tế tư bản
chủ nghĩa về mặt pháp lý là hoàn toàn bình đẳng với chủ sở hữu doanh nghiệp
(người thuê lao động). Giữa người thuê lao động và người lao động ràng buộc
kinh tế với nhau bằng hợp đồng lao động: người lao động và chủ doanh nghiệp
mua bán sức lao động theo các yếu tố của thị trường. Công nhân có thể thanh lý
hợp đồng lao động với người thuê lao động này và sang làm việc cho người thuê
lao động khác và nếu muốn cùng với có khả năng hoặc may mắn thì cũng có thể
trở thành chủ doanh nghiệp.
Cả xã hội là một thị trường lao động lớn và thường thì cung ứng lao động
nhiều hơn yêu cầu lao động do vậy trong xã hội tư bản chủ nghĩa thường tồn tại
nạn thất nghiệp và nguy cơ của nạn thất nghiệp đóng vai trò kích thích người lao
động nâng cao kỹ năng và kỷ luật lao động trong cuộc chạy đua bảo vệ chỗ làm
việc.
Kinh tế thị trường và cạnh tranh: Vì nền kinh tế được điều hành bởi cá
nhân và các doanh nghiệp tư nhân định hướng đến quyền lợi cá nhân nên kinh
doanh trong kinh tế tư bản chủ nghĩa về cơ bản là tự định hướng, tự điều hành, tự
phát theo quy luật của thị trường tự do và quy luật cạnh tranh hay đó là nền kinh
tế thị trường.
Đặc điểm chính trị xã hội
Chính vì đặc điểm kinh tế cơ bản là quyền tư hữu đối với phương tiện sản
xuất và kinh tế thị trường tự do kinh doanh nên đã kéo theo các đặc điểm khác về
mặt luật pháp, triết học và tâm lý của xã hội tư bản chủ nghĩa:
học thuyết giá trị và học thuyết giá trị thặng dư.
Học thuyế giá trị là điểm xuất phát trong học thuyết kinh tế Marx. CNTB ra
đời gắn với sự phát triển ngày càng cao của sản xuất hàng hóa. Sản xuất hàng
hóa gắn liền với các phạm trù: giá trị, hàng hóa, tiền tệ,… đây cũng là điều kiện
tiền đề cho phương thức sản xuất hàng hóa ra đời và phát triển. Sản xuất hàng
hóa ra đời khi và chỉ khi có phân công lao động xã hội, phân chia xã hội thành
các ngành nghề khác nhau có sự chuyên môn hóa lao động dẫn đến chuyên môn
hóa sản xuất; đồng thời với đó là sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những
người sản xuất do các quan hệ khác nhau về tư liệu sản xuất, người sở hữu tư
liệu sản xuất là người sở hữu sản phẩm lao động. mà xã hội thời đó đã hội đủ
những điều kiện tiên quyết này và phương thức sản xuất TBCN ra đời như một
yếu tố khách quan.
Sản xuất hàng hóa ra đời là bước chuyển căn bản trong lịch sử phát triển loài
người xóa bỏ nền kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp, phát triển sản xuất nâng cao
hiệu quả kinh tế. Sản xuất hàng hóa là điểm ngoặc đầu cho quá trình hình thành
phương thức sản xuất TBCN, sản xuất hàng hóa tạo ra hàng hóa. Mà hàng hóa là
sự thống nhất của hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng, hai thuộc tính này
vừa thống nhất vừa đối lập nhau trong quá trình sản xuất
Nền kinh tế bây giờ lại xuất hiện thêm một loại hàng hóa là sức lao động. Khi
sức lao động trở thành hàng hóa thì tiền tệ mang hình thái là tư bản và lao động
làm thuê, đây là nguồn gốc tạo nên thu nhập trong CNTB.
CHƯƠNG 2. VAI TRÒ CỦA CNTB ĐÃ ĐEM LẠI CHO XÃ HỘI LOÀI
NGƯỜI.
2.1. Những thành tựu to lớn mà CNTB đã đem lai cho nhân loại:
CNTB phát triển qua hai giai đoạn: CNTB cạnh tranh tự do và CNTB độc
quyền, mà nấc thang tột ùng của nó là CNTB độc quyền nhà nước. Trong suốt
quá trình phát triển, nếu chưa xét đến hậu quả nghiêm trọng đã gây ra đối với
loài người thì CNTB cũng có những đóng góp tích cực đối với xã hội loài người,
đó là:
Sự ra đời của CNTB đã giải phóng loài
tin viễn thông mà còn “siêu xa lộ thông tin”; giao thông không chỉ chạy trong
lòng đất mà còn chạy trên không khí (đệm từ trường)… là những điều mà Mác –
Ăngghen chưa thể hình dung. Nó ra đời không phải đợi hàng thế kỷ mà chỉ cần
vài mươi năm. Nó đã giải phóng sức lao động, nâng cao hiệu quả khám phá và
chinh phục thiên nhiên của con người. Phương thức lao động của loài người thay
đổi mang tích cách mạng: thực sự có sự chuyển biến từ hình thái lao động thể lực
sang hình thức lao động có văn hóa và lao động khoa học kỹ thuật (ở Mỹ, công
nhân trực tiếp sản xuất chỉ chiếm 13% lực lượng lao động). tất cả đã đưa nền
kinh tế của nhân loại bước vào một thời đại mới: thời đại của kinh tế tri thức .
Thực hiện xã hội hóa sản xuất: CNTB đã thúc đẩy nền sản xuất hàng hóa phát
triển mạnh và đạt tới điển hình nhất trong lịch sử, cùng với nó là quá trình xã hội
hóa sản xuất cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Đó là sự phát triển của phân công lao
động xã hội, sản xuất tập trung với quy mô hợp lý, chuyên môn hóa sản xuất và
hợp tác lao động sâu sắc, mối liên hệ kinh tế giữa các đơn vị, các lĩnh vực ngày
càng chặc chẽ,… làm cho các quá trình sản xuất phân tán được liên kết với nhau,
và phụ thuộc lẫn nhau thành một hệ thống, thành một quá trình sản xuất xã hội.
như sự ra đời của Cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC), Tổ chức Liên Hợp Quốc
(WTO), Tổ chức ASEAN,…
Sự phát triển của các loại xí nghiệp, công ty cổ phần, công ty xuyên quốc gia,
đa quốc gia làm cho hình thức sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất phát triển đa
dạng, phong phú. Bên cạnh đó còn xuất hiện hình thức sở hữu mới: sở hữu trí
tuệ. Hình thức sở hữu này cũng tham gia và có vai trò ngày càng lớn trong quan
hệ phân phối, tương ứng với tính chất quyết định của nó đối với sự phát triển,
thắng lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng sự tăng trưởng kinh tế
nói chung.
CNTB thông qua cuộc cách mạng công nghiệp đã lần đầu tiên biết tổ chức lao
động theo kiểu công xưởng, do đó đã xây dựng được tác phong công nghiệp cho
người lao động, làm thay đổi nề nếp thói quen của người lao động sản xuất nhỏ
trong xã hội phong kiến.
CNTB lần đầu tiên trong lịch sử đã thiết lập nền dân chủ tư sản, nền dân chủ
không ngang giá qua đó mà thực hiện sự bóc lột, nô dịch đối với những nước lạc
hậu. Như C.Mác đã cho rằng, đó là lịch sử đầy máu và bùn nhơ, không giống
như một câu chuyện tình ca, nó được sử sách ghi chép lại bằng những trang đẫm
máu và lửa không bao giờ phai.
Cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của CNTB là quan hệ bóc lột của các nhà tư
bản đối với công nhân làm thuê. Mặc dù so với các hình thức bóc lột đã từng tồn
tại trong lịch sử, bóc lột TBCN cũng đã là một sự tiến bộ, song theo sự phân tích
C.mác và V.I.Lênin thì chừng nào CNTB còn tồn tại thì chừng đó quan hệ bóc
lột còn tồn tại và sự bất bình đẳng, phân hóa xã hội vẫn là điều không tránh khỏi.
Do khoa học – kỹ thuật ngày càng phát triển đã làm cho môi trường tự nhiên
đang dần dần bị hủy diệt bởi hàng ngàn phế phẩm thải ra mỗi ngày. Tất cả đã
làm nạn ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng
gây ảnh hưởng sức khỏe cho con người như bệnh
ung thư và hàng loạt các vấn đề khác như hạn,
hán, lũ lụt,… hơn nữa là việc gây ra các lỗ hổng
của tầng ozone. Nguồn tài nguyên thiên nhiên
ngày càng cạn kiệt do nạn khai thác quá mức.
CNTB chính là thủ phạm của hai cuộc chiến
tranh thế giới thứ nhất, thứ hai và hàng trăm cuộc
chiến tranh cục bộ, chạy đua vũ trang,… đã để lại
cho loài người những hậu quả nặng nề và đau
thương: Hàng triệu người vô tội đã bị giết hại, sức
sản xuất của xã hội bị phá hủy, tốc dộ phát triển kinh tế của thế giới bị kéo lùi
hàng chục năm. Mà đặc biệt, đến ngày hôm nay
chúng ta vẫn phải gánh chịu với nội đau thương vô
vàng đó là nạn nhân chất độc màu da cam. Như
C.Mác đã nói “…CNTB ra đời đầm đìa những
nhũng máu và bùn nhơ khắp mọi lỗ chân lông của nó” (C.Mác và ph.Ăngghen:
Toàn tập,NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993). CNTB cũng chính là nguyên
nhân của các cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính, nạn lạm phát dẫn đến tình
nảy sinh trong sự phát triển đó. Có lúc tưởng chừng nó đã gần như bị hủy diệt
với những cuộc chiến tranh quy mô lớn chưa từng thấy, những cuộc khủng
hoảng sâu sắc dường như không có lối thoát . Đã có lúc người ta phải dùng tới cả
cụm từ “CNTB hấp hối” để chỉ trạng thái của nó. Bây giờ, các nhà nghiên cứu
trên thế giới, dù là những người bi quan nhất cũng không thấy ai nói tới cái chết
của nó trong một tương lai gần gũi. Trên thực tế, CNTB hiện đại cũng đang đứng
trước những thách đố mới, đòi hỏi nó phải vượt qua chính nó để không bị lâm
vào những tình thế hiểm nghèo.
Tất cả những biến đổi của CNTB đang đặt nó vào những tình thế gay gắt
chưa từng thấy. Cách mạng khoa học – kỹ thuật và toàn cầu hóa –ít ra là hai yếu
tố ấy- đang đặt nó vào những sự cạnh tranh ác liệt mà như mọi người điều biết,
CNTB không thể tồn tại nếu không có cạnh tranh.
Để hiểu rõ hơn những thách đố hiện nay, có lẽ cần nhắc tới những thách đố
mà nó đã giải quyết trong những thập kỷ sau chiến tranh. Trong chiến tranh, một
số nước TBCN (những nước bại trận cũng như một số nước thắng trận) đã trãi
qua những tổn thất lớn mà nếu không có sự viện trợ của những nước giàu hơn,
nhất là của Mỹ thì CNTB ở đó khó lòng tồn tại chứ chưa nói tới phát triển. Đứng
trước những đòi hỏi về việc cải thiện mức sống một cách cấp thiết của đại dân
cư, nhất là của giai cấp công nhân làm thuê, nó phải giải quyết hàng loạt vấn đề
về tiền công và bảo hiểm xã hội. Hơn thế nữa, sức ép của các nước xã hội chủ
nghĩa về mặt này không thể không tính đến trong các chính sách xã hội – kinh tế
của các chính phủ phương Tây. Những khó khăn và thách đố ấy cuối cùng cũng
được giải quyết một cách tích cực, với sự đồng thuận được thiết lập từ ba phía:
chủ tư bản – người lao động làm thuê – chính quyền. Cái gọi là “nền kinh tế thị
trường xã hội” được đề xướng và thực hiện làm giảm bớt những mâu thuẫn nội
tại của CNTB. Kết quả của quá trình này được đúc kết thành một công thức áp
dụng hầu hết ở các nước TBCN phát triển: Nhà nước phúc lợi.
Thế nhưng, cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật xảy ra làm cho cơ cấu của
CNTB phải trải qua những biến đổi ghê gớm mà nạn “thất nghiệp cơ cấu” là một
bóng ma đáng sợ. Hàng triệu người bị thất nghiệp do cơ cấu kỹ thuật – công
có trình độ kỹ thuật cao nhưng không thích hợp với những công nghệ mới? Làm
thế nào để vừa bảo vệ dân cư về mặt xã hội và hàng loạt trợ cấp bảo hiểm mà
ngân sách nhà nước và các quỹ xã hội của doanh nghiệp không đủ sức cáng đáng
nữa? Nói một cách chung hơn, trong những điều kiện này, nhà nước phúc lợi có
thể tồn tại như cũ không?
Những thách đố mới còn được đặt ra trên phạm vi rộng hơn nhiều. Cuộc cách
mạng công nghệ, chủ yếu là tin học, đang làm cho trình độ phát triển của các loại
nước khác nhau trở nên ngày càng chênh lệch. Thật khó khi nói tới việc thu hẹp
các nước này, vì trên thực tế, sự cạnh tranh giữa các nước tạo ra những khoảng
cách ngày càng rộng hơn và sâu hơn. Nền kinh tế thị trường nào cũng phân biệt
đối xử do bản chất của nó, nhưng nó còn phân biệt đối xử hơn nữa khi nó được
thực hiện trên bình diện thế giới với những công nghệ tin học mới. “Tùy theo
anh có khả năng tham gia sáng tạo, sử dụng và tối ưu hóa chúng hay không mà
anh đứng ở đầu này hay đầu kia và những khoảng cách được đào rất nhanh”.
Điều đó không có nghĩa là những nước đang phát triển hiện nay sẽ ở vào vị trí
thấp kém mãi về công nghệ. Cũng như chúng ta đã nhìn thấy sự nhảy vọt của
một số nước gọi là “công nghiệp mới” (NICs), và nói như Alain, “sự nổi lên của
Trung Quốc, Ấn Độ và châu Mỹ Latin, những tác nhân mới của sự tăng trưởng
thế giới khiến cho chúng ta lần đầu tiên sống trong một nền kinh tế thật sự thế
giới”. Lạc hậu không phải là định mệnh. Nhưng trên phạm vi toàn cầu, sự phân
cực vẫn còn diễn ra – cho tới bao giờ, chưa ai biết rõ – giữa các loại nước giàu
và nghèo, những nước giàu ngày càng giàu hơn, và những nước nghèo ngày càng
nghèo hơn. Trên bình diện thế giới, vẫn còn nhiều khả năng bùng nổ những cuộc
xung đột giữa các nước giàu và nghèo mà người ta thường gọi là “xung đột Bắc
– Nam”. Làm thế nào để giải quyết những xung đột của hệ thống thế giới mà vẫn
duy trì được tốc độ của những biến đổi ngày càng nhanh chóng trong lĩnh vực
khoa học – kỹ thuật? Các nước giàu bỏ mặt cho các nước nghèo tự xoay xở lấy,
hay chính vì lợi ích của mình, các nước giàu phải góp phần khắc phục tình trạng
lạc hậu của các nước nghèo? Chưa có câu giải đáp nào thạt thích hợp cho thách
đố mới này đối với CNTB hiện đại cả.
từ năm 1820 đến năm 1898 đạt 2,21%. Sau chiến tranh thế giới thứ II, tốc độ
tăng trưởng kinh tế thế giới nâng cao rõ rệt, từ năm 1950 -1973, GDP thế giới
mỗi năm tăng 4,91%, từ năm 1973 – 1998 tăng 3,01%. Những năm 90 của thế kỷ
XX, nước Mỹ với sự thúc đẩy của cách mạng IT đã có 10 năm phồn vinh liên
tục, trong khoảng thời gian 1996 – 2000 mức tăng trưởng GDP bình quân hàng
năm đạt trên 4%. Tiến bộ khoa học kỹ thuật thúc đẩy nâng cao năng suất lao
động. Từ năm 1995 – 2001 năng suất lao động của các ngành phi nông nghiệp
Mỹ tăng trưởng bình quân hàng năm là 2,6%, gấp gần hai lần so với khoảng thời
gian từ 1973 – 1995 (1,39%), đây chính là kết quả áp dụng rộng rãi IT.
2. Nền kinh tế đang có xu hướng chuyển từ kinh tế công nghiệp sang
kinh tế tri thức.
Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ nhất, 200 năm trước, đã thúc đẩy
CNTB chuyển đổi từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp; cách mạng
IT hiện nay đang thúc đẩy nền kinh tế TBCN chuyển từ kinh tế công nghiệp sang
kinh tế tri thức
Trong kinh tế tri thức, vai trò của tri thức và kỹ thuật đã cao hơn các yếu tố
như nguồn tài nguyên tự nhiên và vốn, trở thành yếu tố quan trọng nhất. Vận
hành của kinh tế tri thức chủ yếu không do người lao động cơ bắp thao tác máy
móc, mà chủ yếu do những người lao động trí óc trong các ngành thiết kế,
nghiên cứu phát triển cũng như truyền bá tri thức thúc đẩy. Nâng cao tầm quan
trọng của tri thức, biểu hiện ở chổ tăng trưởng của tư bản vô hình (giáo dục,
nghiên cứu, khai thác,…) cao hơn tư bản hữu hình (xây dựng, máy móc), hàm
lượng tri thức tăng lên trong sản phẩm và dịch vụ.
Cùng với sự chuyển đổi loại hình kinh tế, kết cấu ngành nghề của CNTB
cũng được điều chỉnh và nâng cấp hơn, chuyển sang dịch vụ hóa và công nghệ
cao hóa. Điều này thể hiện ở chỗ: trong ba ngành nghề lớn, vị trí nông nghiệp hạ
thấp, vị trí của dịch vụ, đặc biệt là ngành dịch vụ có liên quan đến công nghệ mới
được tăng lên. Theo thống kê tỷ trọng nông nghiệp và công nghiệp của Mỹ
chiếm trong GDP năm 1989 lần lượt là 18,2% và 36,1%; năm 1999 là 1,4% và
21,7%. Trong cùng thời gian này, tỷ trọng của ngành dịch vụ trong GDP tăng từ
thể chế quản lý kinh doanh trong nội bộ các doanh nghiệp đã thực hiện các bước
điều chỉnh và cải cách lớn.
Thứ nhất, doanh nghiệp cải cách cơ chế quản lý, thiết lập cơ cấu hàng ngang
và mạng lưới. Phương hướng cải cách là xóa bỏ hệ thống kim tự tháp truyền
thống như tập trung quá lớn quyền lực, đa tầng thứ và theo chiều dọc, thay thế
bằng kiểu mạng lưới phân quyền, ít tầng thứ và theo chiều ngang nhằm giảm bớt
khâu trung gian, thông tin thuận lợi, đơn giản trỉnh tự quyết sách; phát huy đầy
đủ tính chủ động và trách nhiệm của toàn thể công nhân, nhằm nâng cao hiệu
quả công tác.
Thứ hai, dùng công nghệ cao cải cách cơ chế quản lý sản xuất. Để thích ứng
với những thay đổi từ thể chế sản xuất theo “đơn đặt hàng”, doanh nghiệp thiết
lập hệ thống sản xuất, linh hoạt, hệ thống sản xuất bằng máy tính, chế độ cung
cấp thích hợp và cơ chế phát triển theo nhu cầu (tức khâu sản xuất càng gần gũi
với khách hàng hơn).
Thứ ba, thực hiện cải cách lao động, lấy con người làm gốc, yêu cầu đối với
công nhân chủ yếu không phải là điều kiện thể lực mà phải có kỹ năng và tri thức
cao hơn, để họ phát huy tính chủ động và tính sáng tạo, từ đó nâng cao năng suất
lao động và tăng cường thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
Thứ tư, thay đổi hình thức tổ chức doanh nghiệp, xuất hiện xu thế hai loại
hình lớn hóa và nhỏ hóa cùng hỗ trợ nhau tồn tại. Các doanh nghiệp lớn đã
không ngừng mở rộng ưu thế về quy mô, tăng cường sức mạnh thị trường của
công ty. Đồng thời, các doanh nghiệp nhỏ linh hoạt hơn, có tinh thần sáng tạo
hơn cũng được phát triển mạnh mẽ, làm cho kinh tế TBCN có sức sống và hiệu
quả cao.
5. Điều tiết vĩ mô của nhà nước ngày càng được tăng cường.