Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn trước hết đến các cô trong nhà Mở Hữu
Nghị đã tận tình tạo điều kiện, hướng dẫn cho em trong quá trình
thực tập tại cơ sở.
Để có thể hoàn thành được báo cáo thực tập này, em xin chân
thành gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới Thạc sĩ Bùi Hồng
Thái, người đã cung cấp tài liệu, đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn em
trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Em cũng gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong khoa Tâm
lý học cũng như cán bộ khoa đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận
lợi cho em trong thời gian tiến hành thực tập.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội tháng 11 năm 2008.
Sinhviên.
1
PHẦN MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài:
“Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan”
Đây là một trong những câu nói đáng ghi nhớ của Chủ tịch Hồ
Chí Minh. Đương thời Người rất quan tâm tới thế hệ trẻ, đặc biệt là
trẻ em, được coi là những chủ nhân tương lai của đất nước.
Ngày nay Nhà nước ta và nhân dân ta vẫn đã và đang phát huy
truyền thống “yêu nước thương nòi’ có rất nhiều chính sách bảo vệ,
chăm sóc trẻ em nói chung. Không những vậy, trẻ em còn được coi là
trung tâm của vũ trụ bởi cả thế giới vẫn ngày ngày, giờ giờ quan tâm
tới mọi quyền lợi chính đáng của trẻ em:
Công ước của Liên Hợp Quốc
Sau 10 năm bản thảo và cân nhắc. Công ước được Đại Hội
đồng Liên Hợp Quốc chấp thuận vào ngày 20 tháng 10 năm 1989.
sóc các em khá đầy đủ về vật chất, song điều đáng nói là các em ở
nhà nuôi đều là các em có hoàn cảnh khó khăn: gia đình nghèo, hay
mất cha/mẹ, trí tuệ chậm phát triển và do xuất thân từ những gia đình
như vậy mà các em có tổn thương về tâm lý: đặc biệt là xúc cảm, tình
cảm.
3
Từ những trăn trở đối với các em nhỏ nơi đây mà nhóm sinh
viên chúng tôi đã chọn cơ sở thực tập là Nhà Mở Hữu Nghị I. Sau
quá trình thực tập tôi đã thu được một số kết quả nghiên cứu và lấy
tên đề tài: “Công tác xã hội với nữ học sinh thông qua sinh hoạt
nhóm tại nhà Mở Hữu Nghị I”.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: PHẦN TIẾP CẬN LÝ THUYẾT
1.1. Vài nét về ngành công tác xã hội:
a.Định nghĩa Công tác xã hội : Đã có rất nhiều cách hiểu, nhiều
định nghĩa về công tác xã hội, tuy không đối lập nhưng cũng chưa có
được một định nghĩa thống nhất.
Theo Foundation of Social Work Practice:
Công tác xã hội là một môn khoa học ứng dụng để giúp đỡ mọi
người vượt qua những khó khăn của họ và đạt được một vị trí ở mức
độ phù hợp trong xã hội. Công tác xã hội được coi như một môn khoa
học vì nó dựa trên những luận chứng khoa học và những cuộc nghiên
cứu đã được chứng minh. Nó cung cấp một lượng kiến thức có cơ sở
thực tiễn và xây dựng những kỹ năng chuyên môn hóa.
Joanf Robertson - Chủ nhiệm khoa Công tác xã hội trường Đại
học Wisconsin, Hoa Kỳ:
Công tác xã hội là một quá trình giải quyết các vấn đề hợp lý
nhằm thay đổi theo kế hoạch, hướng tới mục tiêu đã đề ra ở các cấp
độ cá nhân, gia đình, nhóm, tổ chức, cộng đồng và chính sách xã hội.
Theo Hiệp hội nhân viên xã hội quốc gia (NASW):
xã hội hay phúc lợi xã hội, đồng thời hỗ trợ con người giải quyết vấn
đề đời sống cụ thể của họ nhằm đem lại sự ổn định, hạnh phúc cho
mọi người và phát triển cho cộng đồng, xã hội.
Định nghĩa của Crouch.R.C “Social Work Defined” (1979):
Công tác xã hội là sự cố gắng hỗ trợ những người không làm
chủ các phương tiện sinh tồn biết tiếp cận được với chúng và đạt
được mức độ độc lập cao nhất có thể có được” (“Mức độ độc lập cao
nhất” có ý nghĩa khác nhau giữa Châu Âu và Châu Á, cho nên định
nghĩa này chưa ổn khi áp dụng cở Châu Á - Lời bình của t/g).
Từ các nội dung định nghĩa được nêu trên đây, có thể tóm lược
trong một định nghĩa mang 2 khía cạnh nội dung sau:
Công tác xã hội là sự vận dụng các lý thuyết khoa học về
hành vi con người và hệ thống xao nhằm xây dựng và thúc đẩy sự
thay đổi liên quan đến vị trí, địa vị, vai trò của cá nhân, nhóm, cộng
đồng người yếu thế nhằm tới sự bình đẳng và tiến bộ xã hội.
Công tác xã hội còn là một dịch vụ đã chuyên môn hóa, góp
phần giải quyết những vấn đề xã hội, về con người mang tính bức
xúc nhằm thỏa mãn các lợi ích căn bản của những cá nhân, nhóm,
cộng đồng xã hội; mặt khác, góp phần giúp cá nhân tự nhận thức về
vị trí, vai trò xã hội của chính mình.
Công tác xã hội vừa là một khoa học, vừa là một nghề nghiệp
thực hiện các chức năng xã hội nhằm thúc đẩy sự thay đổi liên quan
đến vị trí, vai trò của các cá nhân, nho,s cộng đồng yếu thế, tth tăng
6
cường năng lực trợ giúp của Chính phủ hướng tới sự bình đẳng và
tiến bộ xã hội.
b. Đối tượng của Công tác xã hội.
- Đối tượng của Công tác xã hội như một khoa học chính là các
hoạt động xã hội đặc thù nhằm vào các cá nhân, nhóm hoặc chúng ta
xã hội cần được giúp đỡ để khôi phục, ngăn chặn các chức năng bị
người làm Công tác xã hội một cách chuyên nghiệp.
Tuy nhiên lực lượng những người làm Công tác xã hội chuyên
nghiệp không nhiều. Theo số lượng trong cuốn sách “Cơ sở Xã hội
học” của một số nhà khoa học Nga: tổng số người làm công tác xã
hội ở Nga tính đến những năm 2000 có khoảng 5 triệu người. Những
người này có văn bằng chứng nhận là họ có nghề chuyên môn chính
thức là “Cán bộ làm Công tác xã hội”. Số người làm ctxho không
chuyên có khoảng 8 triệu đến 10 triệu người, ở Thụy Điển (chỉ tính
riêng ở 3 thành phố lớn nhất: Stốckhôn, Ghêtêbooc và Manmio, vào
năm 1990, số người làm công tác xã hội chuyên nghiệp là 3,5 ngàn
người, còn những người không chuyên nghiệp là 46.500 người. ở Mỹ,
theo một thống kê của Hội đồng giáo dục công tác xã hội năm 1993
đã có 31.466 người đang được đào tạo công tác xã hội chuyên nghiệp
tại các trường Công tác xã hội. ở Việt Nam, số người được đào tạo,
có văn bằng về Công tác xã hội chuyên nghiệp còn thật là ít ỏi, do
vậy gánh nặng chính của việc phục vụ những người dần được giúp đỡ
đè nặng lên vai những người làm công tác xã hội không chuyên
8
nghiệp, không có bằng cấp đào tạo về chuyên ngành này và họ làm
Công tác xã hội là do tình thế đòi hỏi.
d. Các chức năng của Công tác xã hội:
Từ góc độ nghiên cứu của các học giả Nga gần đây, công tác xã
hội bao gồm nhiều chức năng: chuẩn đoán - dự báo - cảnh báo, phòng
ngừa - bảo vệ pháp quyền - sư phạm xã hội - tâm lý - y tế xã hội -
sinh hoạt xã hội - giao tiếp tuyên truyền quảng cáo - nhân văn - tổ
chức. Theo số tài liệu hiện có ở nước ta, chức năng của công tác xã
hội được xác định gồm 4 chức năng cơ bản sau: trị liệu, phòng ngừa,
phục hồi và phát triển. Theo chúng tôi có thể xác định chức năng kép
sau đây:
- Chẩn đoán và dự báo: Những cán bộ công tác xã hội phải
tiêu cực trong hành vi, trong lối sống của họ; giúp họ hiểu biết và
tiếp cận với hệ thống các dịch vụ xã hội, đồng thời biết khai thác và
phát huy các “tiềm năng” còn tàng ẩn bên trong mỗi con người (đó là
phẩm chất, ý chí, sức khỏe, tay nghề… dẫu rằng rất tít ỏi).
- Phục hồi và phát triển:
Trong các xã hội phát triển, chức năng này luôn được coi trọng.
Công tác xã hội luôn đòi hỏi các cán bộ của mình chăm lo đến việc
phục hồi những chức năng về thể chất, tâm lý xã hội cho mọi đối
tượng đã được chữa trị, giúp đỡ những người bị tổn thương, thiệt thòi
nhanh chóng trở lại hòa nhập với cộng đồng xã hội. Phát hiện những
quyền lợi và nhu cầu của các đối tượng trong mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội, thu hút họ tham gia vào các hoạt động xã hội (kể cả việc
10
lao động tự kiếm sống). Sự phục hồi đó giúp đối tượng lấy lại sự
thăng bằng, đó cũng là chỗ đứng để đối tượng có thể bật dậy. Chức
năng phục hồi và phát triển cũng chính là một quá trình hành động
liên tục của cán bộ Công tác xã hội nhằm giáo dục, nâng cao nhận
thức, rèn luyện kỹ năng, phát huy tính chủ động của cá nhân, nhóm,
cộng đồng yếu thế. Đặc biệt giúp cá nhân những tri thức để họ tự biết
bảo vệ mình, những kỹ năng nghề nghiệp để họ tự xu hướng cuộc
sống của mình.
1.2. Công tác xã hội với trẻ em:
+ Nhận rõ những “mảng tối” trong đời sống trẻ em:
Công tác xã hội với trẻ em đòi hỏi những nhân viên của mình
phải nhân cách sâu sắc thực trạng đời sống của trẻ em hiện nay, đặc
biệt là những nỗi đau của chúng bởi sự lạm dụng, ngược đãi của
người lớn. Các hình thức đối xử ấy đã từng xảy ra trong mỗi gia đình,
trong cộng đồng trước đây và ngày càng trở nên trầm trọng, tinh vi
trong một xã hội phát triển theo cơ chế kinh tế thị trường.
Ngược đãi te: Đó là tất cả những thái độ, hành vi làm tổn
tin các nhóm buôn người đang đưa lậu hàng trăm trẻ em từ châu Phi,
châu A, Đông Âu sang Anh mỗi năm để làm “lao động nô lệ”. Bọn
buôn người dụ dỗ trẻ em rời khỏi những gia đình khốn khó của mình.
Đến Anh bọn trẻ phải sống trong những điều kiện khủng khiếp và có
thể bị hành hạ và lạm dụng tình dục. Trẻ em từ Trung Quốc, Việt
Nam, Malaysia được phát hiện làm trong các xí nghiệp bóc lột sức
12
lao động, các nhà hàng, các phân xưởng chế biến ma túy ở các khu
vực ngoại thành, nhiều trẻ em Đông Âu bị ép đi ăn xin hoặc ăn cắp.
* Trẻ em chính là mơ ước, là hạnh phúc, là niềm tin yêu và hy
vọng của biết bao gia đình. Song trẻ em cũng chính là căn nguyên
của những đau khổ, chán chường của những người làm cha, làm mẹ
bởi các em, hoặc phải chịu chung cảnh sốngn ghèo hàn, dốt nát, hoặc
bị lây nhiễm những thói hư tật xấu trở thành gánh nặng của gia đình,
xã hội. Đáng buồn và thật đáng lo ngại trong xã hội hiện đại trẻ em
đã và đang trở thành những món hàng để muabán và đổi chác. Trẻ em
thuộc nhóm đối tượng của công tác xã hội:
- Trẻ mồ côi.
- Trẻ lang thang đường phố
- Trẻ em khuyết tật
- Tre lao động sớm.
- Trẻ em thiệt thòi
- Trẻ em phạp pháp
- Trẻ em bị lạm dụng tình dục
- Trẻ em bị ngược đãi.
Mới đây người ta còn bổ sung vào nhóm đối tượng này nhóm:
Trẻ em bị ảnh hưởng chất độc da cam đioxin- hoặc có sự thay đổi tên
gọi một vài nhóm trẻ. Chúng ta có thể tiếp tục cập nhật vào nội dung
bài học những thông tin mới.
Sự phân loại trên đây cũng chỉ mang ý nghĩa tương đối, bởi
Quốc tế về Quyền trẻ em”, “Luật chăm sóc, bảo vệ bà mẹ, trẻ em”,
“Các chương trình hành động vì trẻ em” “Năm quốc tế vì trẻ em”
v.v…
Các tổ chức Đảng, chính quyền và đoàn thể đã và đang có
những biện pháp tích cực trên nhiều lĩnh vực nhằm hỗ trợ các đối
tượng trẻ em nói chung và trẻ em thiệt thòi nói riêng. Pải đảm bảo
cho các em các nhu cầu về ăn, ở, học tập, được chăm sóc đầy đủ,
thường xuyên về vệ sinh, sức khỏe.
Tích cực vận động, tuyên truyền, nhằm nâng cao nhận thức
của cá nhân, của cộng đồng về các vấn đề xã hội liên quan đến việc
chăm sóc, giáo dục trẻ em. xác định rõ nghĩa vụ, trách nhiệm, tình
cảm và đạo đức với trẻ em - thế hệ tương lai của đối tượng.
tạo dựng cho các em một môi trường “gia đình” hạnh phúc,
ở đó, các em có tình yêu thương của cha, mẹ đẻ ( hoặc cha mẹ nuôi),
ở đó các em có sự cảm thông, che chở của các mẹ, các cô (trong các
nhà tình thương, các mái ấm, các nhà trẻ mồ côi, các cơ sở từ
thiện…). Cũng ở đó các em được giáo dục, học hành từ các người
thày giàu lòng nhân ái (trường giáo dưỡng). Trẻ em luôn cần sự che
chở, nuoi nấng, dạy dỗ. Môi trường đầu tiên có được những điều kỳ
diệu ấy chính là gia đình. Nhưng không ít trẻ em mất đi cơ may ấy.
Không gia đình, sống lang thang màn trời, chiếu đất, không học hành,
lao động cật lực, tệ nạn xã hội luôn rình rập, lôi kéo… đó là thân
phận những trẻ em thiệt thòi. Không có gì thay thế được gia đình. Và
chí ít cũng phải đem lại cho các em một mái ấm, tình thương.
15
Tăng cường việc trợ giúp về tâm lý cho trẻ em, giúp các em
nhận thức cái tốt, xấu, đúng, sai, cái đáng làm, cái cần tránh, và hơn
thế nữa có thể tự bảo vệ mình không bị cám dỗ bởi tình dục, ma túy
và loại tệ nạn xã hội khác. Nhiệm vụ này của công tác xã hội là hết
sức có ý nghĩa .
Thực hành công tác xã hội hành vi:
- Quan sát và ghi chép lại hoạt động công tác xã hội hành vi
ngay từ khi mới bắt đầu sau đó là các giai đoạn can thiệp.
- Quá trình tìm hiểu về con người và môi trường của khách
hàng. Theo Herbert (1987) có 5 yếu tố cần thiết khi xem xét một
hành vi có vấn đề được thể hiện bằng 5 chữ cái sau: “FINDS” - tần
xuất, cường độ, số lượng, quãng thời gian, và ý nghĩa.
- Quá trình hành động, quá trình này nên chia thành các bước
nhỏ, nên ưu tiên can thiệp đến những hành vi có ý nghĩa quan trọng
hơn đối với khách hàng. Công tác can thiệp cần phải thông qua
những người hòa giải, như gia đình, bạn bè chứ không phải trực tiếp
với khách hàng (ví dụ, thông qua cha mẹ làm những người hòa giải
để giúp nhân viên xã hội quản lý những đứa trẻ bướng bỉnh; thông
qua gia đình, người thân để điều chỉnh hành vi của người nghiện
v.v…).
- Thực hành công tác xã hội hành vi có thể sử dụng hiệu quả
trong chính trị - xã hội với nhóm.
17
- Thực hành công tác xã hội hành vi với cộng đồng, có một
trong những phương pháp hữu hiệu đó là phương pháp khoản thưởng
danh nghĩa (khách hàng thu nhập những khoản thưởng, đó là những
hàng hóa hoặc đặc quyền được chứng nhận trên danh nghĩa). Khách
hàng trao đổi các khoản thưởng để có được những hàng hóa hay đặc
quyền mà họ mong muốn. Khoản thưởng danh nghĩa rất hữu hiệu
trong đào tạo phân biệt đối xử.
Nhận xét: Các cách tiếp cận hành vi là bước đột phá lớn đầu
tiên vào mô hình công tác xã hội tâm lý động học thông thường, tuy
nhiên nó mới tác động rất ít đến công tác xã hội hàng ngày cho dù nó
đã từng được sử dụng có hiệu quả trong một số trường hợp…
b. Áp dụng thuyết hệ thống trong thực hành công tác xã hội với
người được sử dụng, hoặc nó buộc con người phải phụ thuộc một
cách quá mức vào các hệ thống từ việcăn, ở, đi lại, sinh hoạt, học tập,
cho tới các hình thức trị liệu tại một cơ sở nào đó.
- Nhiệm vụ của công tác xã hội là:
+ Tạo dựng mối liên hệ mới giữa cá nhân, nhóm với các hệ
thống hỗ trợ (ví dụ: một cá nhân có vấn đề sẽ cảm thấy dễ chịu về
việc vào một trung tâm bảo trợ hoặc giáo dục lao động xã hội, họ
cảm thấy không bị xa lánh, không bị từ chối và được học các kỹ năng
tự lập).
19
+ Giúp họ điều chỉnh các hành vi thực hiện các tương tác mới ở
trung tâm và với các hệ thống nguồn lực khác (như với gia đình,
người thân và với các tổ chức đoàn thể, xã hội trong và ngoài trung
tâm).
+ Giúp điều chỉnh hoặc phát triển hệ thống các chính sách xã
hội, an sinh xã hội sao cho phù hợp và giúp các thân chủ tiếp cận và
nhận được sự trợ giúp kịp thời từ các chế độ chính sách đó.
Ý nghĩa thực tiễn:
Lý thuyết hệ thống đã chỉ ra các mối liên kết tất yếu trong
mạng xã hội giữa cá nhân với cá nhân, với nhóm và ngược lại. Trong
công tác xã hội không thể không chú ý tới sự ảnh hưởng qua lại đó.
Tạo dựng và phát huy những tiềm năng, sức mạnh của hệ thống sẽ tạo
nên những lợi thế trong thực hành công tác xã hội.
20
CHƯƠNG 2: PHẦN THỰC HÀNH
I. Vài nét về cơ sở thực tập.
Một số tình hình chung về nhà Hữu nghị I- Đống Đa.
1. Lịch sử thành lập nhà Hữu Nghị 1 Đống Đa.
Nhà Hữu Nghị 1 Đống Đa được thành lập tháng 10 năm 1991
với sự giúp đỡ của Sở Lao động thương binh xã hội và được ủy ban
tâm y tế quận Đống Đa khám chữa bệnh miễn phí. Các em còn được
cấp thẻ bảo hiểm y tế, được tham gia bảo hiểm thân thể hàng năm.
Các cháu còn được tham gia các lớp học kỹ năng sống, lớp
nòng cốt của phòng Lao động Thương binh Xã hội tổ chức. Ngoài ra,
các em được học vi tính, tiếng Anh do tổ chức AMT dạy.
3. Mục tiêu:
Tiếp nhận, quản lý trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
Nuôi dưỡng các em cả thể chất lẫn tinh thần giúp các em phát triển
một cách toàn diện, giúp các em trở thành công dân có ích cho gia
đình và xã hội.
5. Đối tượng được hưởng dịch vụ:
Nhà Hữu Nghị I Đống Đa tiếp nhận và nuôi dưỡng trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn từ 6 tuổi đến 16 tuổi có hộ khẩu thường
trú tại quận Đống Đa, cụ thể là trẻ em mồ côi cả cha lẫn mẹ, hoặc mỗ
côi cha (mẹ). Những người mất tích hoặc không đủ khả năng nuôi
22
dưỡng, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em con nhà nghèo, bố mẹ ốm đau, bố mẹ
vào tù hoặc đang cai nghiện… những em thuộc diện trên thì được
Phòng Lao động Thương bình Xã hội duyệt vào nhà Hữu Nghị I.
Số trẻ hiện có 60 cháu.
* Xếp theo giới tính:
STT Giới tính Số lượng
1 Nam 29
2 Nữ 31
* Xếp theo giới tính:
STT Cấp bậc Số lượng Ghi chú
1 Chưa đi học 1 Trí tuệ chậm phát triển
2 Tiểu học 32
3 Trung học cơ sở 25
4 Trung học phổ thông 2
Nhóm học sinh chúng tôi chọn nghiên cứu là học sinh học lớp 6
và lớp 7 (cấp II). Mặc dù ban đầu đối tượng nghiên cứu là 10 em,
song trong quá trình chúng tôi thực tập một số em chuyển giờ học
thêm hoặc vì lý do gia dình có việc bận nên không thể tiếp tục hợp
tác.Vì vậy, đối tượng nghiên cứu giảm xuống còn 7 em.
Một trong số đó, đáng quan tâm nhất là em Phạm Hồng Vân
(em đồng ý cho chúng tôi ghi tên mình vào bài báo cáo). Tôi chọn em
là ca nghiên cứu của mình.
VÀI NÉT VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
24
Sơ yếu lý lịch
Họ và tên: Phạm Hồng Vân - nữ
Sinh năm: 1/ 5/1996 ( 13 tuổi)
Hiện tại là: học sinh lớp 7A- trường THCS Thái Thịnh
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú:19 ngõ Gia Tự B- Trung
Phụng- Đống Đa Hà Nội
Họ tên mẹ: Phạm Thị Minh Thu- Sinh: 10/ 3/ 1976 ( nghiện,
hiện nay đi cai nghiện)
Họ tên bố: Đỗ Tiến Thành- Đã mất năm 2001 vì tai nạn giao
thông
Vân có 2 em gái:
- Đỗ Thu Vân- Sinh: 14/11/1998 (Ốc)
- Đỗ Tường Vân- Sinh: 23/7/2000
(Choè)
Hiện nay em dang sống cùng ông bà và các bác. Mẹ sinh Vân
được một năm bác Thận đưa em về nuôi.Quan tâm tới em nhất là ông
bà và bác Thuận (bác trai cả)
Khi Mẹ của Vân viết đơn xin cho em và 2 em gái vào nhà Hữu Nghi
I, lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn: bố Vân mất, mẹ ốm đau bệnh
tật, cắt lá lách, bị gãy chân, không lao động và tự kiếm sống được,