© hiepkhachquay Sự biến đổi khí hậu | Trang 1/10
MÔ PHỎNG SỰ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬUTrái Đất đang ấm dần lên, với những hệ quả tai họa tiềm tàng. Các mô hình
khí hậu máy tính dựa trên nền vật lí là hi vọng tốt nhất của chúng ta về việc dự
đoán và điều khiển sự biến đổi khí hậu, như Adam Scaife, Chiris Folland, và John
Mitchell giải thích.
Tin chính thức: Trái Đất đang nóng dần lên, và đó là điều hiểm họa cho
chúng ta. Tháng này, các nhà khoa học từ hơn 60 quốc gia thuộc Ban hội thẩm liên
chính phủ về sự biến đổi khí hậu (IPCC) đã công bố phần đầu của bản báo cáo mới
nhất của họ về sự ấm lên toàn cầu. Trong bản báo cáo, ban hội thẩm kết luận rằng
rất có khả năng là đa phần sự tăng thêm 0,5
o
C của nhiệt độ toàn cầu trong 50 năm
vừa qua là do sự phát thải khí nhà kính bởi con người gây ra. Và khoa học cho biết
sự biến đổi lớn hơn nhiều hiện đang tích trữ: vào năm 2100, sự ấm lên toàn cầu do
con người gây ra có thể sánh được với sự ấm lên khoảng 6
o
C kể từ kỉ nguyên băng
hà gần đây nhất.
Hậu quả của sự ấm lên toàn cầu có thể thật thảm khốc. Khi Trái Đất tiếp tục
nóng lên, thì tần suất lũ lụt và hạn hán có khả năng tăng lên, nguồn cung cấp nước
và các hệ sinh thái sẽ bị đe dọa, các thói quen nông nghiệp sẽ phải thay đổi và hàng
triệu người phải di cư vì mực nước biển dâng lên. Nền kinh tế thế giới cũng sẽ bị
ảnh hưởng gay gắt. Mới đây, tổ chức Stern Review, do chính phủ Anh ủy thác ước
định tác động kinh tế của sự biến đổi khí hậu, cảnh báo rằng 5-20% tổng sản phẩm
quốc nội của thế giới có thể bị thiệt hại trừ khi sự cắt giảm phát thải khí nhà kính
được sớm thực hiện. Nhưng làm thế nào chúng ta dự đoán được sự biến đổi khí hậu,
và tại sao chúng ta lại phải tin tưởng vào chúng ?
Một số trong các quá trình này, chẳng hạn như vòng tuần hoàn của đại dương, có thể được giải
quyết rõ ràng trong các mô hình khí hậu, còn một số khác, ví dụ như ảnh hưởng của các đám mây,
phải được “tham số hóa”.
Khí carbon dioxide (CO
2
) được giải phóng khi chúng ta đốt các nhiên liệu
hóa thạch, và người đầu tiên định lượng được ảnh hưởng mà CO
2
có thể có trong
việc làm tăng hiệu ứng nhà kính là nhà hóa học thế kỉ 19 người Thụy Điển Svante
Arrhenius. Ông tính tay được rằng một lượng gấp đôi CO
2
trong bầu khí quyển cuối
cùng dẫn tới sự tăng 5-6
o
C nhiệt độ toàn cầu – một con số gần một cách xuất sắc
với những dự đoán hiện nay. Những tính toán chi tiết hơn hồi cuối thập niên 1930
do kĩ sư người Anh Guy Callendar thực hiện cho thấy một sự ấm lên kém kịch tính
hơn, khoảng 2
o
C, với ảnh hưởng lớn hơn ở các vùng cực.
Trong khi đó, vào đầu thế kỉ 20, nhà khí tượng học người Na Uy Vilhelm
Bjerknes đã tìm ra khoa học dự báo thời tiết. Ông lưu ý rằng với những điều kiện
ban đầu chi tiết đã biết và những quy luật vật lí có liên quan, người ta có thể dự
© hiepkhachquay Sự biến đổi khí hậu | Trang 3/10
đoán được các điều kiện thời tiết tương lai bằng toán học. Lewis Fry Richardson
tiếp tục thử thách này vào thập niên 1920 bằng việc sử dụng kĩ thuật số học giải các
phương trình vi phân cho dòng chất lưu. Dự báo của Richardson sai lệch nhiều,
nhưng phương pháp luận của ông đã đặt nền tảng cho những mô hình khí quyển
bằng máy tính đầu tiên phát triển trong những năm 1950. Vào thập niên 1970,
gian hơn vài ngày sắp tới, vậy làm sao chúng ta có thể hi vọng dự báo khí hậu, nói
ví dụ, hàng chục hoặc hàng trăm năm trong tương lai ? Một phần của câu trả lời
nằm ở chỗ khí hậu là trung bình của các điều kiện thời tiết theo thời gian. Chúng ta
không cần dự đoán chính xác chuỗi thời tiết để dự báo khí hậu tương lai, giống như
© hiepkhachquay Sự biến đổi khí hậu | Trang 4/10
trong nhiệt động lực học chúng ta không cần dự đoán quỹ đạo của mỗi phân tử để
định lượng các tính chất trung bình của chất khí.
Trong thập niên 1960, các nhà nghiên cứu làm việc tại Phòng thí nghiệm
động học chất lưu địa cầu, ở Princeton, Mĩ, đã xây dựng trên mô hình dự báo thời
tiết mô phỏng ảnh hưởng của sự phát thải CO
2
nhân tạo lên khí hậu của Trái Đất.
Các phép đo do Charles Keeling thực hiện tại Mauna Loa, Hawaii, bắt đầu vào năm
1957, cho thấy bằng chứng rõ ràng rằng sự tích tụ CO
2
trong khí quyển đang gia
tăng. Mô hình Princeton dự đoán sự gấp đôi lượng CO
2
trong khí quyển có thể làm
ấm tầng đối lưu – tầng thấp nhất của khí quyển – nhưng cũng làm lạnh tầng bình
lưu cao hơn nhiều phía trên, đồng thời tạo ra sự ấm lên lớn nhất về phía các cực,
phù hợp với những tính toán ban đầu của Callendar.
Đai ốc và bulông của mô hình khí hậu
Hệ khí hậu gồm có năm thành phần: khí quyển; đại dương; sinh quyển; hàn
quyển (băng và tuyết) và địa quyển (đá và đất). Những thành phần này tương tác ở
nhiều quy mô khác nhau cả trong không gian và thời gian, làm cho khí hậu có sự
biến thiên tự nhiên lớn, và ảnh hưởng của con người như làm phát thải khí nhà kính
làm tăng thêm tính phức tạp (hình 1). Việc dự báo khí hậu tại một thời điểm nhất
định trong tương lai do đó phụ thuộc vào khả năng của chúng ta tính đến các quá
trình chủ chốt càng nhiều càng tốt trong mô hình khí hậu của mình.
máy tính điển hình. Nếu các đám mây được lập mô hình không chính xác thì mô
phỏng khí hậu sẽ bị sai lầm nghiêm trọng.
Hình 3. Mô hình khí hậu (màu vàng) chỉ có thể tái tạo sự biến đổi quan sát được ở nhiệt độ toàn
cầu trong thế kỉ qua (màu xanh) bằng cách tính cả các ảnh hưởng tự nhiên và do con người (phía
dưới). Chiều dày của dải biểu diễn độ bất định (hai độ lệch chuẩn) do sự biến thiên khí hậu.
Những người lập mô hình khí hậu giải quyết những quá trình dưới độ phân
giải như thế bằng một kĩ thuật gọi là biểu hiện bằng tham số, nhờ đó những quá
trình quy mô nhỏ được biểu diễn bằng giá trị trung bình trên một hộp điểm được
thực hiện bằng những quan trắc, lí thuyết và nghiên cứu ngữ cảnh từ những mô hình
độ phân giải cao. Ví dụ về sự tham số hóa mây gồm các kế hoạch “đối lưu” mô tả
cơn mưa nhiệt đới nặng hạt làm khô đi bầu khí quyển qua sự ngưng tụ và làm ấm nó
qua việc giải phóng nhiệt tiềm tàng; và kế hoạch “tạo mây’ sử dụng gió, nhiệt độ, và
độ ẩm tính được bằng mô hình để mô phỏng sự hình thành và phân hủy của các đám
mây và ảnh hưởng của chúng lên bức xạ.
© hiepkhachquay Sự biến đổi khí hậu | Trang 6/10
Việc tham số hóa các tương tác trong hệ khí hậu là công việc chính của
nghiên cứu lập mô hình khí hậu. Chẳng hạn, nguồn cung cấp bên ngoài chủ yếu vào
khí hậu của Trái Đất là bức xạ điện từ đến từ Mặt Trời, nên cách bức xạ tương tác
với bầu khí quyển, đại dương, và mặt đất phải được mô tả chính xác. Vì bức xạ này
bị hấp thụ, phát ra, và tán xạ bởi sự phân bố không đồng đều của các chất khí trong
khí quyển như hơi nước, carbon dioxide và ozone, nên chúng ta cần phải tính đến sự
tập trung trung bình của các chất khí khác nhau trong một hộp lưới và kết hợp số
liệu này với dữ liệu quang phổ kế đối với từng chất khí. Tốc độ nóng lên toàn phần
tính được đưa thêm “số hạng nguồn” vào phương trình nhiệt động lực học (xem
hình 2).
Hình 4. Các mô hình khí hậu dự đoán một hình ảnh địa lí chắc chắn trong sự ấm lên của bề mặt
Trái Đất, biểu diễn ở đây là sự biến đổi từ thời kì tiền công nghiệp đến thập niên 2080. Cụ thể, các
hệ khí hậu.
Tác dụng nhân tạo chủ yếu là sự phát thải CO
2
. Độ tập trung CO
2
trong khí
quyển đã tăng từ 280 phần triệu lên 380 phần triệu, kể từ cuộc cách mạng công
nghiệp, và vì nó tồn tại quá lâu trong khí quyển (khoảng một thế kỉ) nên CO
2
có tác
động lâu dài lên khí hậu của chúng ta.
Trong khi những mô hình trước đây cho chúng ta biết sự ấm lên “cân bằng”
sau rốt là do, nói ví dụ, một sự gấp đôi mức độ tập trung CO
2
, chúng không thể dự
đoán chính xác nhiệt độ sẽ thay đổi như thế nào như một hàm của thời gian. Tuy
nhiên, vì mô hình ghép đôi khí quyển-đại dương có thể mô phỏng sự ấm lên chậm
chạp của các đại dương, nên chúng cho phép chúng ta dự đoán “phản ứng khí hậu
nhất thời” này. Điều quan trọng là những mô hình trạng thái nghệ thuật này cũng
cho phép chúng ta đưa vào sự thay đổi phát thải theo thời gian để dự báo khí hậu sẽ
biến đổi như thế nào khi tác động nhân tạo tăng lên.
Carbon dioxide không phải là tác động nhân tạo duy nhất. Ví dụ, năm 1988,
Jim Hansen, tại Viện Nghiên cứu Không gian Goddard, Mĩ, và các đồng nghiệp đã
sử dụng một mô hình khí hậu chứng minh tầm quan trọng của các chất khí nhà kính
khác như methane, nitrous oxide và chlorofluorocarbon (CFC), chúng cũng có thể
độc lập nhau gây phá hủy tầng ozone. Hơn nữa, trong thập niên 1980, các hạt
sulphate aerosol trong tầng đối lưu được tạo ra bởi sulphur trong sự phát thải nhiên
liệu hóa thạch được tìm thấy đã làm tán xạ ánh sáng khả kiến trở lại không gian và
do đó làm lạnh đáng kể khí hậu. Hiệu ứng quan trọng này được bao hàm lần đầu
tiên trong một mô hình khí hậu vào năm 1995 bởi một trong số các tác giả bài viết
Độ chính xác của các mô hình khí hậu có thể ước định theo một số cách. Một
phép thử quan trọng của một mô hình khí hậu là mô phỏng một “khí hậu hiện tại”
bền vững trong hàng nghìn năm, trong sự vắng mặt của các tác nhân cưỡng thúc.
Thật vậy, bây giờ các mô hình có thể tạo ra khí hậu có sự biến đổi rất nhỏ ở nhiệt độ
bề mặt/thế kỉ, nhưng với những biến đổi năm/năm, biến đổi theo mùa và theo vùng
nhại lại những biến đổi quan sát được. Trong số này có gió xoáy, gió mậu dịch, áp
thấp và vùng xoáy nghịch, chúng gây khó cho cả những người dự báo từng trải nhất
phân biệt với thời tiết thật, và cả những dao động năm/năm chính giống như dao
động El Nino ở phương nam.
Một phép thử quan trọng khác cho các mô hình khí hậu là chúng có thể tái
tạo lại sự biến đổi khí hậu quan sát được trong quá khứ. Vào giữa thập niên 1990,
Ben Santer tại Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Livermore ở Mĩ, và các đồng
sự đã củng cố luận cứ cho rằng loài người đang làm ảnh hưởng tới khí hậu bằng
cách chỉ ra rằng các mô hình khí hậu mô phỏng thành công hình ảnh không gian của
sự biến đổi khí hậu thế kỉ 20 chỉ khi nào chúng tính đến các tác động nhân tạo. Gần
đây hơn, Peter Stott và các cộng sự tại Trung tâm Hadley đã chỉ ra rằng điều này
cũng đúng đối với sự tiến triển theo thời gian của nhiệt độ toàn cầu (xem hình 3).
Những kết quả như thế chứng tỏ sức mạnh của các mô hình khí hậu trong việc cho
phép chúng ta thêm vào hoặc loại bớt từng tác động một để phân biệt những ảnh
hưởng mà con người gây nên lên khí hậu.
Các mô hình khí hậu cũng có thể kiểm tra đối với những điều kiện khí hậu
rất khác xa xôi hơn trong quá khứ, ví dụ như kỉ nguyên băng hà gần đây nhất
khoảng 9000 năm về trước và thời kì ấm áp Holocen theo sau đó. Vì không có dữ
liệu đo đạc nào có thể dùng được từ thời gian này, nên các mô hình khí hậu được
kiểm tra với những vật chỉ thị “ủy nhiệm” của sự biến đổi nhiệt độ, ví dụ như các
thớ cây hoặc lõi băng. Những dữ liệu này không xác thực như các số đo thời hiện
đại, nhưng các mô hình khí hậu đã tái tạo thành công những hiện tượng suy ra từ dữ
liệu, ví dụ như sự tấn công về phía nam của sa mạc Sahara trong 9000 năm qua.
Dự báo tương lai
Việc lập các mô hình của chúng ta và kiểm tra chúng đối với dữ liệu khí hậu
khu vực lục địa vào mùa hè.
Mực nước biển được dự đoán là tăng lên thêm 40 cm (với sai số có thể chấp
nhận được) vào năm 2100, chủ yếu do sự giãn nở nhiệt của đại dương và sự tan
chảy băng trên đất liền. Con số trông có vẻ chỉ là một sự tăng nhỏ thôi, nhưng phần
nhiều dân cư sống ở các vùng duyên hải rất nguy hiểm do bão lũ tăng thêm - ở
Bangladesh chẳng hạn, nhiều triệu dân cư có thể phải đổi chỗ ở. Ở thời hạn lâu hơn,
có sự lo lắng thật sự về sự tan chảy của các tảng băng ở Greenland và phía Tây Nam
Cực, có thể mang tới sự gia tăng mực nước biển lớn hơn nhiều.
Chúng ta vẫn phải gấp rút cải thiện việc lập mô hình và quan sát nhiều quá
trình để hoàn thiện các dự báo khí hậu, nhất là ở quy mô mùa và quy mô vùng. Ví
dụ, những cơn bão và bão nhiệt đới vẫn không được biểu diễn trong nhiều mô hình
và những hiện tượng khác như dòng hải lưu vịnh Mexico vẫn được hiểu một cách
nghèo nàn do thiếu quan trắc. Do đó, chúng ta không chắc chắn là các cơn bão và
những cơn dông tố khác có thể biến đổi như thế nào do sự ấm lên toàn cầu, hoặc
chúng ta có thể tiến gần tới bao nhiêu sự chậm lại của dòng hải lưu vịnh Mexico.
Mặc dù chúng sẽ được hoàn thiện hơn, nhưng có nhiều lí do để tin tưởng dự
đoán của các mô hình khí hậu hiện nay. Trên hết thảy, chúng dựa trên các định luật
đã được thiết lập của vật lí và thể hiện hiểu biết tốt nhất của chúng ta về các tương
tác và cơ chế phản hồi trong hệ khí hậu. Trên thời gian vài ngày, các mô hình có thể
dự báo thời tiết một cách tài tình; chúng cũng thực hiện xuất sắc công việc tái tạo
khí hậu toàn cầu hiện nay cũng như nhiệt độ trung bình toàn cầu trong thế kỉ qua.
Chúng cũng mô phỏng được các khí hậu khác nhau tận gốc rễ của kỉ nguyên băng
hà vừa qua và thời kì ấm áp Holocene, chúng là kết quả của những tác động có thể
sánh với quy mô của những tác động nhân tạo được mong đợi vào cuối thế kỉ 21.
© hiepkhachquay Sự biến đổi khí hậu | Trang 10/10
Mặc dù có một vài mặt tích cực đối với sự ấm lên toàn cầu – chẳng hạn các
vùng vĩ độ cao sẽ có các mùa mở rộng hơn và những hải trình mới có thể được mở
trong Nam Băng Dương khi băng biển rút đi – nhưng phần lớn các tác động là tiêu
cực. Điều kiện nóng hơn có khả năng làm căng thẳng nhiều cánh rừng nhiệt đới và
mùa màng; còn ngoài vùng nhiệt đới, những sự kiện như đợt nóng năm 2003 dẫn tới
C, chúng có thể có những hệ quả thảm khốc.
Tìm đọc thêm về việc lập mô hình khí hậu:
www.metoffice.gov.uk/research/hadleycentre J T Houghton 2005 Climate Change: The Complete Briefing (Cambridge University Press)
K McGuffie and A Henderson-Sellers 2004 A Climate Modelling Primer (Wiley, New York)
Tác giả: Adam Scaife và Chris Folland tại Trung tâm Nghiên cứu và Dự đoán khí hậu Hadley,
Met Office, Anh, và John Mitchell là nhà khoa học chính tại Met Office, Anh.
(Physics World, tháng 2/2007)
hiepkhachquay dịch
(An Minh, ngày 17/7/2007, 8:25:25 PM)
© hiepkhachquay Báo động về khí hậu | Trang 1/5
BÁO ĐỘNG VỀ KHÍ HẬUQuan điểm từ trước đến nay trong số các nhà khoa học là sự ấm lên toàn cầu
do con người gây ra là có thật và có khả năng gây thiệt hại. Nhà vật lí khí hậu
Richard Lindzen trình bày với Edwin Cartligde tại sao ông lại không đồng ý như
vậy.
Những ngày này dường như thật khó mà không nói về sự ấm lên toàn cầu.
Những câu chuyện đầy kịch tính về thảm họa khí hậu tiềm tàng choán đầy trang
nhất của các tờ báo và nhận được hàng giờ nhàn rỗi trên tivi và radio, còn các nhà
chính trị thì nắm bắt từng cơ họi để quảng bá cho khả năng xanh của họ. Nhà cố vấn
khoa học cấp cao cho chính phủ Anh, ngài David King, đã mô tả sự biến đổi khí
hậu là “vấn đề khốc liệt nhất mà chúng ta đang đối mặt ngày nay”, còn cựu phó
tổng tổng Mĩ, Al Gore, thì quả quyết rằng “hiểm họa đe dọa chẳng để lại gì tàn dư
của nền văn minh nhân loại”.
Nhưng đối với Richard Lindzen, một nhà vật lí khí hậu tại Viện Công nghệ
o
C trong thế kỉ 20, một con số Lindzen nghĩ rằng có khả
năng là chính xác. Ông cũng đồng ý rằng sự tập trung các chất khí nhà kính trong
khí quyển đã tăng lên (với carbon dioxide đã tăng từ chừng 280 phần triệu vào
khoảng năm 1700 lên trên 380 phần triệu hiện nay), đa số sự tăng này là do các hoạt
động của con người. Nhưng chỗ ông không đồng ý với IPCC là quy mô mà sự tăng
tập trung này có thể gây ra sự ấm lên, hay nói cách khác là con người có ảnh hưởng
bao nhiêu đến khí hậu.
Đồ thị “hình khúc côn cầu” nổi tiếng công bố năm 1999, bởi Michael Mann,
khi đó ở trường đại học Virginia, và các đồng sự chỉ ra rằng nhiệt độ ở bán cầu bắc
đã cao hơn trong vài thập kỉ vừa qua của thế kỉ 20 so với bất kì thời kì tương ứng
nào trong bốn thế kỉ trước đó và có khả năng là so với cả thiên niên kỉ vừa qua.
Trong khi đó, các nhà nghiên cứu tại Trung tâm Hadley ở Anh, đã tạo ra một mô
hình khí hậu có thể tái tạo sít sao dữ liệu nhiệt độ từ 150 năm qua nếu như nó bao
gồm cả các dao động nhiệt độ tự nhiên và do con người gây ra. Những nghiên cứu
này và các nghiên cứu khác đã đưa tới việc IPCC kết luận vào năm 2001 (trong
“bản tóm tắt cho các nhà điều hành chính trị” của nó) rằng “nếu đưa vào các sai số
như cũ, thì đa số sự ấm lên quan sát được trong 50 năm qua có khả năng là do sự
tăng mức tập trung chất khí nhà kính”, một kết luận có khả năng được củng cố trong
bản báo cáo mới nhất của ban hội thẩm về khoa học biến đổi khí hậu sẽ được công
bố trong tháng này [2/2007].
Tuy nhiên, đối với Lindzen, việc so sánh giữa dữ liệu nhiệt độ mô hình và
nhiệt độ quan sát được về cơ bản là một bài toán “làm cho khớp đường cong”, vì,
theo ông nói, tính chất của một số cơ chế tự nhiên và do con người có khả năng làm
nóng lên hoặc làm lạnh đi Trái Đất được hiểu biết một cách nghèo nàn. Thật vậy,
ông tin rằng “tín hiệu” nóng lên do con người gây ra đã khẳng định là không rõ ràng
bởi sự “nhiễu” bất định trong phép đo nhiệt độ và, quan trọng hơn, trong dao động
nội tại của khí hậu. Với dao động nội tại, ông đơn giản muốn nói tới động lực học
nội tại của khí quyển và đại dương, chứ không phải các yếu tố tự nhiên bên ngoài,
ví dụ như sự dao động sức phát xạ của Mặt Trời, hoặc những thay đổi đột ngột mức
bốc tầm quan trọng của bản báo cáo càng nhiều càng tốt nhằm, như ông nói, “bấu
vào uy quyền của các nhà khoa học”.
Tuy nhiên, Lindzen vẫn duy trì lòng phẫn nộ tột bậc của ông đối với các nhà
khoa học không phải là chuyên gia nghiên cứu khí hậu nhưng, như ông nhìn nhận,
họ lại cố khai thác quyền lực của mình trong cuộc tranh luận biến đổi khí hậu. Đối
với những kẻ này, ông nói, có một nơi đặc biệt dành cho họ, đó là địa ngục. Trong
số này, ông đếm có ngài (Robert) May, cựu cố vấn khoa học cao cấp của nước Anh
và là cựu chủ tịch Hội Hoàng gia, và ngài David King. “Vì bất cứ lí do gì, dù là bàn
cãi hay thành kiến hay xúc động, tôi đều không có ý kiến gì, nhưng các phát biểu
mà họ nêu ra không có liên quan gì tới khoa học”, ông nói.
Nhưng liệu có phải là không thể nào các mô hình khí hậu ngày càng mạnh
mẽ cuối cùng xác nhận một lần và đối với tất cả sự ấm lên toàn cầu do con người
gây ra đáng kể đang xảy ra ? Có phải là không thể xét đoán được để bắt đầu hạn chế
phát thải carbon dioxide nhằm phòng xa ? Không, Lindzen nói. Ông tin rằng nghị
định thư Kyoto sẽ có một tác động rất nhỏ, làm hoãn lại mức ấm lên chỉ khoảng 1
hoặc 2 năm, và hoàn toàn không thể xem nó là bước đầu tiên trong toàn bộ một loạt
hiệp ước phát thải thậm chí còn nhiều tham vọng hơn nữa.
Đối với Lindzen, không có nhiều thứ chúng ta có thể làm, ngoài việc đảm
bảo rằng các quốc gia trở nên đủ giàu để xây dựng được biện pháp ngăn ngừa lũ lụt
hoặc bất cứ thứ gì cần thiết nếu như khí hậu thật sự không như mong đợi. Đối với
một số người, điều này nghe có vẻ tự mãn, nhưng ông bác bỏ luận điệu này. “Điều
đó có thể nói như thế này: bạn có một đứa con mắc một chứng bệnh hiếm gặp và
không ai biết nên đối xử với nó như thế nào, và rồi một thầy lang tin cậy xuất hiện
và nói rằng vì bạn không có sự chọn lựa nào khác nên bạn phải nghe theo tôi”.
Không còn nghi ngờ gì nữa, giữa công chúng, Richard Lindzen nằm trong
nhóm thiểu số tin rằng loài người không làm nóng lên nghiêm trọng Trái Đất này.
Gavin Schmidt thuộc NASA tin rằng Lindzen “đang giao chiến với chiến trường
của ngày hôm qua” và vấn đề ông tranh luận “là sự bất định ngày xưa, nhưng bây
giờ đã sẵn sàng mang vào sách giáo khoa”. Cũng có khả năng là nhiều người tin
© hiepkhachquay Báo động về khí hậu | Trang 4/5
đợi chỉ một sự tăng khác 0,3 - 0,4
o
C khi mức carbon dioxide đạt tới 560 phần triệu
(trên xu hướng hiện nay thì con số này sẽ xuất hiện thi thoảng giữa năm 2040 và
2070).
Các đám mây là nguồn sai số chính trong mô hình khí hậu
Lindzen vẫn cho rằng các mô hình là sai lầm vì chúng hoàn toàn thất bại
trong việc tái tạo cơ chế “phản hồi” trong hệ khí hậu. Mọi người đều đồng ý rằng,
theo những tính toán vật lí đơn giản, nếu như các chất khí nhà kính chỉ tác động độc
lập, thì sự gấp đôi của chúng sẽ đưa tới sự tăng khoảng 1
o
C nhiệt độ toàn cầu.
© hiepkhachquay Báo động về khí hậu | Trang 5/5
Nhưng các mô hình mà IPCC sử dụng có sự phản hồi dương mạnh mẽ từ hơi nước,
đó là một chất khí nhà kính có tác động mạnh. Nói cách khác, sự bay hơi mạnh hơn
trong một thế giới ấm hơn dẫn tới sự tập trung lớn hơn của hơi nước trong khí
quyển, thành ra dẫn tới nhiệt độ bề mặt cao hơn.
Nhưng Lindzen tin rằng khó khăn của việc lập mô hình từng đám mây – một
trong những vấn đề gai góc nhất mà các nhà khoa học khí hậu đối mặt (xem bài Mô
phỏng sự biến đổi khí hậu,
/>) –
cho thấy các nhà nghiên cứu không có cách nào biết được bao nhiêu hơi nước trong
khí quyển sẽ ngưng tụ thành mây và rồi rơi xuống Trái Đất dưới dạng mưa và bao
nhiêu nước mưa sẽ bay hơi. Ông cũng chỉ ra rằng chính những đám mây đã cung
cấp những cơ chế phản hồi mạnh mẽ - với những đám mây tầng thấp có xu hướng
phản xạ bức xạ Mặt Trời đến trở lại không gian, do đó làm giảm sự ấm lên, và
những đám mây tầng cao có xu hướng làm bức xạ nhiệt của Trái Đất thất thoát vào
không gian, nên làm tăng sự ấm lên.