Giáo trình tổng hợp các khái niệm liên quan đến công nghệ truyền thông phần 7 - Pdf 21

Thấp nhất 0 7 1 1 1 1 1 1 1 1
1 6 1 1 1 1 0 1 1 1
2 5 1 1 1 0 1 1 1 1
3 4 1 1 1 0 0 1 1 1
4 3 1 1 0 1 1 1 1 1
5 2 1 1 0 1 0 1 1 1
6 1 1 1 0 0 1 1 1 1
Cao nhất 7 0 1 1 0 0 0 1 1 1

Sơ đồ khối của 8259A :

Để cho phép một ngắt, bit mong muốn trong IMR sẽ được xóa về 0 và
ngược lại nếu không cho phép một ngắt, bit tương ứng sẽ bật lên 1.

Ngắt máy in (cổng song song số 1)

Logic điều khiển
Thanh
ghi
phục
vụ
(ISR)

Giải
quyết
ưu tiên
(PR)
Thanh
ghi yêu
cầu
ngắt
Thanh ghi che ngắt (IMR)
Thanh ghi
số liệu
Logic ghi
đọc
Logic
ghi/đọc
INTA

INT

IR
0

* Có hai khía cạnh ta phải hiểu về PIC :
- Bất cứ khi nào một ngắt xảy ra, PIC được chặn để nó không sinh ra
một ngắt khác. Trạng thái này có thể xóa bằng cách ghi lên thanh ghi ICR
của PIC. Thanh ghi này đặt tại cổng I/O của 20h.
Để Reset lại PIC và cho phép ngắt trở lại, thủ tục phục vụ ngắt ISR sẽ
ghi giá trò 20h là lệnh kết thúc ngắt, chỉ thò PIC cho phép ngắt trở lại.
- Để cho phép một ngắt, ta xoá bit tương ứng trong thanh ghi mặt nạ
ngắt (IMR) về 0. Ngược lại, ta bật bit tương ứng trong thanh ghi IMR lên 1
để không cho phép một ngắt.
- Ngắt cứng còn gọi là ngắt ngoài vì do nguyên nhân bên ngoài. VXL
có các lối vào dành cho ngắt ngoài. Khi có tín hiệu vào các lối này, VXL
đang thực hiện lệnh của chương trình sẽ bò dừng.
Ánh xạ ngắt 8259A lên các thủ tục phục vụ ngắt cứng :

Đường truyền Đòa chỉ

Thủ tục phục
vụ ngắt cứng
Thiết bò bên ngoài
IRQ
0
20H 08h Đồng hồ kênh 0
IRQ
1
24H 09h Bàn phím
IRQ
2
28H OAh Bộ phối ghép màu đồ thò
IRQ
3

Với máy tính cước này, người gọi có thể biết số quay số, thời gian đàm thoại
và giá tiền cuộc gọi: nội hạt, liên tỉnh, nước ngoài. Nhờ đó mà các dòch vụ thuê bao
công cộng phục vụ khách hàng được tốt hơn.

II. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI:
Với đề tài máy tính cước điện thoại được đặt ở các dòch vụ thuê bao công
cộng, thì nhiệm vụ chủ yếu là tính toán chính xác thời gian đàm thoại và đổi ra số
tiền ứng với thời gian đã gọi, ngoài ra còn có thể hoạt động như đồng hồ chỉ thò thời
gian. Từ mục đích này nên máy tính cước phải đạt những yêu cầu sau:
- Được sử dụng trên toàn nước không cần thay đổi về phần cứng.
- Thể hiện đúng số quay ở hai chế độ Pulse và Tone.
- Thời gian đàm thoại kể từ khi thông thoại đối với mấy có đăng ký đảo cực
tại tổng đài một cách chính xác và bắt đầu tính thời gian đàm thoại sau khi
nhấc máy 10s đối với máy không có đăng ký đảo cực.
- Lưu trữ tạm thời tất cả các thông số của cuộc gọi như: số quay số, giá tiền
của mỗi cuộc gọi và thời gian gọi.

III. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI:
Điện thoại công cộng là một đề tài thuộc phạm vi chuyên môn trong ngành
viễn thông, cho nên để nghiên cứu kỹ thì phải cần một thời gian. Với thời gian 6
tuần mà có nhiều vấn đề cần giải quyết, hơn nữa kiến thức về viễn thông có hạn
cho nên để thực hiện đề tài này em tập trung vào giải quyế những vấn đề sau:
- Thiết kế phần cứng máy tính cước điện thoại.
- Xác đònh chính xác thời gian đàm thoại và qui ra giá tiền.
- Lưu trữ các giá trò của cuộc gọi.
IV. CÁC PHƯƠNG PHÁP THỰC THI ĐỀ TÀI:
Với những yêu cầu đã được trình bày ở trên, ta có thể đưa ra các phương pháp
để thực thi đề tài sau:
 Phương pháp sử dụng kỹ thuật số.
 Phương pháp sử dụng kỹ thuật vi xử lý.

 Cấp cao nhất gọilà tổng đài cấp 1.
 Cấp thấp nhất g là tổng đài cấp 5 (cấp cuối)
Tổng đài cấp 5 là tổng đài được kết nối với thuê bao và có thể thiết kế được
10000 đường dây thuê bao.
Một vùng nếu có 10000 đường dây thuê bao trở lên thì các số điện thoại được
phân biệt như sau:
 Phân biệt mã vùng.
 Phân biệt đài cuối.
 Phân biệt thuê bao.
Hai đường dây nối thuê bao với tổng đài cuối gọi là“vùng nội bộ“ trở kháng
khoảng 600 .
Tổng đài cuối sẽ được cung cấp cho thuê bao một điện áp 48VDC.
Hai dây dẫn được nối với jack cắm.
 Lõi giữa gọi là Tip (+).
 Lõi bọc gọi là Ring (-).
 Vỏ ngoài gọi là Sleeve.
Khi thuê bao nhấc máy tổ hợp, khi đó các tiếp điểm sẽ đóng tạo ra dòng chạy
trong thuê bao là 20mA DC và áp rơi trên Tip và Ring còn +4VDC.

II CÁC CHỨC NĂNG CỦA HỆ THỐNG TỔNG ĐÀI:

Mặc dù các hệ thống tổng đài được nâng cấp rất nhiều từ khi nó được phát
minh ra, các chức năng cơ bản của nó như xác đònh cac cuộc gọi thuê bao, kết nói
với thuê bao bò gọi và sau đó tiến hành phục hồi lại khi các cuộc gọi đã hoàn thành
hầu như vẫn như cũ. Hệ thống tổng đài dùng nhân công tiến hành các quá trình này
bằng tay, trong khi hệ tổng đài tự động tiến hành những công việc này bằng các
thiếp bò điện.
Trong trường hợp đầu, khi một thuê bao được gởi đi một tín hiệu thoại tới tổng
đài, nhân viên cắm nút trả lời đøng dây bò gọi vào ổ cắm của dây chủ gọi để thiết
lập cuộc gọi với phía bên kia. Khi cuộc gọi đã hoàn thành, người vận hành rút dây

gian gọi.
- Truyền tín hiệu báo bận: khi tất cả các đường trung kế đều đã bò chiếm theo
các bước trên đây hoặc thuê bao bò gọi bận thì tín hiệu bận được truyền đến cho
thuê bao chủ gọi.
- Hồi phục hệ thống: trạng thái này được xác đònh khi cuộc gọi kết thúc. Sau
đó tất cả các đường nối đều được giải phóng
Như vậy, các bước cơ bản của hệ thống tổng đài tiến hành để xử lý các cuộc
gọi đã được trình bày ngắn gọn. Trong hệ thống tổng đài điện tử, nhiều đặc tính
dòch vụ mới được thêm vào cùng với các chức năng trên.
Do đó, các điểm cơ bản sau đây phải được xem xét khi thiết kế các chức năng
này:
1. Tiêu chuẩn truyền dẫn: mục đích đầu tiên cho việc đấu nối điện thoại là truyền
tiếng nói và theo đó là một chỉ tiêu của việc truyền dẫn để đáp ứng chất lượng
gọi phải được xác đònh bằng cách xem xét sự mất mát khi truyền, độ rộng dãi
tần số truyền dẫn và tạp âm.
2. Tiêu chuẩn kết nối: điều này liên quan đến vấn đề dòch vụ đấu nối cho các thuê
bao. Nghóa là đó là chỉ tiêu về các yêu cầu đối với cá thiếp bò tổng đài và số các
đường truyền dẫn nhằm bảo đảm chất lượng kết nối tốt. Nhằm mục đích này,
một mạng lưới tuyến tính linh hoạt có khả năng xử lý đường thông có hiệu quả
với tỷ lệ cuộc gọi bò mất ít nhất phải được lập ra.
3. Độ tin cậy: các thao tác điều khiển phải được tiến hành phù hợp, đặc biệt các
lỗi xuất hiện trong hệ thống với những chức năng điều khiển tập trung có thể
gặp phải hậu quả nghiêm trọng trong thao tác hệ thống. Theo đó, hệ thống phải
có được chức năng sửa chữa và bảo dưỡng hữu hiệu bao gồm việc chuẩn đoán
lỗi, tìm và sửa chữa.
4. Độ linh hoạt: số lượng các cuộc gọi có thể xử lý thông qua các hệ thống tổng
đài đã tăng lên rất nhiều và nhu cầu nâng cấp các chức năng hiện nay đã tăng
lên. Do đó, hệ thống phải đủ ling hoạt để mở rộng và sửa đổi được.
5. Tính kinh tế: do các hệ thống tổng đài điện thoại là cơ sở cho việc truyền thông
đại chúng nên chúng phải có hiệu quả về chi phí và có khả năng cung cấp các

- Thuê bao bò gọi đã gác tổ hợp kết thúc cuộc gọi và ngắt đường kết nối cuộc
gọi sau một thời gian nếu thuê bao gọi không gác máy.

3. BÁO HIỆU TRÊN ĐƯỜNG DÂY THUÊ BAO:
a. Báo Hiệu Trên Đường Dây Thuê Bao Gọi:
Trong các mạng điện thoại hiện nay, nguồn tại tổng đài cung cấp đến các thuê
bao thường là 48VDC .
* Yêu cầu cuộc gọi: khi thuê bao rỗi, trỡ kháng đường dây cao, trở kháng
đường dây xuống ngay khi thuê bao nhấc tổ hợp kết quả là dòng điện tăng cao.
Dòng tăng cao này được tổng đài phát hiện như là một yêu cầu một cuộc gọi mới
và sẽ cung cấp đến thuê bao âm hiệu mời quay số.
* Tín hiệu đòa chỉ: Sau khi nhận tín hiệu mời quay số, thuê bao sẽ gửi các chữ
số đòa chỉ. Các chữ số đòa chỉ có thể được phát đi bằng hai cách quay số, quay số ở
chế độ Pulse và quay số ở chế độ Tone.
* Tín hiệu chấm dứt việc lựa chọn: Sau khi nhận đủ đòa chỉ, bộ phận đòa chỉ
được ngắt ra. Sau đó việc kết nối được thiết lập, lúc này tổng đài gởi một trong các
tín hiệu sau:
- Nếu đường dây gọi bò rỗi, âm hiệu hồi âm chuông đến thuê bao gọi và dòng
điện rung chuông đến thuê bao bò gọi.
- Nếu đường dây bò bận hoặc không thể vào được thì âm hiệu bận sẽ đến thuê
bao gọi.
- một thông báo đã được ghi sẵn gửi đến số thuê bao gọi để chỉ dẫn cuộc gọi
hiện tại bò thất bại, khác với trường hợp thuê bao bò gọi mắc bận.
* Tín hiệu trả lời trở về: Ngay khi thuê bao bò gọi nhấc tổ hợp, một tín hiệu
đảo cực được phát lên thuê bao gọi.Việc này cho phép sử dụng để hoạt động thiếp
bò đặc biệt đã được gắn vào thuê bao gọi (như máy tín cước).
* Tín hiệu giải tỏa: Khi thuê bao gọi giải tỏa có nghóa lá on hook, tổng trở
đường dây lên cao. Tổng đài xác nhận tín hiệu này giải tỏa tất cả các thiếp bò liên
quan đến cuộc gọi và xóa các thông tin trong bộ nhớ đang được dùng để kềm giữ
cuộc gọi. Thông thường tín hiệu này có trong khoảng thời gian hơn 500ms.

RMS
đến 130 V
RMS
thường là 90
V
RMS
. Tín hiệu chuông được gửi đến theo dạng xung thường là giây có và 4 giây
không (như hình vẽ). Hoặc có thể thay đổi thời gian tùy thuộc vào từng tổng đài.
b. Tín hiệu mời gọi (Dial signal):
2s 4s
hình1 :dạng tín hiệu chuông
Đây là tín hiệu liên tục không phải là tín hiệu xung như các tín hiệu khác được
sử dụng trong hệ thống điện thoại. Tín hiệu này được tạo ra bởi hai âm thanh (tone)
có tần số 350Hz và 440Hz.
c. Tín hiệu báo bận (Busy signal):
Khi thuê bao nhấc máy để thực hiện một cuộc gọi thì thuê bao sẽ nghe một
trong hai tín hiệu:
- Tín hiệu mời gọi cho phép thuê bao thực hiện ngay một cuộc gọi.
- Tín hiệu báo bận báo cho thuê bao biết đường dây đang bận không thể thực
hiện cuộc gọi ngay lúc này. Thuê bao phải chờ đến khi nghe được tín hiệu mời gọi.
Khi thuê bao bò gọi đã nhấc máy trước khi thêu bao gọi cũng nghe được tín hiệu
này.
Tín hiệu báo bận là tín hiệu xoay chiều có dạng xung được tổng hợp bởi hai
âm có tần số 480Hz và 620Hz. Tín hiệu này có chu kỳ 1s (0.5s có và 0.5s không).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status