20Chơng II
Vai trò của công ty cổ phần
đối với phát triển kinh tế ở nớc ta hiện nay
I. Quá trình hình thành công ty cổ phần ở Việt
nam
1. Quá trình hình thành là tất yếu khách quan.
Công ty cổ phần là hình thức kinh tế mới xuất hiện khi nớc ta
chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần. Sự hình thành công ty cổ
phần ở nớc ta là một thực tế khách quan, một xu hớng tất yếu
trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc la phát triển
kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Do vậy nớc ta
cần phải hình thành công ty cổ phần dựa trên một số căn cứ sau :
21
1.1. Sự hạn chế và kém hiệu quả trong sản xuất kinh doanh của
một số doanh nghiệp Nhà nớc.
Trong thời gian 10 năm đổi mới một số doanh nghiệp Nhà nớc
hoạt động không hiệu quả còn nhiều hạn chế. Nằm nâng cao hiệu
quả hoạt động của các doang nghiệp trong nớc đặc biệt là các
doanh nghiệp Nhà nớc. Động lực lợi ích là mục tiêu cao nhất của
doanh nghiệp, của ngời có vốn cũng nh ngời lao động. Nó là cơ
sở bên trong thúc đẩy việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp, đòi hỏi phải tìm đến một hình thức kinh tế
thích hợp là công ty cổ phần bởi trong công ty cổ phần quyền sở
quốc gia là tất yếu khách quan. Một trong các hình thức liên kết
kinh tế giữa các quốc gia dới hình thức góp vốn kinh doanh là
công ty cổ phần vì đây là hình thức kinh tế có trình độ xã hội hoá
rất cao, phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất và
quốc tế hoá đời sống kinh tế của nhiều quốc gia.
2. Quá trình hình thành công ty cổ phần ở Việt nam
23
Trong lịch sử hình thành và phát triển có hai phơng pháp để
thành lập các công ty cổ phần đó là thành lập mới các công ty cổ
phần và cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nớc đã có.
Do nền kinh tế Việt nam hiện nay có những đặc điểm cụ thể,
riêng biệt so với các các nớc khác trên thế giới nên việc thành lập
mới các công ty cổ phần không đợc chú trọng phát triển. Hiện nay
ở Việt nam, kinh tế quốc doanh đang nắm vai trò chủ đạo, hiện có
7500 doanh nghiệp nhà nớc, nắm giữ khoảng 80% tài sản quốc gia,
90% lao động lành nghề và cán bộ khoa học kỹ thuật, 95% tín dụng
nhà nớc. Nhng có đến 20% -30% doanh nghiệp đang làm ăn thua
lỗ, ngoài ra đây còn là khu vực có rất nnhiều tiêu cực nh lãng phí ,
quân liêu làm thất thoát tài sản Mục tiêu cải cách hệ thống
DNNN đẻ nâng cao vai trò chủ đạo của nó trong nền kinh tế quốc
dân đã và đang đợc đề ra một cách bức bách. Chính việc cải cách
hệ thống DNNN bằng cách cổ phần hoá là con đờng khả thi và có
hiệu quả nhất đang đợc Đảng và Nhà nớc ta quán triệt nên chúng
ta chỉ tập chung đi sâu vào việc hình thành các công ty cổ phần
bằng cách cổ hoá các DNNN.
Việc cổ phần hoá các DNNN đợc tiến hành theo ba phơng
thức sau: một là giữ nguyên giá trị hiện có của doanh nghiệp và
phát hành cổ phiếu theo quy định nhằm thu hút vốn để phát triển ,
ty cổ phần đều phát triển đợc sản xuất kinh doanh , không những
đảm bao đợc việc làm mà còn thu hút thêm lao động, thu nhập của
ngời lao động đợc nâng cao .
3. Các loại công ty cổ phần ở Việt Nam
Loại công ty cổ phần đầu tiên chúng ta đề cập đến đó là công
ty cổ phần quốc doanh . Đây là một giải pháp để khắc phục khuyết
tật của hình thức sở hữu nhà nớc và tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý
trong khu vực quốc doanh. Công ty cổ phần quốc doanh gồm nhiều
chủ sở hữu : Nhà nớc, những ngời lao động trực tiếp trong công
ty cổ phần , các cá nhân và các tổ chức khác Một đặc điểm quan
trọng là nhà nớc nắm giữ cổ phần khống chế để chi phối các hoạt
động của các công ty cổ phần do đó đợc gọi là các công ty cổ phần
quốc doanh. Ngời thay mặt nhà nớc với t cách là một cổ đông
trong Hội đồng quản trị có vai trò, quyền hạn, trách nhiệm rõ ràng
hơn so với vai trò chủ sở hữu gắn với bộ máy Nhà nớc và viên chức
Nhà nớc. Ngoài ra do cũng là công ty cổ phần nên nó có đầy đủ
các vai trò , đặc điểm của công ty cổ phần đã nêu .
Loại công ty cổ phần thứ hai là công ty cổ phần liên doanh với
nớc ngoài. Chúng ta đều biết rằng công ty cổ phần là hình thức liên
doanh tốt nhất để tranh thủ đầu t của nớc ngoài. Do đó với một
nền kinh tế đang phát triển nh nớc ta hiện nay, sự ra đời của công
ty cổ phần liên doanh với nớc ngoài đặc biệt quan trọng. Điểm
khác cơ bản của loại hình công ty cổ phần này sovới công ty cổ
26
phần quốc doanh đó là sự tham gia của các cá nhân, tổ chức nớc
ngoài vào mọi bộ phận của công ty. Mặc dù vậy. do nớc ta dịnh
hớng phát triển một nền kinh tế thị trờng có sự điều tiết của Nhà
mình trong nền kinh tế Việt Nam
ở nớc ta điều kiện tiên quyết để thực hiện thắng lợi chiến
lợc phát triển kinh tế là cần phải huy động đợc nguồn vốn lớn.
Huy động vốn trong nhân dân vừa là giải pháp cấp bách vừa là giải
pháp cơ bản trong chiến lợc tạo vốn cho từng doanh nghiệp hiện
nay. Điều này chỉ thực hiện đợc thông qua công ty cổ phần. Bởi vì
so với công ty cổ phần thì hai hình thức huy động vốn chủ yếu ở
nớc ta hiện nay là hệ thống quỹ tiết kiệm và tín phiếu kho bạc còn
nhiều nhợc điểm ( cả với ngời gửi và ngời đi vay ). Thứ nhất,
nếu huy động vốn qua hệ thống tiết kiệm, tín dụng thì chi phí và lãi
suất cao gây khó khăn cho ngời sử dụng vốn vì phải thông qua
nhiều khâu chi phí nghiệp vụ và lợi tức tăng lên. Huy động vốn
thông qua công ty cổ phần giảm đợc chi phí không cần thiết tạo
28
điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng vốn cũng nh bảo vệ quyền lợi
ngời có vốn. Thứ hai, gửi tiền vào quỹ tiết kiệm hoặc mua tín
phiếu tuy có lãi suất ổn định, hạn chế phần nào rủi ro nhng ngời
có vốn hoàn toàn mất khả năng chi phối việc sử dụng vốn, không
đợc hởng những may mắn của việc sử dụng đồng vốn đó. Khi
mua cổ phiếu, tuy phải chịu sự rủi ro ở mức độ nhất định nhng lại
đợc hởng may mắn mà lúc nào cũng có trong thơng trờng. Hơn
nữa các cổ đông lại có quyền lực trong Đại hội cổ đông và khi điều
kiện cùng khả năng cho phép họ có thể đợc bầu vào các cơ quan
lãnh đạo của công ty. Do đó việc mua cổ phiếu hấp dẫn hơn
Ngoài ra công ty cổ phần còn là hình thức liên doanh tốt nhất
để tranh thủ sự đầu t của nớc ngoài. Nớc ta hiện nay đang cần
thiết thu hút vốn đầu t nớc ngoài cho sự nghiệp phát triển kinh tế,
hình thức liên doanh góp vốn cổ phần với nớc ngoài sẽ giúp doanh