Công tác xã hội với cá nhân - Pdf 21



1
1
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁ NHÂN

Th.S. Nguyễn Ngọc Lâm

Phần 1 : Tổng quan về Công Tác Xã Hội với cá nhân

1.Khái niệm
2.Các thành tố của Công Tác Xã Hội với cá nhân
3.Tiến trình thực hành công tác xã hội với cánhân

Phần 2 : Kỹ năng thực hành trong Công Tác Xã Hội với cá nhân

1.Mối quan hệ giúp đỡ chuyên nghiệp
2. Kỹ năng giao tiếp cơ bản
3.Kỹ năng đánh giá
4.Kỹ năng can thiệp
5.Kỹ năng bảo vệ lợi ích của thân chủ.
6.Kỹ năng tham vấn.

Phần 3 : Kết luận Phần 1 : TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁ NHÂN


thấp về mình, xem con cái như là những trỡ ngại cho sự tiến thân của mình và
không tin vào những người xung quanh.
- Cách tiếp cận “giải quyết vấn đề”: việc thân chủ chòu dấn thân (nhờ sự
tác
động của nhân viên xã hội) vào tiến trình giải quyết vấn đề tự nó là một cách trò
liệu.
Cách tiếp cận theo chức năng : tích cực tác động vào chức năng hoạt
động tâm lý xã hội của một cá nhân trong giai đoạn khủng hoảng ( can thiệp khi
khủng hoảng).Cách này tập trung vào việc giúp thân chủ đạt một mục tiêu cụ thể
do họ chọn vàø thực hiện mục tiêu ấy trong một thời gian giới hạn cũng chính là
trò liệu.

Công tác xã hội ngày nay có xu hướng mang tính tổng quát nhiều hơn, tức
là nhấn mạnh đến sức mạnh của thân chủ nhiều hơn là chỉ chú ý đến những
khó khăn của họ.Vì khi họ gặp khó khăn thường họ bò rối, chỉ thấy sự yếu kém
của mình và có cái nhìn tiêu cực về bối cảnh xung quanh mình.Chỉ khi nào họ
nhận thấy được, nhờ sự phân tích của nhân viên xã hội, các mặt tích cực của mình
và của những người xung quanh thì họ mới có thêm động lực vượt khó và đó cũng
là cơ sở để xây dựng phương hướng cho cách giải quyết vấn đề.

Ví dụ một trường hợp cụ thể :

Cô N,16 tuổi, hành nghề mại dâm, sống với người chồng hờ M,18 tuổi, bụi
đời từ Bắc vào Nam.N học đến lớp 3 phải nghỉ học, có ngoại hình đẹp, sức khỏe
tốt.Chồng là tay ma cô, thường đưa cô đi đón khách trên đường phố.Mẹ N trước
đây cũng hành nghề mại dâm, có 4 đời chồng, chồng thứ 3 là cha ruột của N đã
mất (lúc N 3 tuổi), ba người chồng còn lại cũng lần lượt bỏ đi, mẹ N thường hay
cờ bạc.
Lúc 15 tuổi, N bò mẹ bán trinh cho người Đài Loan lấy 4 chỉ vàng để trả nợ.N
chấp nhận vì cho đó là hành động trả hiếu. Sau đó, 2 chò ruột đưa N vào con

2. CÁC YẾU TỐ CẦN THIẾT TRONG CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁ
NHÂN.

Công Tác Xã Hội với cá nhân có bốn yếu tố chính :
- con người thân chủ,
- vấn đề,
- tổ chức xã hội,
- tiến trình,

2.1. Con người thân chủ :

Vì mục đích của công tác xã hội là giúp cá nhân và gia đình hoạt động
hiệu quả hơn trong các mối quan hệ tâm lý xã hội nên nhân viên xã hội cần phải
có những hiểu biết cơ bản về hành vi con người. Con người luôn luôn thay đổi, bò
thúc đẩy bởi những nhu cầu cơ bản, các hoạt động cá nhân phải chòu những ảnh
hưởng sinh lý,tâm lý,văn hóa xã hội.Nhân viên xã hội cần tìm hiểu hành vi quá
khứ và dự báo hành vi tương lai của thân chủ, tìm hiểu và giúp tạo động lực, phát
huy khả năng sẳn có và tiềm tàng của thân chủ vì chính thân chủ là người phải
hành động để giải quyết vấn đề của họ và trong khả năng của chính họ. 4
4
Để làm được điều trên, nhân viên xã hội phải thừa nhận có sự khác biệt về
giá trò giữa mình và thân chủ, tin rằng mỗi người phải có nhu cầu cơ bản để mà
sống và mọi thân chủ đều phải được chấp nhận, cho dù họ là ai ( cần lưu ý : chấp
nhận giá trò chứ không phải chấp nhận hành vi ).Chỉ có nhân viên xã hội là người
phải tôn trọng gía trò của thân chủ và không thể mong đợi thân chủ đối xử với
chúng ta theo cách ta mong muốn.


phạm vi chức năng và tài nguyên giới hạn của mình . Tổ chức xã hội cần đóng
thêm vai trò môi giới, giới thiệu thân chủ đến nơi mà họ cần đến mỗi khi họ có
nhu cầu vượt ngoài phạm vi chức năng của mình.

2.4. Tiến trình :
5
5
Tiến trình giải quyết vấn đề trong phương pháp công tác xã hội với cá
nhân bao gồm 7 bứơc :

1. Tiếp cận thân chủ 7. Đánh giá 2. Xác đònh
vấn đề 6. Trò liệu 3. thu thập dữ
kiện 5. kế hoạch trò liệu 4.Chẩn đoán 2.4.1. Tiếp cận thân chủ :

Việc tiếp cận thân chủ được thực hiện có thể do phía nhân viên xã hội chủ

vấn đề và thường những mâu thuẩn này bắt nguồn từ những nguyên nhân sâu xa.
Công việc thu thập và kiểm chứng các thông tin được duy trì liên tục trong
thời gian thực hành công tác xã hội vì con người thân chủ và hoàn cảnh của thân
chủ luôn thay đổi, nhất là từ khi có sự can thiệp của nhân viên xã hội.
Nguồn thu thập thông tin :
- chính thân chủ tự bộc lộ.

i
- người thân, bạn bè,
- trường học, nơi làm việc, tổ dân phố, đoàn thể,
- tài liệu, biên bản có liên quan(ví dụ trường hợp phạm pháp )
- v.v

2.4.4. Chẩn đoán :

Chẩn đoán là xác đònh trọng tâm vấn đề dựa trên cơ sở các dữ kiện thu
thập được, tức là ghi nhận :
- các điểm mạnh và giới hạn của thân chủ,
- các điểm thuận lợi và bất lợi của hoàn cảnh,
- tâm trạng, nhận thức, mong đợi của thân chủ,
Nhân viên xã hội phải phân tích, soi rọi và phản ảnh các trạng thái, cảm nhận, sự
kiện, tình huống để thân chủ chủ động nhận diện tâm tư, ước muốn, vấn đề của
chính mình. Cần có thời gian và khoảng cách để thân chủ có thể nhìn lại chính
họ.Trong giai đoạn này, các dữ kiện có được thẩm đònh sâu hay không còn tùy
vào mối tương quan giữa nhân viên xã hội và thân chủ .Nhân viên xã hội cũng
cần ý thức rõ về giới hạn của chính mình cũng như của tổ chức xã hội mà mình
đang làm việc .

2.4.5. Lên kế hoạch trò liệu :


chính,tạo công ăn việc làm
- thay đổi môi trường sống hoặc cải thiện mối quan hệ: ví dụ gởi trẻ bò bạo
hành đi nơi khác hay giải quyết mâu thuẩn trong gia đình
- giúp thân chủ thay đổi th độ, hành vi trong hoàn cảnh trước mắt :ví dụ
giúp người nghiện ma túy thấy nguy cơ lây nhiểm HIV
- hoặc có thể thực hiện nhiều mục tiêu cùng lúc.
Trong giai đoạn giải quyết vấn đề này,thân chủ là người vừa chèo chống
vừa đònh hướng mục tiêu cho mình.Nhân viên xã hội là chổ dựa, chia sẻ niềm vui
khi thân chủ có tiến bộ và an ủi, khuyến khích khi thân chủ cảm thấy mệt
mỏi.Khả năng đáp ứng của thân chủ đối với tiến trình trò liệu phụ thuộc vào tâm
lý, thể trạng, nhân cách của họ, sự tự ý thức về bản thân, các tài nguyên và cơ
hội mà thân chủ đang có.
Chỉ khi nào thực hiện kế hoạch giải quyết vấn đề thì những khó khăn, cản
trở mới xuất hiện và chính lúc này , nhân viên xã hội phát huy năng lực của mình
để cùng thân chủ đánh giá lại vấn đề để tìm một hướng giải quyết khác.

3.7. Đánh giá :

Đánh giá là động tác đo lường, thẩm đònh các biến chuyển, xem sự can
thiệp của nhân viên xã hội có đem lại kết quả mong muốn hay không.Việc đánh
giá giúp nhân viên xã hội xem các mục tiêu đãû được đề ra đạt đến mức nào để
điều chỉnh lại phương cách trò liệu.Nếu kết quả của việc đánh giá cho thấy có
chiều hướng tích cực , sự tăng trưởng của thân chủ sẽ thu hẹp vai trò của nhân
viên xã hội và vai trò này cần sớm chấm dứt để sự tăng trưởng của thân chủ càng
được hoàn hảo hơn.Trong chiều hướng tiêu cực, cần thẩm đònh rõ mức độ chuyển
biến xấu để có thể nhờ sự giúp sức của các đồng nghiệp khác, của các chuyên gia
hay của các cơ quan chức năng khác.
Điều bắt buộc là phải có hồ sơ ghi chép lại tiến trình giải quyết vấn đề để
có quyết đònh cuối cùng cho giai đoạn này.Việc tiếp tục hay chấm dứt mối quan


- thiếu thông tin,
- thiếu kỹ năng,
- thiếu cơ hội hoặc tài nguyên,
- mâu thuẩn trong cảm xúc,
- hoàn cảnh khủng hoảng làm tê liệt khả năng ưng phó.
1.2. Quan hệ giúp đỡ chuyên nghiệp .
Trong khi thực hành công tác xã hội, nhân viên xã hội luôn luôn phải nhận
thức rằng mối quan hệ giữa nhân viên xã hội và thân chủ là mối quan hệ giúp đỡ
chuyên nghiệp , khác với mối quan hệ xã hội bình thường. Công cụ chính thực thi
nghề nghiệp trong công tác xã hội của nhân viên xã hội là chính bản thân con
người nhân viên xã hội, kèm theo kiến thức và kỹ năng.Vì thế chúng ta dễ quên
khi hành nghề và ứng xử theo lối bình thường (phản ứng theo cảm xúc tự
nhiên).Mối quan hệ giúp đỡ chuyên nghiệp đòi hỏi :
- Kỹ năng quan hệ cá nhân, nhóm và cộng đồng,
- Kỹ năng tham vấn,vấn đàm,
- Tạo sự thay đổi, 9
9
- Khả năng hiểu và làm chủ bản thân mình, tức biết sử dụng cái “tôi”
trong nghề nghiệp ( thể hiện cảm xúc có kềm chế ).
- Có kiến thức về con người, nhóm, các tác động xã hội 1.3.Sự khác biệt giữa mối quan hệ giúp đỡ chuyên nghiệp và quan hệ xã hội
bình thường.

Quan hệ chuyên nghiệp Quan hệ xã hội bình thường
Đặc tính của mối quan hệ:

- Nhu cầu

- Nhiều mục tiêu cùng lúc : thể
thao,vui chơi, bạn bè

2. KỸ NĂNG GIAO TIẾP CƠ BẢN.

Nhu cầu của thân chủ là cần được giúp đỡ và họ trông cậy vào khả năng
giải quyết vấn đề của nhân viên xã hội.Nhưng, điều mà thân chủ rất quan tâm
đầu tiên khi tiếp cận với nhân viên xã hội là chính sự quan tâm của nhân viên xã
hội đối với họ.Và cũng chính nhân viên xã hội là người chủ động thiết lập mối
quan hệ tốt giữa hai con người vì mối quan hệ này là cơ sở để chấp nhận, thay
đổi, và trưởng thành.

2.1.n tượng ban đầu khi gặp nhau,giữa nhân viên xã hội và thân chủ,
bao giờ cũng quan trọng và ảnh hưởng đến các diễn biến sau đó, trực tiếp hoặc
gián tiếp.Nó là kết quả của sự đánh giá của thân chủ đối với nhân viên xã hội có
quan hệ với mình.Phong thái thanh thản, tự tin, lời nói và giọng nói nhẹ nhàng,
vững chải, mạch lạc, cách ăn mặc gọn sạch, nơi làm việc có trật tự có thể giúp 10
10
thân chủ an tâm hơn và dễ hợp tác hơn.Chỉ có người cởi mở, tự tin mới tạo được
ấn tượng tích cực này.Các kỹ năng truyền thông sẽ giúp duy trì và phát triển mối
quan hệ này tốt hơn, cụ thể là :

2.2 Sự hiểu biết về bản thân mình giúp nhân viên xã hội nhận thức rõ
về cách nhìn các vấn đề bên ngoài theo kinh nghiệm bản thân, theo ta cảm thụ
thế giới riêng bên ngoài.Cách nhìn vấn đề thường ở 3 mức độ :

vời với thân chủ.
Ví dụ : Nên nói :” Em đã trưởng thành và chín chắn hơn nhiều sau mấy
tháng sống tự lập.Chúng ta đã phân tích và hiểu rõ những khó khăn này.Tôi nghó
là việc em quyết đònh trở về nhà lúc này là hợp lý và em sẽ đủ sức ứng phó ổn
thỏa”.
Không nên nói :” Em cứ về nhà.Nhà đó là nhà của ba em tạo dựng.Ba ghẻ 11
11
có khó khăn mấy đi nữa thì em vẫn có quyền làm chủ nhà để buộc ông ấy phải
biết điều.Tôi nghó là em dù còn nhỏ tuổi nhưng rất mạnh dạn nên em sẽ đủ sức đối
phó với ông cha ghẻ của em.”
- Cung cấp thông tin,dữ kiện cho thân chủ hơn là khuyên nhủ, đề nghò
giải pháp.
- Chuyển dần từ những diễn tả chung chung tới những nét đặc thù để
nắm bắt những điều then chốt của vấn đề :
Ví dụ : TC : Nhà em rối rắm hết chổ nóí!
NVXH: “Rối rắm” là sao vậy em? Có chuyện gì vậy?
TC : Bữa đó cả nhà đang ăn cơm thì ba về.Ba say rượu, rồi
lộn xộn, rồi đánh má.
NVXH : Lúc đó em làm gì?
- Tìm hiểu sự im lặng của thân chủ: sự im lặng đó có thể là để suy nghó,
để kềm chể cảm xúc, nổi đau hay để thư giãn tinh thần.Điều nên tránh là không
nên chuyển hướng câu chuyện khi có sự im lặng.
Ví dụ: Chò có vẻ suy tư về điều gì, nói cho tôi biết được không ?
- Biết đặt câu hỏi :ngoài việc đặt các câu hỏi kín, mở và dẫn lối một cách
thích hợp, tránh dùng những câu hỏi”tại sao”.Vì khi hỏi “tại sao ” về hành vi
của một người thường dẫn đến tình trạng bế tắc là thân chủ cảm thấy mình bò đe
dọa, sẽ phòng vệ và tìm cách chống chế, bảo vệ.

ta từ chối nghe hoặc rất nhạy bén với những gì chúng ta ghét.
@ Thiếu quan sát các cử điệu, âm giọng, sự cường điệu, nét mặt để hiểu
rõ thái độ và cảm nghó.
@ Những thói quen không tốt :
- Giả bộ chú ý,
- Cắt ngang,
- Đoán trước thông điệp,
- Không chú ý ngay từ đầu,
- Không có phản hồi.
@ Những trở ngại về mặt thể lý : tiếng ồn, ánh sáng, nóng, sự chật chội

Lắng nghe hiệu quả :

- Không chỉ nghe lời nói mà còn nghe tâm trạng gói ghém hay ẩn nấp bên
sau các lời nói.
- Phản hồi hay khuyến khích thân chủ thổ lộ bằng những lời ngắn, gọn, sát
ý, và bằng giọng thanh thản , tự nhiên.
Ví dụ : -” cho tôi biết thêm đi ”
-” Theo tôi thì vấn đề là ”
-” Điều đó chắc là làm anh khó chòu lắm phải không?”
-” Hình như anh cảm thấy ”
-” Anh có thể làm gì về chuyện đó?”

- Chú ý đến những cử chỉ truyền thông không lời chứng tỏ sự chăm chú
:nhìn nhau, hơi nghiêng về phía thân chủ, vẻ mặt biến đổi thích hợp.
-Hỏi thêm về những gì thân chủ chưa nói rõ và chỉ hỏi khi cần hiểu thêm.
-Phản hồi điều mình cảm nhận được để thân chủ biết chắc là điều muốn
nói đã được tiếp nhận đúng, nếu có sai lạc, thân chủ có cơ hội bổ túc.Đây cũng
chính là cơ hội để thân chủ “nghe” được chính họ, để xem tâm trạng và hành vi,
lời nói của họ có thật sự tương đồng với nhau không.Nếu có chổ không tương

Gia đình ông Bảy trước đây sống ở thành phố HCM, sau một thời gian đi
kinh tế mới, họ trở về và sống cắm dùi và được chính quyền đòa phương bán cho
một căn hộ tại chung cư.Vì không đủ tiền nên ông Bảy và một số hộï góp tiền
chung để mua một căn hộ.Nhiều gia đình sống trong một căn hộ chật chội nên dễ
phát sinh mâu thuẩn.Sau nhiều lần cãi vã với các hộ khác,gia đình ông Bảy dọn
ra sống ở hành lang chung cư.
ng Bảy xuất thân trong một gia đình nghèo thành thò, có 10 anh chò em đã
có gia đình riêng.Nhưng tất cả đều khó khăn nên không thể hổ trợ nhau về kinh
tế.Bà Bảy xuất thân trong một gia đình nghèo, bò chồng bỏ phải mang 2 con lên
kinh tế mới sinh sống.Tại đây bà gặp ông Bảy và hai người cùng sống chung.Hai
đứa con riêng của bà do mâu thuẩn với bố dượng đã bỏ nhà đi bụi.Người chồng
cũ của bà không còn liên hệ với bà và cả 2 con.
Hiện nay ông Bảy sức khoẻ yếu, tuổi cao, thất nghiệp lại thêm nghiện
rượu nặng, hành hạ vợ con nhiều hơn.Mặc dù đứa con thứ tư đã có việc làm
nhưng thu nhập quá thấp cũng chẳng thấm tháp vào đâu.Bà Bảy phải làm việc
nhiều hơn để nuôi sống gia đình.Bà mong muốn hai đứa con út phải được học
hành đến nơi đến chốn.Tình hình hiện tại có thể kéo đứa trẻ đang học lớp 6 phải
bỏ học đi làm việc để kiếm tiền phụ gia đình.
Cái khó khăn mà nhân viên xã hội gặp phải là bà Bảy không nói hết
những khó khăn mà bà đang gặp(bà không dám nói việc làm hiện tại của bà) và
nhân viên xã hội rất khó tiếp cận với bà Bảy.

3.1. Các bước trong tiến trình khám phá vấn đề.

Tiến trình khám phá vấn đề bao gồm các bước :
- Bước chuẩn bò
- Bước xác đònh
- Bước đồng hoá
- Bước phản chiếu



3.1.3. Bước đồng hóa.

Đây là bước duy nhất mà nhân viên xã hội được phép đóng vai thân
chủ.Cách thực hiện bước này là đặt câu hỏi : nếu ta là thân chủ thì chúng ta sẽ
có những phản ứng khác nhau vì chúng ta là những người khác nhau :
- không biết làm gì ?
- xấu hổ.
- bối rôí giữa cái xấu và cái tốt.
- tức giận chồng.
- vất vả.
- lo lắng vì sợ công an bắt.
- muôn gặp nhân viên xã hội.
- muốn tìm một lối thoát.
Có khi chúng ta thương cảm, có khi chúng ta giận dữ và có khi chẳng có
cảm xúc gì cả. 15
15

3.1.4. Bước phản chiếu .

Qua bước này chúng ta dùng kinh nghiệm bản thân để tạo ra những cảm
xúc giống như thân chủ để xem chúng ta có những phản ứng gì, kinh nghiệm gì
giống thân chủ.
Chúng ta nghó con chúng ta bò lạc, con ta bỏ đi để tìm cảm xúc, chia sẻ
những mất mát, những điều kiện giống như thân chủ, có khi ít hơn, có khi nhiều
hơn thân chủ.
Trong bước phản chiếu, ta tạo được mối đồng cảm giữa cảm xúc của ta và

Các bước trên là các bước thăm dò thân chủ và cả chính bản thân nhân
viên xã hội để tạo sự đồng cảm.Tuy nhiên , muốn đánh giá tốt vấn đề của thân
chủ, chúng ta cần thu thập thêm những thông tin và dự trù những việc cần làm . 16
16

3.2. Các thông tin cần tìm hiểu và những việc cần dự trù.

Ở trường hợp ông Bảy, những thông tin cần tìm hiểu thêm là :
- việc học tập của 2 trẻ,
- việc chi tiêu của gia đình, thu nhập, chi phí tối đa,
- mong muốn của bà Bảy về 2 con,
- thông tin về ông Bảy,
- mối quan hệ của bà Bảy với hàng xóm,
- bà Bảy có bò bắt lần nào không? Bà sống như thế nào trong những ngày không
ăn cắp ở chợ?
- chính quyền đòa phương có quan tân đến gia đình bà không?
- sức khỏe của các thành viên trong gia đình,
- ông Bảy có biết làm nghề gì khác không?
- tại sao bà Bảy không chòu hành nghề thêu ?
- trong nhà ai là người có nhiều ảnh hưởng nhất ?
- mối quan hệ vợ chồng như thế nào ?
- Hàng xóm có quan tâm đến gia đình bà Bảy không ?

Kế hoạch tiếp cận :
Ta thấy bà Bảy thương con nên ta tiếp cận với con trước để gây ấn tượng
tốt đối với bà Bảy.Nếu muốn gặp bà Bảy, chúng ta cần nắm thông tin về giờ giấc
mà bà Bảy rảnh.Ai là người phụ nữ mà bà Bảy thân nhất? Cá tính bà Bảy như thế

nhân viên xã hội và kỹ thuật viên bình thường. Càng chọn lựanhiều cách càng
tốt, nên phân tích kỹ trước khi hành động. Quá trình chọn lựa này được gọi là sử
dụng bản thân mình một cách có ý thức, không làm việc theo cảm hứng.
Thứ năm, ta cùng bàn với thân chủ kế hoạch can thiệp: diễn tiến này phải
có sự cộng tác cuả thân chủ, nên có những bước đưa đến một hình thức giao ước
theo các bước sau:
-Ta phản ảnh đúng suy nghó cuả thân chủ, cố gắng chứng minh với thân
chủ là ta hiểu họ.
-Chia sẻ quan điểm với thân chủ.
Ví dụ: Khi ta làm việc với cha mẹ ngược đãi con cái, ta có thể nói với họ rằng:
Tôi nghó bạn không có cơ hội học tập làm cha mẹ tốt, và bạn có nói với tôi là hồi
còn bé, cha mẹ bạn ngược đãi bạn, hay bạn không có sự ủng hộ cuả chồng trong
việc chăm sóc con. Nếu bạn có được sự hỗ trợ cuả người khác, bạn sẽ chăm sóc
con tốt hơn.
-Xác đònh chúng ta phải can thiệp vấn đề bằng cách nào: phải thương
lượng với thân chủ, phải phân nhỏ vấn đề, có khi có sự khác biệt về quan niệm
giưã ta và thân chủ.
-Xác đònh các mục tiêu và các mục tiêu này xuất phát từ vấn đề đã được
xác
đònh.
Có 6 tiêu chuẩn để tạo ra mục tiêu tốt:
1. Mục tiêu phải mang tính tích cực. Nên nêu lên một cái gì đó tích cực
màthân chủ phải làm (việc gì giúp ngưng uống rượu thay vì cấm thân chủ uống
rượu). Đây là cách dựa vào mặt mạnh khi xác đònh mục tiêu.
2. Mục tiêu phải mang tính điển hình: hành động cái gì?
3. Mục tiêu phải liên quan đến cuộc sống hiện tại: thân chủ có thể làm
ngay trong ngày hoặc ngày hôm sau, ví dụ: tối nay tôi ngủ sớm.
4. Mục tiêu càng cụ thể càng tốt.
5. Xác đònh kế hoạch để can thiệp: ta tiếp cận ai? Vai trò cuả ta là gì? Cụ
thể ta sẽ làm gì và sử dụng bao nhiêu thời gian để cho thân chủ hiểu được họ

Phản ảnh cách nhìn của thân chủ
Nhận xét
Chia sẽ cách nhìn vấn đề cuả
nhân viên xã hội

Nêu rõ các vấn đề cần giải quyết
(thương lượng)

Thiết lập các mục tiêu

Phát triển một chương trình cho
sự thay đổi
Xác đònh các bước hành động
19
19
Tóm lược giao ước
chủ cảm nhận là chúng ta cởi mở nhìn vấn đề .Công việc của chúng ta trong giai
đoạn này là tìm hiểu quan điểm của thân chủ và cung cấp thông tin để thân chủ có
những nghi ngờ thắc mắc dể họ tự suy nghó.

Giai đoạn dự đònh : Đặc tính chính của giai đoạn này là thân chủ có ý nghó thay
đổi trong tư tưởng , họ cân nhắc cái được , cái mất trong sự thay đổi .Có khi ta
cảm thấy khó chòu trước sự lưỡng lự đó , nhưng đó là bước tốt trong quá trình thay
đổi .Công vệc của ta là giúp họ ý thức được sự lưỡng lự đó, giúp họ suy nghó và 20
20
tìm ra những điều nào có lợi và bất lợi khi họ thay đổi hoặc khi họ không thay
đổi .Ví dụ: người nghiện rượu , điều tốt cho họ là không gây gỗ trong nhà và có
thể họ còn thấy mạnh khoẻ hơn, nhưng họ cũng sợ mất bạn bè .Ta cần khuyến
khích họ nói về những cái lợi khi thay đổi, cố gắng nhấn mạnh các điểm này.

Giai đoạn quyết đònh : đó là khi có chiều hướng nghiên về sự thay đổi khi thân
chủ bắt đầu nói về các ý đònh về những gì họ sẽ làm và nhiệm vụ của ta là thúc
đẩy .Vídụ:khi thân chủ nói:”Tôi thực sự không muốn uống nữa , tôi đã ngán cuộc
sống nghiện ngập rồi .”Ta phải nói ngay:”Tốt , đây là việc anh phải làm “và
cùng thân chủ bàn về kế hoạch hành động .ï .Ta nên cung cấp cho họ những
phương pháp lựa chọn .Họ sẽ cảm thấy họ kiểm soát được quá trình thay đổi này
và đây là bước khó nhất.

Giai đoạn hành động : Ta và thân chủ mỗi bên có việc phải làm là thực hiện
hành động ở giai đoạn này .Chúng ta cần phải khuyến khích và tăng các điểm
ïmạnh của họ , hướng và theo dõi công việc của họ để giúp họ vượt qua những
khó khăn.


mình đi quá nhanh hay quá chậm.
Điều khó khăn là nhân viên xã hội thường hay đỗ lỗi, trách móc thân chủ, nói là
chính họ không muốn thay đổi hoặc họ không đủ khả năng thay đổi.

CÁC GIAI ĐOẠN THAY ĐỔI

Giai
đoạn
Đặc điểm nơi thân
chủ
Phương hướng công việc của
nhân viên xã hội
Tiền dự
đònh
Chưa nghó đến việc
thay đổi.
Không có ý thức về vấn
đề.
Không thấy rõ vấn đề.
Cần tìm thông tin về vấn đề.
Tăng sự thắc mắc.
Xóa bỏ những rào cản để thay
đổi.
Tránh sự tranh cải.
Lắng nghe có phản hồi.
Hỏi những câu hỏi mở để rộng
đường trả lời.

Dự đònh Mâu thuẩn trong tư
tưởng.

Hỗ trợ cho sự hiệu quả cá
nhân.
Duy trì - Nhận thức vấn đề cũ với
thay đổi.
Lập phương hướng để áp dụng
khi các hành vi cũ tái hiện.
Xác nhận khả năng của thân
chủ để duy trì sự thay đổi. 22
22
Trở lại - Hành vi cũ tái hiện trở
lại.
Xem xét điều gì đã xãy ra.
Xem cách nào để làm khác đi.
Tránh làm chán nản hay làm
mất tinh thần thân chủ.
Đưa vào bối cảnh của quá
trình thay đổi.

5. KỸ NĂNG BẢO VỆ LI ÍCH CỦA THÂN CHỦ (HAY KỸ NĂNG BIỆN
HỘ)

5.1. Vai trò bảo vệ quyền lợi của thân chủ là một trong những vai trò quan
trọng của nhân viên xã hội. Biện hộ là làm việc đứng trên tư cách của thân
chủ, chúng ta đứng về phía thân chủ, nhưng cũng không hẳn là chống đối
với một tổ chức nào đó. Chúng ta là đối tác với thân chủ, có thể tìm một
cái gì đó cho thân chủ mà người khác không làm được. Ta bò đặt vào một
tình thế khó khăn giữa thân chủ và cộng đồng giải quyết những mâu thuẩn

quyết.
3. Thân chủ nữa chừng chán và bỏ cuộc.
4. Nhân viên xã hội không hành xử một cách đạo đức, không tôn trọng thân chủ
và hệ thống mà mình muốn can thiệp.

6.KỸ NĂNG THAM VẤN.

6.1. Tham vấn là một phương cách hỗ trợ. Thông qua sự tương tác giữa hai bên,
nhân viên xã hội giúp thân chủ lấy lại niềm tin và hy vọng, từ đó biết nhận lấy
trách nhiệm giải quyết vấn đề của chính họ.Khi thân chủ có vấn đề khó khăn và
đang bế tắc trong giải quyết vấn đề thì thường họ thụ động, cảm thấy bất lực,
thiếu khả năng hoặc chưa tận dụng hết khả năng của họ hoặc họ có cái nhìn lệch
lạc về chính họ, về người khác và về môi trường sống. Vì thế, mục đích của tham
vấn là giúp thân chủ :
Thay đổi hành vi,
Tăng sức khỏe tinh thần,
Thêm năng lực giải quyết vấn đề,
Ngăn ngừa và làm giảm thiểu những tác hại của vấn đề,
Biết lấy quyết đònh.

6.2. Kỷ thuật tham vấn.
Khởi đầu cuộc phỏng vấn : tạo ấn tượng ban đầu tốt đẹp nơi thân chủ (xem
phần kỹ năng giao tiếp cơ bản).
Đánh gía các kinh nghiệm của lần gặp gở trước đây nếu có.
Tìm hiểu những mong đợi của thân chử.
Tìm hiểu và đo lường khả năng hành động của thân chủ.
Nhận diện các cảm giác và mối quan tâm của thân chủ.
Xác đònh mục tiêu và phương hướng tới.
Giao việc cho thân chủ cần phải thực hiện ở nhà.
Kết thúc buổi tham vấn.

những khó khăn của thân chủ ) Khi bàn về công tác xã hội , phải nhớ đến hệ sinh
thái(cá nhân, gia đình, xã hội , nền văn hóa ) thì ta cần phải biết can thiệp ở cấp
nào , cho đặc tính này đã làm cho công tác xã hội có những đặc tính riêng của
mình là:
Cá nhân không vận hành một mình.
Có khi nhân viên xã hội chỉ chú trọng vào cá nhân , không chú ý đến môi
trường xung quanh của cá nhân đó .
Có khi nhân viên xã hội chẳng can thiệp vào cá nhân , chẳng can thiệp vào
môi trường mà chỉ giúp về phương tiện.
Có khi nhân viên xã hội chỉ tập trung vào mội trường , không chú ý vào cá
nhân (vì môi trường cần thay đổi).
Nhân viên xã hội phải làm việc ở ba cấp : cá nhân , gia đình và xã hội môi
trường, đó là điều khác biệt giữa công tác xã hội với các nghề khác .Nhân viên
xã hội đôi khi có kỹ năng làm việc cả ba cấp, nhưng đôi khi không có nguồn lực
để can thiệp vào ba cấp đó .Nhiệm vụ của ta là giúp con người cá nhân thích nghi
vào môi trường mà đôi khi không được can thiêp ở cấp cao hơn.
Th.s.Nguyễn Ngọc Lâm



CTD/Nguyen Ngoc Lam/CTXH


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status