TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ
KHOA MÁC-LÊNIN
BỘ MÔN TRIẾT HỌC
HƯỚNG DẪN ÔN TẬP
TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN
(TÀI LIỆU LƯU HÀNH NỘI BỘ)
HUẾ, 2014
1
Lời nói đầu
- Căn cứ vào thông báo số 7785/CTCT ngày 12.9.1998 của Bộ giáo dục
và Đào tạo về việc dạy và học các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh năm học 1998-1999.
- Căn cứ vào nhu cầu về tài liệu học tập của sinh viên và học viên Cao
học, nghiên cứu sinh không chuyên ngành Mác-Lênin, Bộ môn Triết học
Trường Đại học Khoa học Huế biên soạn cuốn: “Hướng dẫn ôn tập Triết học
Mác – Lênin”.
Đây là tài liệu giúp cho người học nắm được một cách có hệ thống những
nguyên lý cơ bản của Triết học Mác-Lênin và những quan điểm của Đảng ta
vận dụng vào cách mạng Việt Nam.
Tập thể tác giả xin được đón nhận sự hợp tác và những ý kiến trao đổi,
xây dựng của bạn sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh và đồng nghiệp.
Bộ môn Triết học
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ
2
Phần A
CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ THẾ GIỚI
Câu 1: Triết học là gì? Phân tích vấn đề cơ bản của triết học?
1. Khái niệm triết học:
“Triết” theo nguyên chữ Hán có nghĩa là trí (bao gồm sự hiểu biết sâu
rộng về vũ trụ và nhân sinh), theo chữ Hy Lạp là “yêu mến sự thông thái”. Khái
niệm “triết học” có những biến đổi nhất định trong lịch sử, nhưng lúc nào cũng
triển với năm hình thức lịch sử cơ bản: duy vật cổ đại (mộc mạc, chất phác),
3
duy vật tầm thường thế kỷ V-XV, duy vật cơ học máy móc thế kỷ XVII-XVIII,
duy vật siêu hình thế kỷ XIX và duy vật mác-xít (biện chứng).
Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức (tinh thần) là bản chất của thế giới,
nên ý thức là cái có trước và quyết định vật chất; còn vật chất là cái có sau, là
sự “biểu hiện” của ý thức. Chủ nghĩa duy tâm có hai hình thức cơ bản: duy tâm
chủ quan (coi ý thức là bản chất của thế giới, nhưng đó là ý thức của con người
nằm trong con người) và duy tâm khách quan (cũng coi ý thức là bản chất của
thế giới, nhưng đó là một thực thể tinh thần tồn tại bên ngoài con người và độc
lập với con người).
Nguồn gốc của chủ nghĩa duy vật: là sự phát triển của tri thức, của khoa
học; là lợi ích và cuộc đấu tranh của các giai cấp, các lực lượng xã hội tiến bộ,
cách mạng ở mỗi giai đoạn phát triển của lich sử. Nguồn gốc của chủ nghĩa duy
tâm: là sự tuyệt đối hóa một hình thức hay một giai đoạn của quá trình nhận
thức dẫn đến tách nhận thức và ý thức khỏi thế giới hiện thực khách quan;
thông thường là lợi ích và sự phản kháng của các giai cấp, các lực lượng bảo
thủ trước tiến bộ xã hội.
- Mặt thứ hai, là vấn đề về khả năng nhận thức của con người.
Toàn bộ các nhà triết học duy vật và đa số những nhà triết học duy tâm
đều thừa nhận rằng thế giới có thể nhận thức được. Nhưng các nhà duy vật cho
rằng, nhận thức là sự phản ánh thế giới vật chất khách quan trong bộ óc con
người. Còn các nhà duy tâm thì cho rằng, nhận thức chỉ là sự ý thức về bản chất
ý thức.
Trả lời vấn đề này còn có những nhà triết học theo nguyên tắc bất khả tri
(không thể biết). Những người này xuất phát từ việc tuyệt đối hóa tính tương
đối của tri thức dẫn đến phủ nhận khả năng nhận thức của con người.
- Bên cạnh những nhà triết học nhất nguyên (duy vật và duy tâm) giải
thích thế giới từ một bản nguyên, hoặc vật chất hoặc tinh thần, còn có những
nhà triết học nhị nguyên luận. Nhị nguyên luận cho rằng thế giới được sinh ra
quan (triết học Hêraclít), nhưng vẫn còn mang tính tự phát và chưa trở thành hệ
thống. Đến thế kỷ XVIII, những tư tưởng biện chứng được phục hồi và được
xây dựng thành hệ thống, đặc biệt là ở trong các học thuyết của những nhà triết
học duy tâm cổ điển Đức. Từ lúc này những tư tưởng biện chứng mới hợp thành
một phương pháp triết học đối lập với phương pháp siêu hình. Đến giữa thế kỷ
XIX, khái quát hiện thực xã hội, tổng kết những thành quả lý luận và khoa học,
Mác và Ăngghen xây dựng lại phương pháp biện chứng trên lập trường duy vật
đã sáng tạo ra phương pháp biện chứng mácxít. Phương pháp biện chứng là
cách xem xét thế giới trong mối liên hệ phổ biến quy định ràng buộc nhau và
luôn vận động và luôn phát triển.
- Sự đối lập giữa phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng diễn
ra trong cách giải quyết mọi vấn đề triết học, song có thể khái quát ở những nội
dung chính sau đây:
Thứ nhất: Phương pháp siêu hình xem xét thế giới trong trạng thái cô lập
của các sự vật hiện tượng; cái này được xét tách rời cái kia mà không thừa nhận
rằng giữa chúng có sự ràng buộc lẫn nhau. Vì vậy phương pháp siêu hình chỉ
nhìn thấy tính cá biệt mà không nắm được mối liên hệ, thấy được sự khác biệt
mà không nắm được sự thống nhất giữa các sự vật hiện tượng; chỉ thấy cái bộ
phận, cái đơn nhất, cái riêng mà không nắm được cái toàn thể, cái phổ biến, cái
chung. Trái lại, phương pháp biện chứng xem xét thế giới trong mối liên hệ,
ràng buộc giữa các yếu tố của nó và với cái khác. Vì vậy, phương pháp biện
chứng nhìn nhận sự vật toàn diện hơn, thấy được cả sự khác biệt và sự thống
nhất giữa các sự vật, hiện tượng, nắm được cả cải bộ phận và cái toàn thể, cái
đơn nhất và cái phổ biến, cái riêng và cái chung.
Thứ hai: Phương pháp siêu hình xem xét thế giới trong trạng thái tĩnh; sự
vật hiện tượng chỉ được xét như cái gì ổn định nằm ngoài sự vận động và phát
triển của chúng. Cách xem xét này cho phép phương pháp siêu hình nắm được
5
tính xác định và ổn định của sự vật, hiện tượng, nhưng mặt khác cũng dẫn đến
những sai lầm nghiêm trọng: đó là quan điểm phủ nhận sự vận động, phát triển
sản với giai cấp tư sản. Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản cùng với các mâu
thuẫn của nó, đã tạo ra một cơ sở hiện thực cho những phân tích và khái quát lý
luận trong học thuyết của Mác và Ăngghen.
Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản cùng với các mâu thuẫn của nó kéo
theo sự phát triển của phong trào công nhân. Đến cuối thế kỷ XVIII và nửa đầu
thế kỷ XIX, phong trào công nhân ở các nước Tây Âu đã có bước phát triển mới
về số lượng và chất lượng. Sự tập trung tư bản cùng với sự hình thành những
trung tâm công nghiệp lớn thu hút công nhân thành lực lượng đông đảo, mâu
thuẫn giữa lao động và tư bản trở nên gay gắt làm xuất hiện những cuộc đấu
tranh chính trị ngày càng có tổ chức và tự giác. Các cuộc khởi nghĩa của công
6
nhân ở Xilêdi (Đức), ở Liông và Pari (Pháp), phong trào Hiến chương (Anh)
vào những năm 30-40 chứng minh rằng: giai cấp công nhân trở thành lực lượng
quyết định các quá trình kinh tế-xã hội-chính trị của thời đại và bước lên vũ đài
lịch sử như một lực lượng chính trị độc lập. Phong trào công nhân thời kỳ này
làm bộc lộ sai lầm của quan niệm tư sản về sự hân hoan chung giữa lao động và
tư sản, tạo nên những thay đổi căn bản trong quan niệm về lịch sử của Mác và
Ăngghen; mặt khác, nó đề ra nhu cầu giải thích về những thực tế của cuộc đấu
tranh của giai cấp vô sản về sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản về tổ chức, con
đường và phương tiện cách mạng của giai cấp vô sản. Chủ nghĩa Mác ra đời đã
đáp ứng những đòi hỏi này.
Những phân tích và khái quát lý luận về sự phát triển của chủ nghĩa tư
bản và phong trào công nhân vào nửa đầu thế kỷ XIX là một bộ phận quan
trọng trong học thuyết của Mác và Ăngghen. Vì vậy, sự phát triển của chủ nghĩa
tư bản và phong trào công nhân thời kỳ đó là những điều kiện kinh tế-xã hội
cho sự ra đời của triết học.
* Tiền đề lý luận
- Sự ra đời của triết học Mác trước hết có kế thừa những thành quả của
triết học cổ điển Đức. Mác và Ăngghen luôn thừa nhận rằng trong sự phát triển
trí tuệ của mình, hai ông đã chịu ơn nhiều nhà triết học Đức, trong đó nổi bật là
kinh tế-chính trị học cổ điển và chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán, đã góp
phần không nhỏ cho sự hình thành và hoàn thiện thế giới quan triết học của
mình.
* Tiền đề khoa học tự nhiên
Sự ra đời triết học Mác còn được chuẩn bị bởi những thành quả của khoa
học tự nhiên. Những thành quả của khoa học tự nhiên từ cuối thế kỷ XVIII đến
đầu thế kỷ XIX làm bộc lộ những hạn chế của phương pháp tư duy siêu hình,
ngày càng chứng minh tính đúng đắn của các nguyên lý duy vật và biện chứng.
Phát hiện bằng thực nghiệm của Maye (được Lômônôxốp công bố) về sự
bảo toàn vật chất và vận động, lý luận của Cantơ về sự hình thành thái dương hệ
đã góp phần khẳng định quan điểm biện chứng về lịch sử vũ trụ và giới tự
nhiên: mặt khác đả phá quan niệm duy tâm, tôn giáo siêu hình về thế giới.
Từ những năm 30 đến 50 của thế kỷ XIX, khoa học tự nhiên đã có những
thành tựu to lớn. Thời kỳ này có ba phát minh vĩ đại đóng vai trò quan trọng
trong cuộc đấu tranh chống quan điểm siêu hình và chuẩn bị cho sự ra đời của
chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Vào những năm 40 của thế kỷ XIX phát minh ra quy luật bảo toàn và
chuyển hóa năng lượng. Quy luật này chứng minh rằng: lực cơ học, nhiệt, ánh
sáng, điện, từ các quá trình hóa học, nghĩa là các hình thức khác nhau của vận
động vật chất không tách rời nhau, mà liên hệ và chuyển hóa lẫn nhau nên
không hề mất đi. Nó chứng minh rằng không có sự sinh ra và mất đi của năng
lượng, mà chỉ có sự chuyển hóa năng lượng từ dạng này sang dạng khác. Như
vậy quy luật này là cơ sở khoa học tự nhiên cho quan điểm biện chứng về thế
giới.
Vào những năm 30 của thế kỷ XIX, khoa học tự nhiên đã phát minh ra
học thuyết cấu tạo tế bào của cơ thể sống. Học thuyết này bác bỏ quan niệm
siêu hình về sự khác biệt tuyệt đối giữa thực vật và động vật. Ngược lại, nó
khẳng định sự thống nhất về nguồn gốc và hình thái giữa thực vật và động vật,
giải thích quá trình phát triển của chúng, đặt cơ sở cho quan điểm duy vật biện
chứng về sự phát triển của toàn hệ sinh học.
triết học là một vũ khí tinh thần”. Như vậy, với sự ra đời ở triết học Mác, phong
trào vô sản đã có một bước ngoặt, từ chỗ là một phong trào tự phát, chưa có lý
luận, bị lệ thuộc vào tư tưởng, nó trở thành một phong trào tự giác, có lý luận
và độc lập về tư tưởng.
- Với sự ra đời của triết học Mác, lần đầu tiên thực tiễn trở thành phạm
trù trung tâm của triết học. Điều đó làm biến đổi tận gốc vai trò xã hội của triết
học và khắc phục được những thiếu sót căn bản của triết học trước kia. Trung
tâm chú ý của triết học Mác không chỉ là giải thích, mà còn và chủ yếu là vạch
ra con đường, những phương tiện cải tạo thế giới bằng thực tiễn cách mạng. Đối
với triết học Mác thì thực tiễn có vai trò quyết định mọi sự phát triển xã hội,
khoa học và cả triết học. Không một nhà triết học nào trước Mác hiểu được vai
trò quyết định của thực tiễn đối với lý luận và đối với toàn bộ lịch sử nhân loại.
Vì hạn chế đó, các nhà duy vật trước Mác đã rơi vào quan điểm duy tâm siêu
hình khi đề cập đến những vấn đề xã hội. Chủ nghĩa duy tâm phản ánh lợi ích
của giai cấp thống trị bảo thủ, cho nên nó xa rời thực tiễn, tách khỏi hiện thực,
làm cho quần chúng không thấy được những cơ sở vật chất của các quan hệ bóc
lột.
Chỉ ra vai trò quyết định của thực tiễn, Mác và Ăngghen cũng luôn nhấn
mạng vai trò to lớn của hoạt động tinh thần, của lý luận. Vì vậy hai ông đã phát
triển học thuyết cân đối về mối liên hệ giữa lý luận cách mạng và thực tiễn cách
9
mạng. Lý luận cách mạng có vai trò chỉ đạo thực tiễn, làm cho thực tiễn từ tự
phát thành thực tiễn cách mạng, tự giác. Khi lý luận cách mạng thâm nhập vào
quần chúng sẽ đem lại cho họ những hiểu biết quy luật của đời sống xã hội,
hướng dẫn họ thực hiện một cách tự giác những nhiệm vụ của cuộc đấu tranh
thực tiễn, lúc đó trở thành sức mạnh vật chất.
Là thế giới quan và phương pháp luận của giai cấp vô sản, triết học Mác
có sự thống nhất sâu sắc giữa tính Đảng, tính cách mạng và tính khoa học. Triết
học Mác là sự phản ánh lợi ích của giai cấp vô sản và nhân dân lao động; đồng
thời nó là lý luận cho cuộc đấu tranh của họ nhằm xóa bỏ mọi chế độ người bóc
định nghĩa này.
Tiếp thu tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, trên cơ sở khái quát những
thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, về
10
mặt triết học trên cơ sở phê phán những quan điểm duy tâm và siêu hình về vật
chất, Lênin đã đưa ra định nghĩa về vật chất như sau:
* Nội dung định nghĩa vật chất của V.I.Lênin:
“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được
đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại,
chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” (V.I.Lênin toàn tập,
T.18, NXB Tiến bộ, Matxcơva, 1980, tr.151).
* Phân tích định nghĩa vật chất của V.I.Lênin:
Trong định nghĩa trên, chúng ta cần phân tích những nội dung chủ yếu
sau đây:
a. “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách
quan…”
- “Vật chất” là một phạm trù khái quát nhất, rộng nhất của lý luận nhận
thức.
+ Phạm trù vật chất phải được xem xét dưới góc độ của triết học, chứ
không phải dưới góc độ của các khoa học cụ thể. Điều này sẽ giúp chúng ta
tránh được sai lầm khi đồng nhất phạm trù vật chất trong triết học với các khái
niệm vật chất thường dùng trong các khoa học cụ thể hoặc đời sống hằng ngày.
+ Không thể định nghĩa phạm trù vật chất theo phương pháp thông
thường. Về mặt nhận thức luận, Lênin chỉ có thể định nghĩa phạm trù vật chất
trong quan hệ với phạm trù đối lập của nó, đó là phạm trù ý thức (phương pháp
định nghĩa thông qua cái đối lập với nó). (Xem thêm chương khái niệm ở giáo
trình Lôgic hình thức)
Khi định nghĩa vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại
khách quan, Lênin đã bỏ qua những thuộc tính riêng lẻ, cụ thể, nhiều màu,
nhiều vẻ của các sự vật, hiện tượng, mà nêu bật đặc tính cơ bản nhất, phổ biến
- Khắc phục được những quan niệm trực quan, siêu hình, máy móc về vật
chất của chủ nghĩa duy vật trước Mác và những biến tướng của nó trong trào
lưu triết học tư sản hiện đại.
- Chống lại tất cả các quan điểm duy tâm và tạo ra căn cứ vững chắc để
nghiên cứu xã hội.
- Khẳng định thế giới vật chất là khách quan và vô cùng, vô tận, luôn
luôn vận động và phát triển không ngừng nên nó đã có tác dụng định hướng, cổ
vũ các nhà khoa học khi sâu vào nghiên cứu thế giới vật chất, để ngày càng làm
phong phú thêm kho tàng tri thức của nhân loại.
Câu 6: Phân tích nguồn gốc và bản chất của ý thức?
Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, ý thức của con người là sản phẩm
của quá trình phát triển tự nhiên và lịch sử-xã hội. Do đó, muốn hiểu được
nguồn gốc và bản chất của ý thức, cần phải xem xét trên cả mặt tự nhiên và xã
hội.
I. Nguồn gốc ý thức:
1. Nguồn gốc tự nhiên:
a. Ý thức là thuộc tính phản ánh của một dạng vật chất có tổ chức cao là
bộ não người.
- Phản ánh là thuộc tính chung của vật chất. Phản ánh đó là năng lực giữ
lại, tái hiện lại của hệ thống vật chất này những đặc điểm của hệ thống vật chất
khác và ngược lại. Nó được thực hiện trong sự tác động qua lại giữa các hệ
thống vật chất.
12
- Thuộc tính phản ánh của vật chất có quá trình phát triển từ thấp đến cao,
từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn chỉnh đến ngày càng hoàn thiện hơn.
+ Phản ánh của giới vô sinh. Phản ánh này đơn giản, thụ động, không có
chọn lọc.
+ Trên cơ sở phản ánh của thế giới vô sinh xuất hiện một hình thức phản
ánh mới cao hơn về chất, đó là phản ánh của giới hữu sinh. Hình thức phản ánh
này gắn liền với quá trình chuyển hóa từ giới vô sinh qua giới hữu sinh. Hình
phát triển.
13
- Lao động ngay từ đầu đã liên kết mọi thành viên trong xã hội với nhau,
làm nảy sinh ở họ nhu cầu giao tiếp. Vì vậy, ngôn ngữ ra đời và không ngừng
phát triển cùng với lao động.
b. Ngôn ngữ:
- Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu thứ hai, là “vỏ vật chất” của tư duy, là
phương tiện, là công cụ để con người giao tiếp trong xã hội, phản ánh khái quát
sự vật, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và trao đổi chúng giữa các thế hệ.
- Ý thức là một hiện tượng xã hội, do đó, nếu không có ngôn ngữ thì ý
thức không thể hình thành và phát triển được.
- Chính vì vậy, Ph.Ăngghen đã khẳng định rằng: “Sau lao động, đồng
thời với lao động là ngôn ngữ, đó là hai sức kích thích chủ yếu của sự chuyển
biến bộ não của loài vật thành bộ não của con người, tâm lý động vật thành ý
thức” (Ph.Ăngghen: Biện chứng của tự nhiên, NXB Sự thật, Hà Nội,1974, tr.
257)
II. Bản chất của ý thức:
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, ý thức là sự phản ánh
thế giới khách quan vào bộ não người thông qua hoạt động thực tiễn, nên bản
chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh
sáng tạo, tích cực và chủ động về thế giới khách quan. Đó chính là sự khác biệt
rất cơ bản của ý thức con người so với tâm lý động vật và sự “suy nghĩ” của
máy móc.
Phản ánh của ý thức là sáng tạo, vì nó bao giờ cũng do nhu cầu thực tiễn
quy định. Song, sự sáng tạo của ý thức là sự sáng tạo của sự phản ánh, trong
khuôn khổ và theo tính chất của quy luật phản ánh.
Con người khác với động vật là thông qua hoạt động thực tiễn có mục
đích, có định hướng, tác động vào sự vật, hiện tượng trong thế giới, buộc chúng
phải bộc lộ đặc tính, kết cấu, quy luật lao động để phản ánh và nhận thức. Khi
con người nhận thức được quy luật, thì con người vận dụng tri thức đó vào việc
hàm nhiều hình thức vận động trong sự liên hệ tác động qua lại, nhưng bao giờ
cũng được đặc trưng bởi một hình thức vận động cơ bản xác định. Ví dụ, trong
cơ thể sống bao gồm các hình thức vận động cơ học, lý học, hóa học, sinh học,
song hình thức vận động sinh học là hình thức đặc trưng cơ bản quy định sự
khác nhau giữa cơ thể sống với những dạng vật chất khác.
d. Vận động và đứng im.
Trong khi coi vận động là thuộc tính bên trong vốn có của vật chất, chủ
nghĩa duy vật không phủ nhận sự đứng im, mà coi đứng im như một trường hợp
riêng của vận động. Không có đứng im tương đối thì không thể hình thành các
sự vật, hiện tượng riêng lẻ, cụ thể.
Vận động là tuyệt đối, đứng im là tương đối. Đứng im là tương đối bởi
vì:
- Hiện tượng đứng im chỉ xảy ra trong một quan hệ nhất định chứ không
phải trong mọi quan hệ cùng một lúc.
- Đứng im chỉ xảy ra đối với một hình thức vận động trong một lúc nào
đó, chứ không phải đối với tất cả mọi hình thức vận động trong cùng một lúc.
- Đứng im chỉ là biểu hiện của một trạng thái vận động: vận động trong
thăng bằng, trong sự ổn định tương đối, khi nó còn là nó mà chưa chuyển thành
cái khác.
- Vận động tuyệt đối. Do đó, nó làm cho sự vật, hiện tượng không ngừng
biến đổi, làm cho sự đứng im tương đối luôn luôn bị phá vỡ. Đứng im chỉ là
15
tạm thời vì: vận động cá biệt có xu hướng trở thành cân bằng, vận động toàn bộ
lại có xu hướng phá vỡ sự cân bằng riêng biệt đó.
Tóm lại, vận động là tuyệt đối, vĩnh viễn, đứng im là tương đối, tạm thời,
vật chất không thể nào tồn tại như thế nào khác ngoài cách vận động và vật chất
đang vận động đó không thể vận động như thế nào khác ngoài vận động trong
không gian và thời gian, vật chất vận động là vô tận nên không gian và thời
gian vật chất cũng vô tận.
Câu 8: Phân tích quan điểm của triết học Mác-Lênin mối quan hệ
3. Ý nghĩa phương pháp luận:
- Nếu vật chất là nguồn gốc khách quan, là cơ sở sản sinh ra ý thức; còn ý
thức là sản phẩm, là sự phản ánh thế giới khách quan thì trong nhận thức và
hành động, con người phải xuất phát từ hiện thực khách quan, tôn trọng và hành
động theo quy luật khách quan, chống lại chủ nghĩa chủ quan duy ý chí.
- Ý thức có tính độc lập tương đối, tác động trở lại vật chất thông qua
hoạt động thực tiễn. Do đó, cần phải phát huy tính tích cực của ý thức đối với
vật chất bằng cách nâng cao năng lực nhận thức các quy luật khách quan và vận
động chúng vào trong hoạt động thực tiễn của con người. Sức mạnh ý thức của
con người không phải ở chỗ tách rời điều kiện vật chất mà là biết dựa vào đó,
phản ánh đúng quy luật khách quan để cải tạo thế giới khách quan.
- Chúng ta phải chống lại bệnh chủ quan duy ý chí cũng như thái độ tiêu
cực, thụ động.
Xuất phát từ ý nghĩa đó, Đảng ta đã chỉ rõ một trong những điều kiện cơ
bản để đảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn của mình là phải “luôn luôn xuất phát từ
thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan”, (Đảng Cộng sản
Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội.
1986, tr.30)
Câu 9: Phân tích nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và
rút ra ý nghĩa phương pháp luận
- Phép siêu hình không thừa nhận mối liên hệ phổ biến của thế giới. Theo
quan điểm này, sự vật hiện tượng trong thế giới về cơ bản không có sự liên hệ,
ràng buộc, quy định lẫn nhau. Cho nên đối với phép siêu hình, thế giới chỉ là
một tập hợp rời rạc các sự vật cô lập nhau. Cách nhìn ấy không cho phép chúng
ta vạch ra cái chung, cái bản chất và quy luật của các sự vật hiện tượng.
- Trái với quan điểm siêu hình, phép biện chứng duy vật thừa nhận mối
liên hệ phổ biến của các sự vật, hiện tượng trong thế giới và coi đó là nguyên lý
cơ bản của nó. Khái niệm liên hệ nói lên sự quy định, ảnh hưởng, ràng buộc, tác
động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng và quá trình. Phép
biện chứng duy vật phát biểu rằng: mọi sự vật, hiện tượng quá trình muôn vẻ
diện đòi hỏi chúng ta khi phân tích sự vật phải đặt nó trong mối liên hệ với sự
vật hiện tượng khác; phải xem xét tất cả các mặt, các yếu tố, kể cả khâu trung
gian, gián tiếp của chúng. Chỉ có như vậy, chúng ta mới nắm bắt được một cách
đầy đủ bản chất của sự vật, tránh được những kết luận phiến diện chủ quan, vội
vàng.
Tuy nhiên quan điểm toàn diện không có nghĩa là cách xem xét cào bằng,
tràn lan mà phải thấy được tính chất, vị trí của từng mối liên hệ, từng mặt, từng
yếu tố trong tổng thể của chúng. Như vậy, quan điểm toàn diện bao hàm quan
điểm lịch sử cụ thể. Quan điểm này đòi hỏi, phải xét sự vật trong từng liên hệ
cụ thể của nó, gắn với những tính chất, vị trí cụ thể của mối liên hệ cụ thể đó;
phải biết phân loại các liên hệ của sự vật để nắm lấy cái cơ bản, cái có tính quy
luật của nó; đồng thời phải xét cả những điều kiện cụ thể của sự vật trong đó
xuất hiện từng liên hệ quy định từng tính chất và xu hướng cụ thể của nó. Từ đó
mà tìm ra những phương thức cụ thể để tác động đến sự vật.
Câu 10: Phân tích nội dung của nguyên lý về sự phát triển và rút ra ý
nghĩa phương pháp luận
- Trong phép biện chứng duy vật, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
thống nhất hữu cơ với nguyên lý về sự phát triển, bởi vì liên hệ tức là vận động,
mà không có vận động thì không có sự phát triển. Nhưng “vận động” và “phát
triển” là hai khái niệm khác nhau. Khái niệm “vận động” khái quát mọi sự biến
đổi nói chung, không tính đến xu hướng và kết quả của những biến đổi ấy như
thế nào. Sự vận động diễn ra không ngừng trong thế giới và có nhiều xu hướng.
18
Khái niệm “phát triển” không khái quát mọi sự biến đổi nói chung; nó chỉ
là khái quát những vận động đi lên, cái mới ra đời thay thế cho cái cũ. Tiêu
chuẩn để xác định sự phát triển là có xuất hiện “cái mới” trong những biến đổi
của sự vật hiện tượng. Sự phát triển trong thế giới theo các chiều hướng cơ bản
sau: phát triển về trình độ (từ thấp đến cao), phát triển về cấu trúc (từ đơn giản
đến phức tạp), phát triển về bản chất (từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn).
Sự phân biệt đó về các chiều hướng chỉ là tương đối, một sự phát triển thường
luật và xu hướng của chúng phải có quan điểm phát triển, khắc phục tư tưởng
bảo thủ trì trệ.
Quan điểm này yêu cầu khi phân tích sự vật phải xét nó như một quá
trình; đặt nó trong sự vận động, sự phát triển mới nắm được quy luật và những
xu hướng của nó. Quan điểm phát triển còn bao hàm yêu cầu xét sự vật trong
từng giai đoạn cụ thể của nó nhưng không được tách rời với các giai đoạn khác
19
mà phải liên hệ chúng với nhau mới có thể nắm được logic của toàn bộ tiến
trình vận động sự vật. Quan điểm phát triển cũng đòi hỏi tinh thần lạc quan tích
cực trong thực tiễn, khắc phục mọi sụ trì trệ bảo thủ.
Câu 11: Phân tích nội dung quy luật thống nhất và đấu tranh của các
mặt đối lập - ý nghĩa phương pháp luận của việc nghiên cứu quy luật này
trong hoạt động thực tiễn.
I. Nội dung quy luật:
- Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (còn gọi là quy
luật mâu thuẫn) là quy luật quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật, là
“hạt nhân của phép biện chứng”. Bởi vì nó vạch ra nguồn gốc, động lực bên
trong của sự vận động và phát triển.
- Khái quát nội dung quy luật:
Mọi sự vật, hiện tượng đều bao hàm mâu thuẫn bên trong. Mỗi sự vật,
hiện tượng đều là thống nhất của các mặt, các thuộc tính, các khuynh hướng
đối lập nhau. Chính sự đấu tranh của các mặt đối lập đó làm cho sự vật, hiện
tượng vận động, phát triển.
- Phân tích nội dung quy luật:
1. Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan và phổ biến.
- “Mặt đối lập”?
Mặt đối lập là những mặt có khuynh hướng thay đổi, phát triển chống đối
nhau, trái ngược nhau trong một chỉnh thể làm nên sự vật hiện tượng.
Mỗi sự vật, hiện tượng có thể có nhiều yếu tố, nhiều mặt, cấu thành,
nhưng có hai mặt đối lập cơ bản thống nhất với nhau quyết định kết cấu tạo
vật, hiện tượng khác cao hơn, hoàn thiện hơn, mới hơn về chất ra đời.
Đối lập
Sự khác nhau
căn bản
Sự khác nhau
Chuyến hóa
Các
giai
đoạn
phát
triển
Khuynh
hướng
phát
triển
21
Hệ thống sự vật,
hiện tượng mới
Sự vật, hiện tượng (hệ thống cũ)
S.1 Quá trình phát triển của một mâu thuẫn.
Đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối vì: trong mọi sự vật hiện tượng
đều có mâu thuẫn và mâu thuẫn quán xuyến từ đầu đến cuối quá trình phát triển
của sự vật. Tính tuyệt đối của sự đấu tranh của các mặt đối lập nói lên sự vận
động, sự biến đổi liên tục của sự vật, hiện tượng. Đấu tranh của các mặt đối lập
là điều kiện quan trọng nhất, có tính quyết định đối với sự chuyển hóa của các
mặt đối lập.
- Đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực bên trong của sự
vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng.
3. Sự chuyển hóa của các mặt đối lập.
- Sự chuyển hóa của các mặt đối lập là kết quả của quá trình đấu tranh
22
định đến sự vận động, phát triển của sự vật hiện tượng ở mỗi giai đoạn phát
triển.
Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng (loại mâu thuẫn này
chỉ có trong lĩnh vực đời sống xã hội): Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa
các giai cấp có lợi ích cơ bản đối lập nhau. Mâu thuẫn này chỉ được giải quyết
thông qua cách mạng xã hội. Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa các
giai tầng có lợi ích cơ bản không đối lập nhau. Mâu thuẫn này được giải quyết
bằng phương pháp hòa bình thông qua giáo dục và đổi mới xã hội.
II. Ý nghĩa phương pháp luận:
- Quy luật mâu thuẫn đem lại phương pháp khoa học cho việc xem xét và
giải quyết các vấn đề: phương pháp phân tích và giải quyết mâu thuẫn.
- Phải thừa nhận tính khách quan của mâu thuẫn. Yêu cầu này đòi hỏi
chúng ta, muốn nắm được bản chất của sự vật, hiện tượng cần phải biết phân
tích các mặt đối lập của mâu thuẫn.
- Phải biết phân tích cụ thể một mâu thuẫn cụ thể và phải có biện pháp cụ
thể để giải quyết đối với từng loại mâu thuẫn.
- Phải nắm vững nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn: Bất kỳ mâu thuẫn nào,
bất kỳ giai đoạn nào của mâu thuẫn, cũng chỉ được giải quyết bằng con đường
đấu tranh giữa các mặt đối lập, chứ không phải bằng con đường điều hòa giữa
chúng.
Câu 12: Phân tích nội dung quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến
những thay đổi về chất và ngược lại. Ý nghĩa phương pháp luận của việc
nghiên cứu quy luật này trong hoạt động thực tiễn.
I. Nội dung quy luật:
Mỗi sự vật, hiện tượng là sự thống nhất giữa hai mặt: chất lượng (chất)
và số lượng (lượng). Từ những thay đổi dần dần về lượng dẫn sẽ đến những
thay đổi về chất và ngược lại; là cách thức của sự vận động và phát triển.
1. Khái niệm chất và lượng
a. Khái niệm chất:
biến thành cái khác. Trong giới hạn “độ” lượng biến đổi nhưng chưa dẫn đến
chuyển hóa về chất.
- Độ cũng biến đổi khi những điều kiện tồn tại của sự vật, hiện tượng
biến đổi.
b. Những hình thức biến đổi từ lượng dẫn đến sự biến đổi về chất.
Ranh giới của lượng do chất quy định, nhưng sự chuyển hóa thì bao giờ
cũng bắt đầu từ sự thay đổi về lượng. Các hình thức cơ bản của sự chuyển hóa:
+ Tăng lên hoặc giảm đi đơn thuần về mặt số lượng
+ Sự dung hợp của nhiều lực lượng thành một hợp lực về căn bản khác
với tổng số những lực lượng cá biệt.
+ Thay đổi về kết cấu, tổ chức, qui mô của sự vật, hiện tượng.
- Khi lượng thay đổi vượt quá giới hạn của độ thì dẫn đến thay đổi về
chất. Sự thay đổi về chất được gọi là bước nhảy (có 4 loại bước nhảy cơ bản:
bước nhảy toàn phần, bước nhảy cục bộ, bước nhảy dần dần, bước nhảy đột
biến), đó là bước ngoặt căn bản trong sự biến đổi dần dần về lượng.
- Giới hạn mà ở đó xảy ra bước nhảy được gọi là điểm nút.
- Sự chuyển hóa đòi hỏi phải có điều kiện.
24
c. Ảnh hưởng của chất mới đối với sự biến đổi của lượng
Khi chất mới ra đời nó tạo ra một lượng mới phù hợp với nó để có một sự
thống nhất mới giữa chất và lượng. Sự quy định này được biểu hiện ở qui mô và
nhịp điệu phát triển mới của lượng.
Tóm lại, quy luật lượng-chất chỉ ra cách thức biến đổi sự vật, hiện tượng.
Đó là quá trình tác động lẫn nhau giữa hai mặt: chất và lượng. Lượng biến đổi
mâu thuẫn với chất cũ, chất mới ra đời với lượng mới. Lượng mới lại tiếp tục
biến đổi đến giới hạn nào đó lại phá vỡ chất đang kìm hãm nó, tạo nên chất mới
với lượng mới. Như vậy phát triển là quá trình vô hạn, vừa mang tính liên tục
(biểu hiện ở sự biến đổi của lượng) vừa có tính gián đoạn (biểu hiện ở sự thay
đổi về chất).
II. Ý nghĩa phương pháp luận: