CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM
1. NHÓM TRONG ĐỜI SỐNG CHÚNG TA
Nguyễn Thị Oanh
Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao
(Ca dao)
Từ xa xưa ông cha ta nhắc nhở rằng cá nhân đơn thân độc mã sẽ chẳng làm
được điều gì có ý nghóa. Còn khoa học thì nhấn mạnh về bản chất xã hội của loài
người. Một cá nhân không thể thành người nếu lớn lên trong một môi trường không có
con người. Chúng ta không thể lớn lên, học tập, lao động sản xuất, vui chơi giải trí mà
không thông qua một nhóm. Và mỗi chúng ta là thành viên của nhiều nhóm khác nhau
mang tính tự nhiên hay được thành lập.
1.1. Nhóm tự nhiên.
Đứa bé sinh ra, được nuôi dưỡng, lớn lên, học những điều hay lẽ phải là nhờ
tương tác với cha mẹ, anh chò em, ông bà. Đó là gia đình, nhóm cơ bản nhất mà không
có nó trẻ không thành người được. Đi chập chững là bé bò thu hút mạnh mẽ bởi trẻ cùng
trang lứa trong xóm. Tưởng là chỉ để vui chơi nhưng thực chất bé học rất nhiều, học
những điều cơ bản để trở thành một công dân tốt được xã hội chấp nhận. Bé học chia
sẻ đồ ăn, đồ chơi để được nhóm bạn thương yêu. Bé Dũng ở nhà dành ăn với em nhưng
bé lấy bánh kẹo của gia đình đem cho bạn. Lớn lên một chút, chơi đánh , cút bắt bé
chòu bò phạt nếu làm sai. Đó là bước đầu để em học tuân thủ luật lệ sau này. Đến tuổi
thiếu niên khi muốn tự khẳng đònh mình như độc lập (có khi đối lặp) với cha mẹ, em
gắn bó với nhóm bạn nơi mà em tìm một chỗ dựa an toàn.
Người ta gọi gia đình, nhóm bạn (hay đồng đẳng) là nhóm cơ bản hay nhóm đệ
nhất đẳng vì chúng mang tính quyết đònh đối với sự hình thành nhân cách của trẻ và
mối quan hệ gắn bó trong các nhóm này vô cùng mật thiết, chặt chẽ. Những điều hay
lẽ phải được khắc sâu trong đầu trẻ, những hành động tích cực như tôn trọng, chia sẻ,
thương yêu người khác không do những lời lên lớp đạo đức của người lớn mà do bé
muốn làm vui lòng cha mẹ, bạn bè để nhận được từ họ những tình cảm yêu thương,
chấp nhận, vỗ về. Nhu cầu về tình cảm này càng được thỏa mãn tốt thì bé càng có khả
Được người ta biết tới mình, ai cũng cần mà ai cũng quên đáp ứng cho người
khác. Trong nhóm ít người, điều đó dễ thực hiện hơn
- Được quan tâm chăm sóc : trẻ hay già, khỏe mạnh hay đau yếu, nam hay nữ ta
cần nó như hơi thở.
- Được chia sẻ tình bạn : nhất là ở tuổi trẻ, và tuổi già khi ta cần được sự nâng
đỡ tinh thần hay ít còn cơ hội đi đứng, gặp gỡ ở tuổi lao động.
- Được học tập : ta cần nâng cao hiểu biết và kỹ năng suốt đời để đối phó với
những vấn đề đặt ra trong cuộc sống. Sau khi rời ghế nhà trường học kinh nghiệm của
bạn là rất cần thiết và hiệu quả.
- Được đóng góp cho xã hội : một xu hướng phổ biến nhưng sai lầm của những
người làm CTXH là hay giúp bằng cách ban bố, làm giùm, làm thay. Họ quên rằng ở
mọi người nhu cầu được cho cũng quan trọng như nhu cầu được nhận. Cụ già yếu đuối,
em bé khuyết tật, đứa trẻ bụi đời, một cô gái lỡ lầm sẽ không tự vươn lên bằng những
lời giảng đạo đức hay lời khuyên tốt đẹp mà khi họ được tạo điều kiện để làm điều gì
đó có ích cho người khác. Qua đó họ lấy lại niềm tự tin, thấy được giá trò của mình để
lấy đó làm bệ phóng cho sự vươn lên cao hơn nữa.
Ai trong chúng ta cũng thích là người có ích.
Để thỏa mãn những nhu cầu kể trên của con người, người ta lập ra các nhóm
CTXH để trò liệu, để giúp khả năng thích nghi, hòa đồng với xã hội, lấy lại niềm tin, để
đóng góp cho cộng đồng.
1.4. Tuy nhiên tạo ra và nhất là duy trì các nhóm tốt không dễ dàng chút nào.
Biết bao nhiêu nhóm bắt đầu thì đầu voi nhưng kết thúc thì đuôi chuột. Trong
chúng ta ai cũng có vài lần bỏ cuộc trong một nhóm vì nó không đem lợi ích nào mà có
khi còn gây buồn phiền nữa.
Bởi lẽ nhóm như con người, không phát triển đúng theo quy luật cũng trở nên ra
còm cỏi, bệnh tật rồi chết yểu. Nhóm có vấn đề làm tổn thương cho nhân cách, làm trì
trệ sản xuất, thậm chí làm chậm bước tiến của cả một dân tộc.
Gia đình, khi các thành viên xâu xé nhau, không còn là mái ấm, mà đẩy trẻ em
ra đường phố sống lang thang. Chất keo sơn của nhóm bạn thanh niên thay vì đem lại
sự an toàn tâm lý lại trở thành áp lực khiến em sa vào nạn ma túy. Sản xuất trì trệ vì tổ
không chòu dùng. Để góp phần làm thay đổi thói quen dinh dưỡng này,
một thói quen khó thay đổi nhất, người ta tiến hành cuộc thực nghiệm
sau đây :
Một số bà nội trợ có đặc điểm về trình độ kinh tế xã hội tương đương
được mời tới nghe thuyết trình về giá trò dinh dưỡng của lòng bò. Khi ra
về họ được phát các tờ bướm dạy cách chế biến để tránh những mùi vò
mà trước đây họ không thích và làm cho món ăn hợp khẩu vò hơn. Một
thời gian sau các nhà nghiên cứu kiểm tra tình hình và kết quả là 3%
các bà đã sử dụng lòng bò.
Song song đó với một nhóm khác tương đương về số lượng và đặc điểm
kinh tế xã hội được chia thành nhiều nhóm thảo luận. Dưới sự hướng
dẫn của các nhà tâm lý, các bà tha hồ trao đổi, nêu thắc mắc. Sau khi
các bà được đã thông tư tưởng, người ta mới phát các tờ bướm chỉ cách
chế biến lòng bò. Cũng thời gian sau kiểm tra lại, kết quả là 32% các
bà đòi sử dụng lòng bò.
KẾT QUẢ SỬ DỤNG LÒNG BÒ BẰNG PHƯƠNG PHÁP
Thuyết trình 3% Thảo luận nhóm 32%
Khi nghe thuyết trình từ trên xuống, các
bà thụ động, cảm thấy xa lạ với vấn đề.
Họ tham dự một cách vô danh không thấy
trách nhiệm gì đối với việc áp dụng bài
học.
Các bà có tương tác với nhau. Được nói
lên suy nghó riêng, nêu thắc mắc. Họ có
thể giúp nhau khắc phục khó khăn giải
đáp thắc mắc và có khi còn rủ nhau làm
thử. Dường như vì có trao đổi nên có một
sợi dây ràng buộc họ với nhau. Một khi đã
tuyên bố sẽ thử làm thì họ cảm thấy có
khắc phục được sai lầm về phương pháp này. Dù người xưa và Hồ Chủ Tòch cũng đã
nhắc nhở, phê phán:
Người khôn nói lắm dẫu cũng nhàm
Ca dao
Lúc “ông cán” nói, người ngáp, kẻ ngủ gục mọi người mong ông thôi đi, để về
nhà cho mau. Ai hiểu gì đâu mà thảo luận.
Viết dài mà rỗng, thì không tốt. Viết ngắn mà rỗng cũng không hay Nhưng
trước hết phải chống nói rỗng lại dài
Trong cuộc thử nghiệm về việc sử dụng lòng bò ta thấy hiệu quả về mặt thay
đổi hành vi của thảo luận nhóm cao cấp 10 lần so với thuyết trình.
Các nhà giáo dục hiện đại ngày càng thấy vai trò của các họ gọi là học theo
chiều ngang (horigontal learning) nghóa là học ở bạn. Học theo chiều dọc (vertical
learning) hay học thấy luôn luôn cần thiết để thêm kiến thức nhưng học bạn thì sự thay
đổi hành vi diễn ra nhanh hơn.
Điều rất đáng tiếc là ta lại quên đi kho tàng hiểu biết của dân tộc :
Học thầy không tày học BẠN
Ca dao
Cũng như lời dạy của Hồ Chủ Tòch :
Học ở trường, học ở sách, học ở BẠN, học ở nhân dân
Ta có thể áp dụng chân lý này trong rất nhiều hoạt động đoàn thể và CTXH. Vì
chân lý này mà ngày nay trước đại họa HIV thế giới đã đưa phương pháp giáo dục
đồng đẳng lên hàng đầu.
Vài ví dụ khác :
- Chi em phụ nữ khi nghe bác só nói về kế hoạch hóa gia đình vẫn còn sợ, nhưng
nếu trong bạn bè họ có người sử dụng vòng tránh thai an toàn họ sẽ sẵn sàng bắt chước.
- Chò em nghèo nghe giảng mãi là nên cho con em đi học nhưng khất mãi trước
những khó khăn của cuộc sống. Vậy mà khi sinh hoạt nhóm tín dụng tiết kiệm thấy bạn
mình lần lượt cho con họ đi học chò cũng cố gắng thu xếp, hy sinh một số chi phí khác.
- Trong giáo dục cộng đồng, muốn thuyết phục một tập thể về một hướng đi nào
đó, tốt nhất không nên giảng dài ma cứ đưa vấn đề ra cho họ thảo luận và chính họ
2.2.3. Nhóm hành động.
Trong đời sống hàng ngày người tích cực liên kết với nhau để thực hiện các hoạt
động vì lợi ích chung. Ví dụ nhu đội CTXH của Hội Chữ Thập Đỏ, Tổ khuyến học ở
Phường, Nhóm Thanh niên bảo vệ môi trường, an ninh khu phố, một ủy ban PTCĐ ở
đòa phương v.v
2.2.4. Nhóm trò liệu.
Tư vấn hay trò liệu tâm lý có thể áp dụng với từng cá nhân hay với cả nhóm.
Nếu vấn đề vướng mắc không quá sâu sắc thì trò liệu nhóm đạt hiệu quả nhanh vì
những người đồng cảnh ngộ dễ cảm thông và hỗ trợ lẫn nhau.
Công tác trò liệu thường dành cho chuyên gia được đào tạo chuyên môn. Tuy
nhiên do khả năng đem lại sự hỗ trợ tâm lý rất lớn của nhóm, nếu biết tác động tốt các
nhóm đồng đẳng cũng có thể được xem như nhóm trò liệu.
x x
x
Tác động của nhóm như nêu trên rất lớn và thực chất khó phân biệt rạch ròi
giữa 4 mục đích. Nhóm đồng đẳng cũng có chức năng của nhóm hành động khi làm
công tác giáo dục về HIV. Nhóm phụ nữ tiết kiệm cũng mang chức năng xã hội hóa khi
qua đó các chò được nâng cao trình độ hiểu biết và ý thức giáo dục con cái.
3. ĐƯC VẬN DỤNG ĐÚNG QUY LUẬT NHÓM MỚI
MANG LẠI HIỆU QUẢ
(QUY TRÌNH CTXH NHÓM)
Con người rất cần gia đình để hình thành nhân cách nhưng không cứ sinh ra và
lớn lên trong một gia đình là được phát triển lành mạnh và hạnh phúc. Gia đình phải
hoàn thành thật tốt chức năng của mình mới giúp cá nhân phát triển. Một gia đình luôn
luôn khủng hoảng, rạn nứt không thể thực hiện chức năng xã hội hóa của mình.
Cũng vậy, được xếp vào một nhóm CTXH cá nhân không đương nhiên thay đổi
theo chiều hướng tốt. Xung quanh ta biết bao nhóm hoạt động không hiệu quả, phản tác
dụng, chết yểu.
đồng Đội banh cho trẻ em quậy phá nhằm mục đích xã hội hóa nên nhóm phải đồng
ý, ngoài thi đấu, nhóm phải nhất trí về một số nguyên tắc kỷ luật, tương thân tương trợ
v.v
Nếu không có sự trao đổi cặn kẽ thì nhóm viên sẽ không xem đó là mục đích
của mình và không dấn thân thực hiện.
Ví dụ với ý đồ một đội banh, khi tập họp trẻ lại thì chúng nó có vẻ thờ ơ và có
vài em đề nghò lập một đội rối. Thảo luận một hồi đa số thống nhất lập một đội rối. Ý
đồ của trẻ và chúng sẽ thực hiện với sự hỗ trợ của NVXH. Ý đồ giáo dục nhân cách
vẫn thực hiện được.
Mục tiêu có thể được điều chỉnh qua quá trình làm việc. Tiểu ban vệ sinh môi
trường trong quá trình làm việc cảm thấy nên giáo dục ý thức cho người dân về sức
khỏe. Họ từ từ chuyển thành tiểu ban giáo dục cộng đồng.
Mỗi cá nhân có mục đích riêng (m) có khi trùng lắp, có khi chưa trùng lắp với
mục đích chung của nhóm (M). Ví dụ bé Dũng chẳng quan tâm gì tới bóng đá hay múa
rối, mà chỉ ham bạn. Nhưng sinh hoạt nhóm một thời gian bé trở thành một diễn viên
rối rất linh hoạt. Cô gái kia ở nhà buồn tham gia đội CTXH cho vui thôi, sau một thời
gian cô ý thức sâu sắc về bất công xã hội và trở thành một đội viên tích cực.
Giữ cho mục tiêu nhóm (M) luôn cụ thể, sinh động, hấp dẫn và làm sao cho mục
tiêu của từng cá nhân gắn với mục tiêu nhóm sẽ góp phần duy trì sức sống của nhóm.
HÌNH VẼ
Mục tiêu mà mọi người chia sẻ gắn bó họ với nhau và là động lực thúc giục họ
hành động. Tác viên luôn luôn cần quan tâm đến điều này.
3.2.2. Thành phần nhóm.
a/ Mục tiêu chính là cơ sở để chọn người đưa vào nhóm.
• Lập một đội bóng trẻ em không nên
đưa trẻ yếu ớt, thiếu sức khỏe.
• Trong nhóm học vẽ có một em không
thể ngồi yên 5 phút là thất bại.
• Thảo luận chính sách bảo vệ trẻ em
tắc cần quan tâm.
3.3.1. Công việc và con người.
Không ít khi người ta lao vào hoàn thành mục đích chuyên môn cho bằng được
và không quan tâm đến tâm tư, tình cảm của con người trong cuộc.
Khoa học về nhóm cho thấy muốn duy trì nhóm và hoàn thành mục đích đề ra
thì phải coi trọng cả hai khía cạnh như nhau. Vì nhóm viên phải thỏa mãn, đoàn kết
mới duy trì được nhóm để hoàn thành mục đích cuối cùng. Nếu hy sinh con người vì
mục đích chuyên môn thì có khi hoàn thành xong công việc thì nhóm tan rã.
Trong CTXH thì con người quan trọng hơn vì mục đích là giúp họ phát triển,
phục hồi nhân cách hay nâng cao năng lực. Ví dụ có hai nhóm trẻ cùng một mục đích là
xây dựng và diễn một vở kòch. Nhóm A có người trưởng nhóm mạnh, thích sỉ diện và
bằng mọi giá muốn cho nhóm mình đoạt giải. Anh áp đặt từ nội dung đến việc chọn vai
diễn dù nhiều nhóm viên chưa đồng ý hay chưa sẵn sàng. Một số bỏ nhóm từ đầu. Số
còn lại cố gắng tuân thủ mệnh lệnh của anh để diễn thật đạt. Nhóm nhận giải, nhưng
xong việc không ai còn muốn gắn bó với anh trưởng nhóm độc tài. Nhóm tan rã.
Trưởng nhóm B xem đây là dòp để tạo cơ hội cho mọi người thi thố tài năng,
nhất là các bạn nhút nhát tập xuất hiện trước công chúng. Trên hết là tập đoàn kết giúp
đỡ lẫn nhau trong quá trình tập dượt. Nhóm diễn hơi vụng về dù không đoạt giải nhưng
được phụ huynh cỗ vũ vì tất cả các em đều sắm vai. Còn các em thì rất vui, kéo nhau đi
ăn kem và quyết đònh tập một vở khác.
3.3.2. Chương trình hoạt động.
Vở kòch đối với nhóm B là công cụ giáo dục nhân cách. Mọi nhóm đều có
chương trình hoạt động đònh kỳ như : tập vẽ, tập hát, họp nhóm tín dụng, dạy học cho
trẻ em nghèo, chăm sóc các vụ neo đơn. Hoạt động là cơ hội tập hợp, tạo sự tương tác
qua sinh hoạt chung.
Chương trình phải có nội dung, hình thức hấp dẫn và phù hợp với nhu cầu, trình
độ của nhóm viên. Chương trình càng lý thú khi nhằm tới một mục tiêu cụ thể :
- Từ 7 tháng chò em tổ tín dụng tiết kiệm để chi xài nhân dòp Tết.
- Các em gái lớp may đến cuối giai đoạn tập may chiếc áo Tết của mình.
- Nhóm kòch tập dượt để công diễn vào dòp nào đó.
Muốn vậy cần tạo điều kiện để :
- Mọi người THAM GIA đồng đều và bình đẳng.
- Lấy QUYẾT ĐỊNH một cách dân chủ.
- Các mối TƯƠNG GIAO thật sự cởi mở và chân tình.
- Xây dựng thói quen HP TÁC.
Do đó cần quan tâm đến một số vấn đề, hiện tượng thường xảy ra trong nhóm.
Vấn đề Cách xử lý
4.1. Truyền thông tắt nghẽn
Có thể xảy ra hiện tượng “ông
nói gà bà nói vòt” chẳng ai hiểu nhau.
Hoặc người ta xã giao khách sáo mà
không đi vào chiều sâu để hiểu nhau.
Hay có người bò ức chế không diễn
đạt được
Bảo đảm cho người ta trao đổi chân tình
với nhau, cho mọi người hiểu một vấn
đề, một từ giống nhau. Giúp thư giãn để
giảm bớt tính khách sáo, trònh trọng.
4.2. Mâu thuẫn trong nhóm
Luôn luôn xảy ra giữa 2 người
hay 2 nhóm người, do cá tính hay
quyền lợi.
Phát hiện nó khi nó còn ngấm ngầm.
Không để nó phát triển thành ung nhọt
khó chữa. Khéo léo đưa nó ra ánh sáng.
Mổ sẻ bằng con dao vô trùng nghóa là
bằng thái độ hoàn toàn khách quan,
công bằng, không thiên vò. Dựa vào
nhóm viên là “quan tòa” khách quan
nhất.
4.5. Hiện tượng ghẻ.
Đặc biệt trong các nhóm trẻ em
có những trẻ chậm chạp, yếu kém hay
khuyết tật bò các nhóm viên khác xúm
lại ăn hiếp, hay đổ lỗi cho những thất
bại của nhóm.
Hiện tượng này dó nhiên cu4ng
có thể xảy ra trong nhóm người lớn.
• Nhạy bén phát hiện khi nó chốm nổ.
• Đây là dòp giáo dục rất tốt để trẻ
biết thương yêu, nhường nhòn và
giúp đỡ bạn mình. 4.6. Cơ cấu phi chính thức, lấn át cơ
cấu chính thức.
- Cơ cấu chính thức là các mối quan
hệ xuất phát từ vai trò, vò trí chính
thức được chỉ đònh của các cá nhân. Ví
dụ quan hệ thủ trưởng, nhân viên,
nhóm trưởng - nhóm viên.
- Cơ cấu phi chính thức là các mối
quan hệ tự nhiên xuất phát từ tình
cảm bạn bè, thân thuộc. Điều này vô
cùng tự nhiên, có thể có lợi nhưng
cũng có thể bất lợi.
Cơ cấu phi chính thức được trình bày bằng
Cho thấy các mối quan hệ đặc biệt như sau :
được đào tạo về CTXH nhóm. Có khi người đó trực tiếp điều hành nhóm có khi nhóm
có người phụ trách từ các thành viên của mình, NVXH hỗ trợ gián tiếp.
5.2. Người đó làm gì?
Điều đáng ghi nhớ ở đây là cốt lõi của CTXH nhóm. Nếu trong CTXH cá nhân
phương tiện chính yếu để tạo ra sự thay đổi là mối quan hệ giữa NVXH và đối tượng
thì trong CTXH nhóm phương tiện chính yếu là mối tương tác giữa nhóm viên với nhau.
Nhân viên xã hội chủ yếu tác động vào các mối tương tác này.
VẼ HÌNH
Khi nhân viên xã hội không trực tiếp điều hành thì nhóm có một người hay một
ban phụ trách tổ chức, phối hợp các hoạt động. Người này trước kia tiếng Pháp gọi là
“chef de groupe” (“xếp” của nhóm), tiếng Anh là “Team leader” (lãnh đạo nhóm).
Việt Nam ta thì gọi là thủ trưởng, lãnh đạo, trưởng nhóm v.v
Trong các lãnh vực ngoài hành chánh ngày nay, nhất là trong hoạt động giáo
dục và CTXH đã tránh khái niệm quyền lực hay quyền binh người Pháp dùng chữ
animateur (tạm dòch là “linh hoạt viên”). Animer có nghóa là tạo sinh khi1, làm cho sôi
nổi nhưng animateur hay bò đồng hóa với các nhân vật hơi nổi như “quản trò”, hay
“speaker”, người giới thiệu chương trình. Một mình trước đám đông họ nói những lời
hoa mỹ, làm duyên hay hò hét để tập thể tham gia sinh hoạt. Không có gì xấu ở đây
nhưng không ít trưởng nhóm có xu hướng đồng hóa mình với cái vai trò “nổi” của hoạt
náo viên. Thông dụng nhất ngày nay là từ “facilitator” (to facilitate là làm cho dễ
dàng) mà hiện nay ta tạm dòch là người tạo thuận lợi. Chữ “xúc tác viên” cũng được sử
dụng. Chất xúc tác là một chất gần như vô hình (như men) mà có tác dụng to lớn là đưa
đến sự tương tác giữa hai hóa chất để tạo ra một chất mới. Cũng vậy, xúc tác viên
không phải là một nhân vật nổi, nhưng qua tác động khá kín đáo của anh/chò ta các
nhóm viên tương tác với nhau để tiến tới mục tiêu chung. Thật đúng như Lão Tử đã nói
từ ngàn xưa :
Nhìn vào một nhóm tốt, người ta không
biết ai là người lãnh đạo
Giới CTXH và Phát triển cộng đồng ở Việt Nam dùng chữ tác viên, tác viên xã
hội, tác viên nhóm, tác viên cộng đồng thấy cũng rõ. Nếu nó được hiểu theo nghóa