Thủy sản An Giang hiện trạng phát triển định hướng và giải pháp - Pdf 21


B
B

ỘG
G
I
I
Á
Á
O
OD
D


C
CV
V
À
À
Đ
Đ


I
IH
H


C
CS
S
Ư
ƯP
P
H
H


M
M

H
H NGÔ THỊ KIỀU HUỆ
THỦY SẢN AN GIANG HIỆN
TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỊNH
HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP Chuyên ngành : Địa lý học
Mã số : 60 31 95

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tác giả luận văn

Ngô Thị Kiều Huệ
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
CLB: Câu lạc bộ
CNH - HĐH: Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
Cty: Công ty
ĐBSCL: Đồng Bằng Sông Cửu Long
EU: Liên minh Châu Âu
GTSX: Giá trị sản xuất
GTXK: Giá trị xuất khẩu
H: Huyện
HACCP: Hệ thống phân tích mối nguy và kiểm oát điểm tới hạn.
HTX: Hợp tác xã
ISO: Bộ tiêu chuẩn về quản lý chất lượng và đảm bảo chất lượng.
KCN: Khu công nghiệp
KHKT: Khoa học kỹ thuật
KT - XH: Kinh tế xã hội
NM:
Nhà máy
NN & PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn.
NTTS: Nuôi trồng thủy sản

trồng theo quy luật tự nhiên nữa, mà ngư dân An Giang phải kết hợp vừa tận dụng ưu
thế về tiềm năng điều kiện tự nhiên sẵn có vừa tích cực đầu tư mọi nguồn lực để nuôi

trồng và khai thác thủy sản theo hướng hiện đại hơn, đạt hiệu quả kinh tế hơn. Trong
những năm gần đây An Giang đã chú ý phát triển thủy sản phát huy một trong nhiều
thế mạnh về sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp của tỉnh, t
rong đó cá tra, cá basa là hai
loài thủy sản đặc trưng thích hợp với môi trường nguồn nước tỉnh An Giang và có giá
trị kinh tế cao nên đã thu hút rất nhiều nông dân tập trung đầu tư sản xuất và đã mang
lại hiệu quả kinh tế khá cao, thu nhiều ngoại tệ và ngày càng khẳng định là một trong
những ngành phát triển mạnh, có hiệu quả, dẫn đầu trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh
tế nông nghiệp của tỉnh.
Thực tế An Giang không chỉ nổi tiếng về xuất khẩu lương thực mà còn vươn
lên là một trong
những tỉnh đứng đầu về xuất khẩu thủy sản của cả nước. Tuy nhiên,
vì lợi nhuận trước mắt nên đã xuất hiện phong trào NTTS trong tỉnh một cách ồ ạt

không có quy hoạch, do đó làm cho nguồn lợi thủy sản tự nhiên có khuynh hướng
giảm và môi trường nước có nguy cơ bị ô nhiễm. Bên cạnh đó, sau vụ kiện chống phá
giá cá tra, cá basa của Mỹ đã gây khó khăn đối với ngành thủy sản An Giang. Ngành
thủy sản ở An Giang cần phát triển bền vững với sự quản lý chặt chẽ về kế hoạch sản
xuất, phân vùng nuôi trồng song song với thực hiện tốt việc bảo vệ nguồn lợi thủy
sản và bảo vệ m
ôi trường nước để phát triển theo hướng sản xuất sản phẩm sạch, chất
lượng cao, giá thành hạ nhằm tăng sức mạnh cạnh tranh và tạo uy tín cho hàng thủy
sản An Giang nói riêng và thủy sản Việt Nam nói chung trên con đường hội nhập
kinh tế thế giới. Do đó, tác giả luận văn đã chọn đề tài “Thủy sản An Giang: Hiện
trạng phát triển, định hướng và giải pháp” - để nghiên cứu nhằm phát huy lợi thế của
tỉnh t
rong phát triển thủy sản và hạn chế những tác động tiêu cực của thủy sản An

Việt Nam có tiềm năng rất lớn cho khai thác nguồn lợi hải sản tự nhiên và
phát triển NTTS trong các vùng nước ngọt nội địa, nước lợ ven biển và nước biển.
Do đó, thủy sản đã đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng thực phẩm tiêu dùng, hàng
hóa xuất khẩu và nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu. Nhờ vậy, giá trị sản xuất và
kim
ngạch xuất khẩu thủy sản cũng tăng lên nhanh chóng.
ĐBSCL là một vùng có nhiều lợi thế và tiềm năng phát triển NTTS nhất ở
nước ta. Trong hơn 20 năm qua, NTTS ở ĐBSCL đã khẳng định là một ngành sản
xuất mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao, góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế ở các
vùng ven biển, giải quyết việc làm, tăng thu nhập,
góp phần xóa đói giảm nghèo.
Đồng thời, tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế nhiều thành phần và đa dạng hóa
ngành nghề.
NTTS ở ĐBSCL đã chuyển sang sản xuất hàng hóa và đang từng bước trở
thành một trong những ngành sản xuất chính, phát triển rộng khắp và có vị trí quan
trọng của nhiều tỉnh. Chất lượng và giá trị của các sản phẩm thủy sản nuôi trồng ngà
y
càng cao, trở thành nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thủy sản, góp phần
nâng cao giá trị xuất khẩu.
Cùng với Cần Thơ, Đồng Tháp, Vĩnh Long, An Giang là tỉnh nằm trong vùng
trọng điểm số một về NTTS nước ngọt hàng hóa của cả nước. Hiện nay, vùng này đã
trở thành một trung tâm xuất khẩu hàng thủy sản nước ngọt lớn nhất Việt Nam
với
các mặt hàng xuất khẩu chính như cá tra, cá basa, cá lóc… được xuất dưới nhiều
dạng.
Nhưng sự phát triển sản xuất tự phát, nên NTTS ở ĐBSCL nói chung và An
Giang nói riêng đã gặp nhiều khó khăn: thị trường tiêu thụ và tiềm ẩn nhiều rủi ro đối
với người sản xuất, hơn nữa làm cho môi trường bị ô nhiễm. Bên cạnh đó, các vấn đề

về nguồn nhân lực và thức ăn cho chăn nuôi cũng gây nên những khó khăn cản trở rất

sản phẩm chủ lực của ĐBSCL hiện nay” - của TS. Trần Xuân Hiển - Trường Chính
trị Tôn Đức Thắng tỉnh An Giang.

+ “Những bước phát triển mới trong kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp vùng
ĐBSCL - Một số giải pháp chủ yếu” - Nguyễn Thị Vân - Viện Khoa học xã hội vùng
Nam Bộ.
- “Vai trò của thủy sản trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông
thôn vùng ĐBSCL” - Nguyễn Thanh Phương - Tại Hội thảo chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp nông thôn vùng ĐBSCL ở Cần Thơ, 11/2002.
- Về phía tỉnh An Giang thì có:
+ “Điều chỉnh quy hoạch thủy sản An Giang đến năm 2010 và tầm nhìn đến
năm
2020” - Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn An Giang (Sở NN & PTNT An
Giang).
+ “Phát triển công nghệ chế biến thủy sản ở tỉnh An Giang” - Luận văn
Thạc sĩ Khoa học kỹ thuật (KHKT) - Lưu Vĩnh Nguyên - Phó ban Tuyên giáo tỉnh
An Giang.
- Ngoài ra còn có rất nhiều công trình, các luận văn, bài viết của sinh viên
trong và ngoài tỉnh nghiên cứu về các vấn đề có liên quan đến thủy sản như kỹ thuật
nuôi, vấn đề xuất khẩu, vấn đề thị trường…
Các đề tài nghiên cứu trên là tư liệu tham
khảo quý giá cho tác giả khi thực
hiện luận văn “Thủy sản An Giang: Hiện trạng phát triển, định hướng và giải pháp”.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Địa lý học là khoa học tổng hợp vừa mang tính thực tiễn sâu sắc lại vừa mang
tính cụ thể cao. Đồng thời khoa học địa lý còn m
ang tính thời đại, nó luôn biến đổi
phù hợp với những khám phá của con người và tiến bộ KHKT. Do đó khi tiến hành
nghiên cứu thực hiện đề tài “Thủy sản An Giang: hiện trạng phát triển, định hướng và
giải pháp”, tác giả luận văn đã vận dụng những quan điểm và phương pháp nghiên

dụng những phương pháp riêng đặc trưng của địa lý học như: phương pháp phân tích
tổng hợp, phương pháp bản đồ - biểu đồ, thực địa. Trong đó đề tài đặc biệt có ứng
dụng phần mềm Map Info để thành lập các bản đồ.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3
chương chính sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận.
Chương 2: Hiện trạng phát triển thủy sản tỉnh An Giang.
Chương 3: Một số định hướng và giải pháp để phát triển thủy sản An Giang
giai đoạn 2006 - 2010 và tầm nhìn đến năm 2020.

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Thủy sản – Vai trò của thủy sản
1.1.1. Một số định nghĩa
Thủy sản là những loại động vật sống dưới nước như cá, nhuyễn thể, giáp
xác,…có thể qua hay không qua khâu nuôi trồng và dùng làm thực phẩm.
Thủy sản sống là động vật thủy sản còn sống, hoặc đang giữ ở trạng thái tiềm
sinh.
Ngư nghiệp là những công việc có liên quan đến quá trình khai thác, nuôi

trồng và phát triển nguồn lợi các sinh vật trong nước. Khi nói đến ngư nghiệp thì phải
hiểu nó gồm 3 hoạt động căn bản sau: khai thác, NTTS và phát triển nguồn lợi thủy
sản.
Nghề cá là công việc liên quan đến quá trình khai thác, nuôi cá nước ngọt, lợ,
mặn.
Khai thác thủy sản là việc khai thác nguồn lợi thủy sản trên biển, sông, hồ,
đầm, phá và các vùng nước tự nhiên khác.

C hoặc thấp hơn.
1.1.2. Vai trò của thủy sản
Việt Nam là một quốc gia có được nguồn lợi về thủy sản tự nhiên rất phong
phú, cho nên việc khai thác các nguồn lợi về thủy sản để phục vụ những nhu cầu đa
dạng của con người như làm thực phẩm, đồ trang sức, thuốc chữa bệnh,… đã có từ
lâu đời cùng với sự hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam. Tuy vậy, trải qua
hàng nghì
n năm, nghề cá Việt Nam trước hết là nghề đánh bắt cá vẫn mang nặng nét
đặc trưng của một nền sản xuất tự cấp, tự túc và chỉ là nghề phụ . Nhưng trong những
năm gần đây, ngành thủy sản từ một lĩnh vực sản xuất nhỏ bé, nghèo nàn và lạc hậu
đã trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, có tốc độ tăng
trưởng cao, có tỷ trọng trong tổng sản phẩm q
uốc dân (GDP) ngày càng lớn và chiếm
một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Nếu trong những năm 60 của thế kỷ trước, tổng sản lượng thủy sản ở miền
Bắc chỉ đạt trên dưới 200.000 tấn. Đến năm 1976 - năm đầu tiên sau khi thống nhất
đất nước, tổng sản lượng thủy sản cũng chỉ đạt khoảng 500.000 tấn và đến năm
1980
sản lượng thủy sản ít (613.000 tấn) và kim ngạch xuất khẩu thủy sản cũng chỉ mới đạt
được con số khiêm tốn.
Từ năm 1981, thủy sản đã là ngành kinh tế đầu tiên được Chính phủ cho phép
thoát khỏi cơ chế bao cấp, để thử nghiệm cơ chế “tự cân đối, tự trang trải”, xuất khẩu
trực tiếp các sản phẩm t
hủy sản vào thị trường “khu vực 2” thu ngoại tệ để mua máy
móc, vật tư, thiết bị đầu tư trở lại cho sản xuất.
Đến năm 1993, ngành thủy sản đã được Đảng và Nhà nước chính thức xác
định là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. Tổng sản lượng thủy
sản đã vượt qua ngưỡng 1 triệu tấn vào năm 1990, đặc biệt nước t
a đã đứng vào hàng
ngũ những nước có sản lượng khai thác hải sản trên 1 triệu tấn kể từ năm 1997

2001 - 2005 : Tổng sản lượng đạt 3,43 triệu tấn, tăng 9,24% so với năm 2004. Kim
ngạch xuất khẩu đạt 2,74 tỉ USD, đi qua mốc 2,5 tỉ USD, tăng 13% so với năm 2004
và bằng 185% so với năm 2000. Tính chung 5 năm 2001 - 2005, tổng giá trị kim
ngạch xuất khẩu thủy sản đạt trên 11 tỉ USD, chiếm khoảng 9% tổng giá trị xuất khẩu
của cả nước. Đặc biệt cơ cấu sản phẩm của kinh tế thủy sản cũng được thay đổi mạnh
mẽ theo hướng tăng tỷ trọng nuôi trồng, tăng tỷ trọng sản phẩm có gi
á trị cao, đặc
biệt là sản phẩm xuất khẩu.

Như vậy, ngành thủy sản có thể coi là một ngành tiên phong trong quá trình
đổi mới, gặt hái nhiều thành công và đã có vị trí quan trọng trong nền kinh tế Việt
Nam.
Ngành thủy sản là một trong mười ngành có giá trị xuất khẩu cao nhất Việt
Nam, năm 2005 với giá trị xuất khẩu đạt 2,738 tỷ USD (chiếm 8,5% tổng kim ngạch

xuất khẩu của cả nước), các mặt hàng thủy sản xuất khẩu đứng thứ 4 sau ngành xuất
khẩu dầu thô, dệt may và giày dép. Các sản phẩm từ thủy sản của Việt Nam rất đa
dạng và phong phú, trong đó tôm đông lạnh chiếm gần 50% cơ cấu hàng thủy sản
xuất khẩu, thủy sản Việt Nam hiện đã có mặt tại gần 100 nước và vùng lãnh thổ.
Bảng 1.2. Kim ngạch xuất k
hẩu một số mặt hàng chủ yếu của Việt Nam năm
2005
Mặt hàng
Kim ngạch
(triệu USD)
% so với
năm 2004
Cơ cấu
(%)
Tổng trị giá

134,1
147,3
131,9
113,1
185,2
100

22,9
14,9
9,3
8,5
4,7
4,5
4,3
2,4
2,2
2,0
Nguồn: Cục Thống kê Thành phố Cần Thơ.
Ngành thủy sản góp phần mở rộng quan hệ thương mại quốc tế. Năm
1996, ngành thủy sản chỉ có quan hệ thương mại với 30 nước và vùng lãnh thổ, đến
năm 2001, quan hệ này đã được mở rộng ra 60 nước và vùng lãnh thổ, năm 2003 là
75 nước và vùng lãnh thổ và năm 2005 con số này là gần 100.

Đối với các nước và vùng lãnh thổ có quan hệ thương mại, ngành thủy sản đã
tạo dựng được uy tín lớn. Những nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Nhật và các
nước trong khối Liên minh Châu Âu (EU) đã chấp nhận làm bạn hàng lớn và thường
xuyên của ngành. Có thể thấy rằng sự mở rộng mối quan hệ thương mại quốc tế của
ngành thủy sản đã góp phần mở ra những con đường mới và m
ang lại nhiều bài học
kinh nghiệm để nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào nền kinh

mồi); trong ngành y (chỉ tiêu khâu vết mổ từ agar) hoặc công nghiệp dệt (agar giúp
định hình sợi vải và giữ màu lâu hơn,…); từ đó đẩy mạnh phát triển nguồn hàng hóa
xuất khẩu.
Ngoài mục đích phục vụ tiêu dùng, chế biến, xuất khẩu, NTTS còn có vai trò
thỏa mãn nhu cầu vui chơi, giải trí như nuôi cá cảnh, câu cá,…
Trong tương lai, việc NTTS theo hướng bền vững còn có những đóng góp
quan trọng trong vấn đề vệ sinh m
ôi trường: ăn ấu trùng muỗi, ăn hợp chất hữu cơ,
tham gia diệt trừ sâu bệnh trong mô hình lúa - cá, lúa - tôm.
NTTS còn là bộ phận quan trọng trong các mô hình vườn - ao - chuồng (VAC),
vườn - rừng - ao - chuồng (VRAC), …

Nói tóm lại, ngành thủy sản có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
nói chung và trong đời sống hàng ngày của nhân dân nói riêng, tầm quan trọng của nó
thể hiện ở việc tham gia vào cải thiện cơ cấu bữa ăn với thực phẩm chất lượng cao về
dinh dưỡng, đóng góp vào nền kinh tế, tạo ra mặt hàng xuất khẩu và góp phần giải
quyết việc làm cho một bộ phận lao động của xã hội.
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng sự phát triển thủy sản Việt Nam
1.2.1. Các điều k
iện tự nhiên
Đường bờ biển của Việt Nam kéo dài 3260 km từ Móng Cái (Quảng Ninh)
đến Hà Tiên (Kiên Giang), đi qua hơn 15 vĩ độ (từ 8
0
34'B đến 23
0
23'B) với nhiều
vùng sinh thái khác nhau, nhìn ra Vịnh Bắc Bộ ở phía Bắc, Thái Bình Dương ở miền
Trung và Vịnh Thái Lan ở miền Tây Nam Bộ. Diện tích vùng nội thủy và lãnh hải
rộng 226 nghìn km
2

Diện tích có
khả năng
nuôi (ha)
Ao, hồ nhỏ
Mặt nước lớn
Ruộng trũng
Vùng triều
120.000
340.946
579.970
660.002
113.000
198.220
306.003
414.417
Tổng số 1.700.918 1.031.640

Nguồn: Bộ Thủy sản.
Tính đến năm 2005, tổng diện tích NTTS ở tất cả các loại hình mặt nước là
959.945ha, chiếm 56,4% tổng diện tích tiềm năng của đất nước. Như vậy, cho thấy
tiềm năng phát triển NTTS của nước ta cũng còn rất lớn. Đặc biệt ở vùng ĐBSCL có
nhiều rừng ngập mặn rất thuận lợi cho việc nuôi tôm, các đồng bằng có nhiều ô trũng
để thả cá, nuôi các loài đặc sản. Trên các sông, hồ có điều kiện nuôi cá bè.
* Nguồn lợi giống loài thủy sản
Nguồn lợi hải sản, qua thống kê đặc điểm sinh vật biển Đông Việt Nam của
Giáo sư - Tiến sĩ Vũ Tự Lập, biển Việt Nam
có tổng số 2038 loài cá, trong đó có trên
110 loài cá có giá trị kinh tế, 40 - 50 loài có sản lượng đánh bắt cao. Tổng trữ lượng
cá trên biển Đông là 2.769.041 tấn, trong đó cá nổi chiếm
62,8%, cá tầng đáy 37,2%.

50 loài tôm trong đó 18 loài tôm nước n
gọt và 32 loài tôm biển. Khu hệ cá cửa sông
có 155 loài thuộc 58 họ và 15 bộ [48].
* Khí hậu, thời tiết
Chịu sự chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa, song ở mỗi miền có đặc trưng
khác nhau và đều thích hợp để phát triển NTTS đa loài, nhiều loại hình.
Miền Bắc: Nhiệt độ không khí trung bình 22,2 – 23,5
0
C, lượng mưa trung
bình từ 1500 – 2400mm, tổng số giờ nắng từ 1650 – 1750giờ/năm. Mùa mưa từ tháng
6 đến tháng 8 và là vùng chịu ảnh hưởng lớn của bão và bão xuất hiện sớm trong cả
nước. Vùng biển khu vực này thuộc nhật triều với biên độ 3,2 – 3,6m.
Miền Trung: Nhiệt độ trung bình 25,5 – 27,5
0
C, tổng số giờ nắng từ 2300 –
3000giờ/năm. Mưa tập trung vào cuối tháng 9 đến tháng 11. Chế độ thủy triều gồm
nhật triều và bán nhật triều, có nhiều đầm, phá thích hợp nuôi thủy sản.
Miền Nam: Khí hậu mang tính chất cận xích đạo, nhiệt độ trung bình 22,6 –
27,6
0
C, tổng số giờ nắng trên 2000giờ/năm. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng
mưa trung bình từ 1400 – 2400mm, vùng biển khu vực này thuộc bán nhật triều với
biên độ 2,5 – 3m.
Tuy nhiên, hàng năm Việt Nam chịu nhiều thiên tai do bão, lũ gây nên, điều
này có ảnh hưởng rất lớn đối với ngành khai thác và NTTS của cả nước.
1.2.2. Các điều kiện KT – XH
* Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

Đại hội Đảng VI đã đề ra mục tiêu 3 chương trình kinh tế lớn đó là: sản xuất
lương thực - thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng và sản xuất hàng xuất khẩu. Vận

số chủ trương và chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông
nghiệp, nghị quyết đã đánh giá những thành tựu trong sản xuất nông nghiệp, bao gồm
nông, lâm, thủy sản, đồng thời đưa ra những định hướng về cơ cấu kinh tế nông
nghiệp của nước ta trong 10 năm tới. Trong đó ki
nh tế thủy sản cần phát triển theo

định hướng sau: khai thác, nuôi trồng, chế biến, dịch vụ, đặc biệt là NTTS theo
hướng phát triển bền vững.
Định hướng phát triển các ngành kinh tế và các vùng trong chiến lược phát
triển KT- XH 2001-2010, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX xác định:”
Phát huy lợi thế về thủy sản, tạo thành một ngành kinh tế mũi nhọn, vươn lên hàng
đầu trong khu vực. Phát triển mạnh NTTS nước ngọt, nước lợ và nước mặn, nhất là
nuôi tôm
theo phương thức tiến bộ, hiệu quả và bền vững môi trường.
Tăng cường năng lực và nâng cao hiệu quả khai thác hải sản xa bờ; chuyển
đổi cơ cấu nghề nghiệp, ổn định khai thác gần bờ; nâng cao năng lực bảo quản, chế
biến sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế và trong nước. Mở rộng và nâng
cấp các cơ sở hạ tầng, dịch vụ nghề cá. Giữ gìn môi trường biển và sông nước, bảo
đảm
cho sự tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản”[18, tr.170].
Thực hiện chính sách này các tỉnh đã rà soát lại diện tích mặt nước, các vùng
làm lúa kém hiệu quả, các vùng đất hoang để quy hoạch, chuyển đổi, triển khai các
dự án NTTS. Từ năm 1999 đến năm 2005 tổng diện tích chuyển sang NTTS của cả
nước là 377.269 ha, trong đó chuyển đổi từ đất trồng lúa kém
hiệu quả là 346.694 ha
(chiếm 91,9%), đất cát là 1.304 ha (0,34%), đất trồng cói là 2.236 ha (chiếm 0,59%),
ruộng làm muối kém hiệu quả là 2.170 ha, đất vườn, đất hoang hóa khác là 24.862 ha.
Chỉ riêng ĐBSCL từ năm 2001 đến năm 2005 có 278.360 ha diện tích đất
chuyển đổi sang NTTS, chiếm 83,6% tổng diện tích chuyển đổi của cả nước, trong đó
chủ yếu là đất trồng lúa kém hiệu quả. Việc chuyển đổi ruộng trũng, ruộng cấy lúa 1

chương trình 224 và chương trình 112 còn được đầu tư cho quy hoạch NTTS v
à
giống thủy sản, xây dựng các khu bảo tồn biển, bảo tồn thủy sản nội địa. Tổng số vốn
đầu tư NTTS cả nước là 1.382,2 tỷ đồng, riêng ĐBSCL chiếm 27,43% tổng số vốn
đầu tư của cả nước.
Ngoài ra để bảo vệ nguồn lợi thủy sản nhằm mục đích phát triển lâu dài và
bền vững,
ngày 16/7/2004 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 131/2004/QĐ-TTg
phê duyệt chương trình bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản đến năm 2010.
Ngày 04/02/2005 Bộ trưởng Bộ thủy sản đã ban hành quyết định 219/QĐ-
BTS phê duyệt Chương trình hành động của ngành thủy sản về “Chất lượng và
thương hiệu cá tr
a, basa Việt Nam 2005-2010”. Mục tiêu của Chương trình: phấn đấu
đến năm 2010 đạt sản lượng 1 triệu tấn cá tra, basa và giá trị kim ngạch xuất khẩu các
sản phẩm từ cá tra, basa đạt 800 triệu USD, chiếm tỷ trọng trên 30% kim ngạch xuất
khẩu thủy sản của nước ta. Đây là tỷ trọng đáng kể, quyết định tới tính chủ lực xuất
khẩu của mặt hàng thủy sản Việt Nam
.

Năm 2005, Chính phủ còn ban hành 2 Nghị định có liên quan đến ngành thủy
sản đó là: Nghị định số 59/2005/NĐ-CP ngày 04/05/2005 về điều kiện kinh doanh
các ngành nghề thủy sản và Nghị định 128/2005/NĐ-CP ngày 11/10/2005 về xử lý vi
phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản đến mọi tầng lớp nhân dân.
Nhìn chung có thể khẳng định rằng, các chương trình, chính sách của chính
phủ ban hành đều có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp thúc đẩy hoạt động sản xuất
NTTS, đã đáp ứng nhu cầu phát triển NTTS của cả nước theo hướng bền vững, gắn
với bảo vệ m
ôi trường sinh thái, bảo đảm sản xuất và ổn định đời sống nhân dân.
* Nguồn nhân lực
Ngành thủy sản thu hút hơn 4 triệu lao động đang trực tiếp hoặc gián tiếp làm


số liệu thống kê cụ thể số lượng bao nhiêu ngư cụ, nhưng có thể thống kê có những
loại ngư cụ sau:
1. Lưới kéo: lưới kéo sào, lưới kéo đơn tầng đáy có tăng gông, lưới kéo đôi
tầng đáy.
2. Lưới vây.
3. Lưới rê: lưới rê tầng đáy, lưới rê 3 đáy.
4. Câu: câu tay, câu vàng.
5. Lưới vó: lưới vó xách tay, lưới vó bè, lưới vó mành, lưới dây rút chỉ 1
tàu, lưới dây rút chỉ 4 tàu, lưới pha xúc.
6. Bẫy: lưới đăng, sáo, lò, đăng, lồng bẫy.
7. Lưới chụp
8. Te đẩy
9. Nghề cào sò
Nguồn: [51] (Xem hình ảnh minh họa trong phần phụ lục).
Số lồng bè nuôi thủy sản: tính tới năm 2003 cả nước có khoảng 63.989 lồng
bè với tổng thể tích lồng nuôi là 1.681.641 m
3
. Số lồng bè này chủ yếu để nuôi một số
loài cá nước mặn, nước ngọt và đặc biệt là nuôi tôm hùm. Chỉ tính riêng năm 2005,
số bè nuôi tôm hùm là 43.510 cái, trong đó có 3.061 lồng ương tôm giống [37], [53].
Giống: sản xuất giống thủy sản trong thời gian qua có bước tiến bộ quan
trọng. Việc sản xuất thành công một số giống thủy sản đã đáp ứng cơ bản nhu cầu về
giống thủy sản. Hệ thống hạ tầng cho N
TTS từng bước được đầu tư xây dựng như:
Trung tâm quốc gia giống thủy sản, Trung tâm giống thủy sản cấp 1, Trung tâm
giống thủy sản các tỉnh, các khu sản xuất giống tập trung. Công tác sản xuất giống
thủy sản đã và đang được xã hội hoá.
Bảng 1.4. Tình hình sản xuất giống thủy sản của Việt Nam
2001 2002 2003 2004 2005

trong nước; đã nhập một số công nghệ sản xuất giống thủy sản có giá trị kinh tế cao
và chuyển giao cho các thành phần kinh tế.
- Cơ sở chế biến thủy sản
Chế biến xuất khẩu là lĩnh vực phát triển rất nhanh, Việt Nam
đã tiếp cận với
trình độ công nghệ và quản lý tiên tiến của khu vực và thế giới trong một số lĩnh vực
chế biến thủy sản. Sản phẩm thủy sản xuất khẩu đảm bảo chất lượng và có tính cạnh
tranh, tạo dựng được uy tín trên thị trường thế giới. Các cơ sở sản xuất không ngừng
được gia tăng, đầu tư, đổi mới.Tốc độ gia tăng bình quân các cơ sở chế biến giai đoạn 1996 - 1999 là 17,6%
năm. Năm 1995, ngành thủy sản Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức nghề cá
Đông Nam Á, cùng với việc mở rộng thị trường xuất khẩu đã tạo điều kiện cho ngành
công nghiệp chế biến thủy sản có chiều hướng phát triển tốt. Đến năm 2005, cả nước
có 439 nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu.
Chất lượng sản phẩm t
hủy sản không ngừng được nâng lên do các cơ sở chế
biến ngày càng hiện đại, công nghiệp tiên tiến, quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế. Từ 18
doanh nghiệp năm 1999, đến năm 2005 đã có 171 doanh nghiệp Việt Nam được đưa
vào danh sách I xuất khẩu vào EU, 295 doanh nghiệp được phép xuất khẩu vào Hàn
Quốc, 300 doanh nghiệp áp dụng qui trình quản lý chất lượng sản phẩm theo HACCP
(Hazard Analysis Crtitical Control Point - Hệ thống phân tích mối nguy và kiểm s
oát
điểm tới hạn), đủ tiêu chuẩn xuất khẩu vào thị trường Mỹ, 222 doanh nghiệp đạt tiêu
chuẩn xuất khẩu vào Trung Quốc [40].
Bên cạnh các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu
thủy sản của tư nhân phát triển mạnh trong thời gian qua, nhiều doanh nghiệp thuộc
thành phần kinh tế tư nhân đã có giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản hàng đầu, một
số doanh nghiệp chế biến xuất khẩu đã có kim ngạch xuất k

900,000
1,200,000
1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005
Năm
Diện tích (ha)
Diện tích nuôi trồng thủy sản

Biểu đồ 1.1. Diện tích NTTS của Việt Nam

Nguồn: Báo cáo hàng năm của Bộ Thủy Sản.
Trong tổng số 8 vùng kinh tế của cả nước thì ĐBSCL là vùng có nhiều lợi thế
nhất, hơn hẳn cả về diện tích và điều kiện cho việc phát triển NTTS, là nơi sản xuất ra
nhiều sản phẩm thủy sản cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu. Trong đó dẫn đầu về sản
lượng thủy sản nuôi là An Giang (180.809 tấn), Cà Mau (120.263 tấn), Bạc Liêu
(110.486 tấn).
Bảng 1.5. Diện tích mặt nước NTTS phân theo các vùng của Việt Nam
Đơn vị: nghì
n ha
Các vùng 1995 % 2000 % 2005 %
Đồng bằng sông Hồng
Đông Bắc
Tây Bắc
Bắc Trung Bộ
Duyên hải Nam Trung Bộ
Tây Nguyên
Đông Nam Bộ
ĐBSCL
58,8
23,0
3,1

44,5
5,2
48,4
21,8
8,3
55,1
680,2
9,4
4,7
0,5
5,1
2,3
0,8
5,8
71,4
Cả nước 453,6 100 641,9 100 952,6 100

Nguồn: Niên giám thống kê 2003, 2005.
* Sản lượng thủy sản
Trong cơ cấu của ngành thủy sản, mặc dù khai thác thủy sản là ngành ra đời
sớm hơn so với NTTS nhưng tốc độ phát triển của ngành NTTS thì nhanh hơn so với
khai thác thủy sản, so với năm 1995 thì năm 2005 tốc độ phát triển của ngành NTTS

Trích đoạn Quan điểm quy hoạch của tỉnh Dự báo thị trường Giải pháp về công nghệ chế biến
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status