1
LUẬT QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
Đánh giá việc bảo đảm và thúc đẩy các quyền của trẻ em ở Việt Nam
Từ lâu, trẻ em đã được coi là một trong các nhóm xã hội dễ bị tổn
thương nhất và được các nhà nước, cộng đồn quan tâm bảo vệ. Ngay trong
lịch sử lập pháp của nước ta, Bộ luật Hồng Đức cũng đã có quy định trách
nhiệm của dân chúng và các quan lại địa phương phải giúp đỡ trẻ em tàn tật,
trẻ mồ côi không nơi nương tựa; bảo vệ, chăm sóc trẻ lạc, đồng thời, quy định
về trừng trị tội gian dâm với trẻ em gái; tội buôn bán trẻ em,…
1
Sau khi hệ thống luật quốc tế ra đời, và đặc biệt từ khi Liên hợp quốc
được thành lập thì vấn đề bảo vệ quyền trẻ em đã phát triển lên một bước
ngoặt mới. Việt Nam có thể xem là một quốc gia đi tiên phong về việc công
nhận và bảo vệ quyền trẻ em trên cả phương diện pháp luật lẫn thực tiễn
thông qua việc là quốc gia đầu tiên ở châu Á và quốc gia thứ hai trên thế giới
phê chuẩn Công ước về quyền trẻ em của Liên hợp quốc.
1. Thành tựu trong việc đảm bảo và thúc đẩy quyền trẻ em ở
Việt Nam
Ngay sau khi Việt Nam phê chuẩn Công ước về quyền trẻ em (ngày
20/02/1990), Nhà nước ban hành đồng thời hai đạo luật quan trọng là Luật
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em và Luật phổ cập giáo dục năm 1991 đã
nội luật hoá quy định của pháp luật quốc tế đồng thời thể chế hoá chủ trương,
đường lối của Đảng và Nhà nước về quyền trẻ em. Cùng với đó là các văn
bản pháp luật và dưới luật có liên quan tạo một hành lang pháp lý tương đối
vững chắc góp phẩn đảm bảo và thúc đẩy quyền trẻ em ở Việt Nam. Luật bảo
vệ, chăm sóc và gioá dục trẻ em được xem là văn bản luật trung tâm điểu
chỉnh các vấn đề pháp lý liên quan tới quyền trẻ em, trong đó quy định tập
trung vào các nguyên tắc đảm bảo quyền và phúc lợi của trẻ em với quan
điểm ưu tiên, bình đẳng, không phân biệt đối xử; chú trọng đến quyền được
tiếp cận giáo dục, các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, bảo vệ trẻ em khỏi bị bóc
lột, lao động, chống mại dâm, buôn bán trẻ em…
nghèo khó, thiếu thốn mọi bề, chưa được ăn no mặc ấm, chưa được đi học,
phải lao động quá sức mình, thậm chí có nơi có lúc còn xảy ra tình trạng bạo
hành hay buôn bán trẻ em. Điều đó chứng tỏ rằng các biện pháp để bảo đảm
và thúc đẩy quyền trẻ em phần nào còn chưa mang lại ý nghĩa trên thực tế.
2
Các tổ chức có trách nhiệm trong việc thực hiện quyền trẻ em (theo quy định của Luật Bảo vệ,
Chăm sóc và giáo dục trẻ em) bao gồm: Mặt trận tổ quốc Việt Nam; Hội Liên hiệp phụ nữ Việt
Nam; Đoàn thành niên cộng sản Hồ Chí Minh
Nguyễn Hà Linh – N0 Nhóm 08
3
LUẬT QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
Đánh giá việc bảo đảm và thúc đẩy các quyền của trẻ em ở Việt Nam
Hệ thống pháp luật, như đã phân tích ở phần trên, hệ thống pháp luật
liên quan tới quyền trẻ em đã được ban hành khá nhiều. Tuy nhiên, Luật bảo
vê, chăm sóc và giáo dục trẻ em chỉ quy định những điều khoản mang tính
nguyên tắc, các quy định chung. Các luật liên quan thì chưa quy định đồng bộ
và đầy đủ các vấn đề dẫn tới việc thiếu cơ sở pháp lý để giải quyết các vấn đề
và quyền lựoi của trẻ em không được đảm bảo. bên cạnh đó, các văn bản dưới
luật được xây dựng nhằm cụ thể hoá các văn bản luật quy định về quyền trẻ
em còn mâu thuẫn, chồng chéo, không tạo ra sự thống nhất trong quá trình
thực hiện. Các văn bản phối hợp liên ngành ban hành còn chậm so với yêu
cầu tiến độ triển khai áp dụng trên thực tế.
Hệ thống các thiết chế:
- Các tổ chức xã hội: chưa thực hiện tốt vai trò tuyên truyền pháp luật về
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; việc kiểm tra, đôn đốc thi hành luật còn
nhiều hạn chế, phát hiện ngăn chặn, phê phán những hành vi vi phạm các
quyền và bổn phận của trẻ em còn chưa kịp thời.
- Các cơ quan nhà nước: xuất phát từ nguyên nhân các văn bản pháp luật
về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em còn chống chéo dẫn tới việc thực hiện
chính sách bị cản trở và còn chậm. Đồng thời chi ngân sách nhà nước tuy khá