Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 7 Đại học Đà Nẵng năm 2010
346
KHẢO SÁT VIỆC THÀNH LẬP TỪ TRONG TIẾNG ANH
CỦA HỌC SINH CẤP 3 TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
AN INVESTIGATION INTO WORD FORMATION IN ENGLISH EXPERIENCED
BY THE HIGH SCHOOL STUDENTS AT DANANG CITY
SVTH: Lê Thị Huyền
Lớp: 06CNA02, Trường Đại Học Ngoại ngữ
GVHD: Ngũ Thiện Hùng
Khoa Tiếng Anh, Trường Đại học Ngoại ngữ
TÓM TẮT
Bài nghiên cứu này nhằm khảo sát khả năng thành lập từ Tiếng Anh của học sinh cấp ba
tại thành phố Đà Nẵng. Từ kết quả khảo sát, bài nghiên cứu đề xuất một số giải pháp cũng như
hoạt động dạy và học để giúp sinh viên khắc phục việc thành lập từ trong Tiếng Anh để nâng cao
khả năng Tiếng Anh của mình.
ABTRACT
The aim of this study was to investigate word formation in English experienced by the high
school students at Danang city. Based on the results of analysis, the study suggested some
solutions as well as activities to help students overcome their difficulties in English word formation
and improve their ability in learning English.
1. Mở đầu
Để thành thạo trong giao tiếp Tiếng Anh thì người học không chỉ giỏi bốn kỹ năng
nghe-nói-đọc và viết mà còn phải nắm vững ngữ pháp, đặc biệt là thành lập từ Tiếng Anh.
Mặc dù những học sinh cấp ba đã được học về các quy tắc thành lập từ trong Tiếng Anh
nhưng họ vẫn gặp khó khăn trong thành lập từ. Đặc biệt là việc nhận diện và tái tạo những
danh từ ghép, tính từ ghép và từ tạo bởi tiền tố-hậu tố. Hơn thế nữa, việc dạy và học thành
lập từ Tiếng Anh ở các trường cấp ba vẫn còn hạn chế. Thực tế này cho thấy để khắc phục
được vấn đề này thì cần phải có sự điều chỉnh trong công tác dạy và học. Những vấn đề
nêu trên đã thúc đẩy tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: khảo sát việc thành lập từ trong Tiếng
2.5. Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu áp dụng phương pháp phân tích định tính và định lượng dựa trên
những phiếu thăm dò và bài tập chẩn đoán phát ra cho học sinh cấp ba tại thành phố Đà
Nẵng.
2.6. Câu hỏi nghiên cứu
Học sinh cấp ba thường hay mắc phải những lỗi gì khi nhận diện và tái tạo những
danh từ ghép, tính từ ghép và những từ tạo bởi tiền tố-hậu tố?
Nhũng nguyên nhân khiến học sinh mắc lỗi là gì?
Những giải pháp nào giúp học sinh nâng cao khả năng của mình trong việc nhận
diện và tái tạo những danh từ ghép, tính từ ghép và những từ tạo bởi tiền tố-hậu tố?
2.7. Thu thập dữ liệu
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ những phiếu thăm dò và bài tập chẩn đoán
phát ra cho học sinh cấp ba tại thành phố Đà Nẵng.
3. 3. Kết quả
3.1. Thực trạng nhận diện và tái tạo những danh từ ghép, tính từ ghép và những từ tạo
bởi tiền tố-hậu tố
3.1.1. Về nhận diện
Có đến khoảng trên 30% học sinh cấp ba là mắc lỗi khi nhận diện những từ tạo bởi
tiền tố-hậu tố, gần 40% học sinh cấp ba là mắc lỗi khi nhận diện những danh từ ghép và có
trên 40% học sinh cấp ba là mắc lỗi khi nhận diện những tính từ ghép.
Bảng 3.1. Khả năng nhận diện danh từ ghép, tính từ ghép và những từ tạo bởi tiền tố-hậu tố
Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 7 Đại học Đà Nẵng năm 2010
348
nhận diện từ được tạo bởi
tiền tố-hậu tố
28,57%
34,28%
31,43%
nhận diện danh từ ghép
35,00%
Tái tạo danh từ ghép
53,33%
62,22%
57,78%
Tái tạo tính từ ghép
50,00%
60,00%
55,00%
Ví dụ:
Lỗi học sinh cấp ba mắc phải khi tạo tính từ ghép hoặc danh từ ghép
- Dùng từ không thích hợp để tạo tính từ ghép hoặc danh từ ghép, vd. Sv dùng
‘well’ kết hợp với ‘made’ để tạo thành tính từ ghép ’well – made’. Thực ra ‘well’ kết hợp
với ‘known’ để tạo thành tính từ ghép ‘well – known’. Hay sv kết hợp ‘birthday’ và ‘aged’
để tạo thành ‘birthday – aged’. Đúng ra, phải kết hợp ‘birthday’ và ‘party’ để tạo thành
danh từ ghép ‘birthday – party’.
Lỗi học sinh cấp ba mắc phải khi tái tạo từ bằng dùng tiền tố-hậu tố
- Dùng những tiền tố-hậu tố không phù hợp khi tái tạo từ, vd, từ động từ ‘forget’
tạo thành tính từ thì thay vì dùng hậu tố ‘-ful’/ ‘-able’ để tạo thành ‘forgettable/ forgetful’
thì sv lại dùng hậu tố ‘-ive’ tạo thành ‘forgetive’. Hay từ động từ ‘estimate’ tạo thành một
Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 7 Đại học Đà Nẵng năm 2010
349
động từ khác thì sv dùng tiền tố ‘sur-’ và tạo thành ‘surestimate’. Đúng ra để tạo thành một
động từ khác từ động từ ‘estimate’ phải dùng tiền tố ‘under’ và tạo thành ‘underestimate’.
- Nhầm lẫn khi dùng những tiền tố phủ định. Chẳng hạn như, thay vì dùng tiền tố
phủ định ‘dis-’ với ‘connect’ thì họ lại dùng tiền tố phủ định ‘un-’ với ‘connect’. Hay thay
vì dùng tiền tố phủ định ‘im-’ với ‘mature’ thì sv lại dùng tiền tố phủ định ‘in-’ với
‘mature’.
3.2. Về nguyên nhân
Bảng 3.3. Nguyên nhân học sinh mắc lỗi khi nhận diện và tái tạo những danh từ ghép,
tính từ ghép và những từ tạo bởi tiền tố-hậu tố
Giáo viên nên yêu cầu học sinh làm một số bài tập về nhà liên quan đến một số quy
tắc thành lập từ vừa học để khắc sâu kiến thức.
Giáo viên không giảng quá nhiều quy tắc thành lập từ cho học sinh trong một thời
gian ngắn sẽ gây nhàm chán cho học sinh.
Giáo viên nên thiết kế một số bài tập để giúp học sinh cải thiện việc nhận diện và
tái tạo thành lập từ. Ví dụ:
Để cải thiện khả năng tái tạo từ bằng dùng tiền tố-hậu tố thì có thể thiết kế bài tập
tương tự như:
Hoàn thành chỗ trống bằng cách khoanh tròn câu trà lời đúng:
…… famous (un, in)
…… regular (ir, in)
…… clear (ation, ance)
…… popular (ity, ation)
Để cải thiện khả năng tái tạo danh từ ghép và tính từ ghép thì có thể thiết kế bài tập
tương tự như:
Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 7 Đại học Đà Nẵng năm 2010
350
Tạo danh từ ghép và tính từ ghép theo những định nghĩa sau:
X makes it with the hand (danh từ ghép)
X drives with the bus (danh từ ghép)
X has a loud mouth (tính từ ghép)
The engine works with steam (danh từ ghép)
X goes easily (tính từ ghép)
4. Kết luận
Kết quả quá trình nghiên cứu thực trạng thành lập từ trong Tiếng Anh của học sinh
cấp ba tại thành phố Đà Nẵng cho thấy phần đông học sinh mắc các lỗi về nhận diện và tái
tạo, đặc biệt là nhận diện và tái tạo những danh từ ghép, tính từ ghép và những từ tạo bởi
tiền tố-hậu tố. Hơn nữa, học sinh vẫn chưa có sự quan tâm đúng mức đến việc khắc phục
những lỗi đó. Qua bài nghiên cứu này, tôi hy vọng sẽ góp phần vào việc giúp học sinh cấp
ba tại Đà Nẵng vượt qua những khó khăn mà họ gặp phải trong thành lập từ Tiếng Anh,